Bàn về căn cứ miễn trừ đối với các giao dịch mua bán, sáp nhập doanh nghiệp bị cấm theo pháp luật cạnh tranh
Cùng với kiểm soát các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền, các qui định kiểm soát tập trung kinh tế (trong đó bao gồm các hành vi mua bán, sáp nhập doanh nghiệp) đã hình thành nên một bộ phận quan trọng trong pháp luật cạnh tranh.
Đặt vấn đề
Cùng với kiểm soát các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh,
lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền, các qui định kiểm soát
tập trung kinh tế (trong đó bao gồm các hành vi mua bán, sáp nhập doanh
nghiệp) đã hình thành nên một bộ phận quan trọng trong pháp luật cạnh
tranh. Bởi vì các qui định kiểm soát các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh cho dù được thiết lập một cách chặt chẽ và tinh vi đến đâu thì
cũng sẽ trở nên vô nghĩa khi các bên tham gia thỏa thuận tập trung kinh
tế lẩn tránh sự điều chỉnh của pháp luật bằng cách hợp nhất, sáp nhập.
Do vậy, việc thiết lập chế định kiểm soát các hành vi mua bán, sáp nhập
doanh nghiệp với tư cách là một bộ phận của pháp luật kiểm soát tập
trung kinh tế tranh là một điều không có hề có sự bàn cãi. Tuy nhiên,
bên cạnh những tác động tiêu cực đến môi trường cạnh tranh hành vi mua
bán, sáp nhập doanh nghiệp còn được nhìn nhận ở những tác động tích cực
nhất định của chúng đối với việc phát triển kinh tế cũng như nâng cao
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt nam trong quá trình hội nhập.
Có một thực tế là vấn đề miễn trừ được qui định trong pháp luật cạnh
tranh đối với những giao dịch mua bán, sáp nhập doanh nghiệp mang ý
nghĩa có lợi không được qui định một cách rõ ràng trong pháp luật cạnh
tranh với tư cách là đạo luật trực tiếp điều chỉnh đối với các hành vi
này. Từ đó đặt ra nhu cầu cần phải nhìn nhận lại vấn đề này về mặt lí
luận cũng như thực tiễn áp dụng.
Cơ sở lí luận của cơ chế miễn trừ đối với các giao dịch mua bán, sáp nhập doanh nghiệp bị cấm
Dưới góc độ của pháp luật doanh nghiệp sáp nhập doanh nghiệp được nhìn nhận bằng việc một
hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có
thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập)
bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp
sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị
sáp nhập[1]. Quyền tự do kinh doanh thừa nhận khả năng doanh
nghiệp được phép hoạt động trong những ngành nghề, lĩnh vực mà pháp luật
không cấm cũng như thừa nhận cho doanh nghiệp quyền được tự chủ trong
quá trình hoạt động của mình. Có nhiều lí do để các doanh nghiệp cân
nhắc đến việc tiến hành một giao dịch sáp nhập. Trong giao dịch sáp
nhập, ngoài việc phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật doanh nghiệp, các
doanh nghiệp liên quan còn phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật cạnh
tranh với tư cách là mảng pháp luật kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh
tranh.
Lí do đặt ra khi tiến hành các giao dịch mua bán,
sáp nhập, các doanh nghiệp tham gia vào giao dịch đã làm thay đổi cấu
trúc cạnh tranh trên thị trường. Kết quả là số lượng doanh nghiệp trên
thị trường bị giảm xuống. Mặt khác hành vi sáp nhập doanh nghiệp sẽ làm
hình thành nên một doanh nghiệp có tiềm lực bằng tổng các doanh nghiệp
tham gia sáp nhập cộng lại. Cũng chính vì vậy, nhằm bảo đảm cho cấu trúc
cạnh tranh của thị trường, phải đặt ra nhu cầu kiểm soát các hành vi
mua bán, sáp nhập doanh nghiệp.
Cụ thể, theo qui định tại điều 18 của luật cạnh tranh “Cấm
tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia
tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan”. Như vậy, yếu tố thị phần là yếu tố duy nhất để xem xét một giao dịch mua bán sáp nhập có phải là giao dịch bị cấm hay không.
