Áp dụng văn bản pháp luật để xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở quyền sử dụng đất khi nhà ở và quyền sử đụng đất đều có giấy chứng nhận sở hữu
Hiện nay các văn bản pháp luật như Luật Đất đai ngày 26/11/2003, Bộ luật dân sự ngày 14/6/2005 và Luật Nhà ở ngày 29/11/2005, quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất khác nhau, nên trong quá trình tổ chức thi hành án phát sinh những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của pháp luật để xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản là quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất, cụ thể:
1. Thực trạng xung đột pháp luật thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất:
* Điều 168 (Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản) – Bộ Luật Dân sự ngày 14/6/2005 quy định:
1. Việc chuyển quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản có hiệu
lực kể từ thời điểm động sản được chuyển giao, trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác.
* Điều 692 (Hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất) – Bộ Luật dân sự ngày 14/6/2005 quy định:
Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
* Điều 46 (Đăng ký quyền sử dụng đất ) – Luật Đất đai ngày 26/11/2003 quy định:
Việc đăng ký quyền sử dụng đất được thực hiện tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:
1. Người đang sử dụng đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
2. Người sử dụng đất thực hiện quyền chuyển đổi,
chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng
đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định
của Luật này;
3. Người nhận chuyển quyền sử dụng đất;
4. Người sử dụng đất đã có giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đổi tên, chuyển
mục đích sử dụng đất, thay đổi thời hạn sử dụng đất hoặc có thay đổi
đường ranh giới thửa đất;
5. Người được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định
của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án,
quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền đã được thi hành.
* Khoản 4, Điều 146 (Hợp đồng về quyền sử dụng
đất) – Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/11/2004 của Chính phủ về thi
hành Luật Đất đai:
Hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, thuê lại
quyền sử dụng đất; hợp đồng hoặc văn bản tặng cho quyền sử dụng đất; hợp
đồng thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.
Thứ tự ưu tiên thanh toán nghĩa vụ liên quan đến quyền sử dụng đất được
xác định theo thứ tự đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.
* Khoản 5, Điều 93 (Trình tự, thủ tục trong giao dịch về nhà ở) – Luật Nhà ở ngày 29/11/2005 quy định:
Bên mua, bên nhận tặng cho, bên đổi, bên được thừa kế
nhà ở có trách nhiệm nộp hồ sơ để được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu
nhà ở theo trình tự quy định tại Điều 16 của Luật này, trừ trường hợp
bên bán nhà ở là tổ chức có chức năng kinh doanh nhà ở hoặc các bên có
thỏa thuận khác. Quyền sở hữu nhà ở được chuyển cho bên mua, bên nhận
tặng cho, bên thuê mua, bên nhận đổi nhà ở kể từ thời điểm hợp đồng
được công chứng đối với giao dịch về nhà ở giữa cá nhân với cá nhân
hoặc đã giao nhận nhà ở theo thỏa thuận trong hợp đồng đối với giao dịch
về nhà ở mà một bên là tổ chức kinh doanh nhà ở hoặc từ thời điểm mở
thừa kế trong trường hợp nhận thừa kế nhà ở.
2. Áp dụng văn bản pháp luật để xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất:
Để việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu tài
sản là nhà ở và quyền sự dụng đất trong trường hợp có xung đột pháp luật
như trên trong quá trình tổ chức thi hành án, theo quan điểm của tôi
cần thực hiện như sau:
Đối tài sản là đất và nhà ở xây dựng trên đất:
1. Đối với nhà ở xây dựng trên đất mà đã có giấy
chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất) thì thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản (nhà và đất) được xác
định kể từ thời điểm hợp đồng được công chứng đối với giao dịch về nhà ở
theo quy định tại Điều 93 - Luật Nhà ở ngày 29/11/2005.
2. Đối với nhà ở xây dựng trên đất đã có giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất (nhà chưa có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở)
thì thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản (nhà và đất) được xác định kể
từ thời điểm đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất theo quy
định của Điều 168 – Bộ Luật Dân sự ngày 14/6/2005, Điều 46 – Luật Đất
đai ngày 26/11/2003 và khoản 4, Điều 146 – Nghị định số 181/2004/NĐ-CP
ngày 29/11/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai.
3. Đối với nhà ở và đất ở đã có giấy chứng nhận quyền
sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất thì thời điểm chuyển quyền sở hữu tài
sản (nhà và đất) được xác định như sau:
Căn cứ khoản 3 – Điều 83 (Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật) – Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 03/6/2008 quy định: “…Trong
trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành
mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn
bản được ban hành sau…”
Như vậy, Bộ Luật dân sự ban hành ngày 14/6/2005, Luật
Đất đai ban hành ngày 26/11/2003 và Luật Nhà ở ban hành ngày 29/11/2005
(đều do Quốc hội ban hành) và Luật Nhà ở là văn bản luật được ban hành
sau cùng nên việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản là nhà ở
và đất ở đã có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất
được áp dụng theo quy định tại Điều 93 - Luật Nhà ở là kể từ thời điểm hợp đồng được công chứng đối với giao dịch về nhà ở.
Đối với tài sản là quyền sử dụng đất (không có nhà trên đất):
Thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản là quyền sử
dụng đất được xác định kể từ thời điểm đăng ký tại Văn phòng đăng ký
quyền sử dụng đất theo quy định của Điều 168 – Bộ Luật Dân sự ngày
14/6/2005, Điều 46 – Luật Đất đai ngày 26/11/2003 và khoản 4, Điều 146 –
Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/11/2004 của Chính phủ về thi hành
Luật Đất đai.
Xin trao đổi cùng các đồng nghiệp về hướng giải quyết như trên./.
SOURCE: TÁC GIẢ CUNG CẤP - CHÂU VŨ – Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Theo: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------