Nhưng không phải mọi trường hợp các giao dịch mua
bán, sáp nhập doanh nghiệp đều có hại cho cạnh tranh trên thị trường mà
trong một số trường hợp những giao dịch này cũng mang lại những lợi ích
nhất định. Những lợi ích đó có thể là kết quả của các giao dịch mua bán,
sáp nhập doanh nghiệp góp phần giúp cho một bên của giao dịch thoát
khỏi nguy cơ bị phá sản, hoặc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp quốc nội trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế…Tuy vậy cần
phải thấy là việc cân nhắc giữa tác hại và lợi ích mà các giao dịch mua
bán, sáp nhập doanh nghiệp mang lại phải đặt trong tương quan với chính
sách cạnh tranh và điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia trong từng giai
đoạn nhất định. Trên tinh thần đó, pháp luật cạnh tranh qui định các
giao dịch mua bán sáp nhập doanh nghiệp mặc dù rơi vào trường hợp bị cấm
nhưng nếu thỏa mãn những điều kiện do luật cạnh tranh qui định thì có
thể được xem xét để được miễn trừ. Các trường hợp miễn trừ theo qui định
của pháp luật cạnh tranh Việt nam đối với các giao dịch mua bán, sáp
nhập doanh nghiệp bị cấm đó là:
1. Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản;
2. Việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế – xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ[2]
Tuy vậy cần phải thấy rằng cơ chế miễn trừ không
đương nhiên áp dụng đối với các giao dịch mua bán sáp nhập doanh nghiệp
bị cấm khi các giao dịch này thỏa mãn các điều kiện được qui định tại
điều 19 của luật cạnh tranh. Đó chỉ là những tiêu chí để cơ quan cạnh
tranh của Việt nam xem xét khi có đơn xin hưởng miễn trừ của các doanh
nghiệp. Vấn đề tưởng chừng như rất rõ ràng, nhưng trên thực tế, với các
tiêu chí được qui định tại điều 19 luật cạnh tranh đã tạo ra rất nhiều
khó khăn cho cả doanh nghiệp và cơ quan cạnh tranh trong quá trình áp
dụng cơ chế miễn trừ đối với các giao dịch mua bán, sáp nhập doanh
nghiệp bị cấm. Cụ thể:
Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản
Điều kiện để xem xét cho phép doanh nghiệp được hưởng
miễn trừ trong trường hợp này đó là một hoặc nhiều bên tham gia vào
giao dịch mua bán, sáp nhập doanh nghiệp phải đang trong nguy cơ bị giải
thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản. Vấn đề đặt ra là thế nào là nguy
cơ bị giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản? Pháp luật cạnh tranh hầu
như không có qui định nào để giải thích cho hai khái niệm trên.
Theo qui định tại điều 157 luật doanh nghiệp 2005,
giải thể doanh nghiệp có hai trường hợp là giải thể tự nguyện hoặc giải
thể bắt buộc. Nhưng cho dù là giải thể tự nguyện hay giải thể bắt buộc
thì điều kiện đặt ra là doanh nghiệp phải có khả năng thanh toán được
các nghĩa vụ tài chính của mình[3]. Đây cũng chính là một trong những
yếu tố để phân biệt giữa giải thể và phá sản doanh nghiệp. Theo đó doanh
nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến
hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản[4].
Nói cách khác, theo qui định của pháp luật doanh
nghiệp, việc giải thể doanh nghiệp có thể xuất phát từ nhiều lí do.
Nhưng chung qui lại, việc giải thể doanh nghiệp hầu như không liên quan
một cách trực tiếp đến tài chính của doanh nghiệp. Nhưng luật cạnh tranh
2004 không có một định nghĩa hoặc giải thích rõ ràng hơn về khái niệm
“nguy cơ bị giải thể”. Nếu phân tích theo tư duy logic thì khoản 1 điều
19 luật cạnh tranh đang đề cập đến tình trạng tài chính bị mất cân đối ở
doanh nghiệp tham gia vào giao dịch mua bán, sáp nhập. Xuất phát từ đó,
người ta nhìn nhận rằng nếu không có giao dịch mua bán hợp nhất này thì
doanh nghiệp đó phải chấm dứt hoạt động (thông qua việc giải thể hoặc
phá sản). Cơ sở để được hưởng miễn trừ trong trường hợp này xuất phát
từ:
Một là: doanh nghiệp này đang nằm trong nguy
cơ bị giải thể hoặc phá sản. Nói cách khác, khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp này trên thị trường liên quan hầu như là không đáng kể. Cho
nên việc có sáp nhập hay không sáp nhập thì cũng không làm thay đổi cấu
trúc cạnh tranh trên thị trường một cách đột ngột.
Hai là: Với việc cho phép doanh nghiệp được
tiến hành các giao dịch mua bán, sáp nhập doanh nghiệp đang nằm trong
nguy cơ giải thể hoặc phá sản có thể không phải chấm dứt sự tồn tại. Vì
thế quyền lợi cho các đối tác, chủ nợ, người lao động của doanh
nghiệp…sẽ không bị tác động lớn như trong trường hợp doanh nghiệp bị phá
sản.
Nhưng luật cạnh tranh không có một chỗ nào thể hiện
một cách minh thị cho suy luận trên. Khi xem xét áp dụng miễn trừ, một
nguyên tắc đặt ra là cơ quan có thẩm quyền phải tuân thủ qui định của
pháp luật. Trong trường hợp này, theo qui định của luật ban hành văn bản
qui phạm pháp luật, rõ ràng khái niệm doanh nghiệp rơi vào tình trạng
giải thể phải được hiểu theo qui định của điều 157 luật doanh nghiệp[5]
tức là việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp không xuất phát một
cách trực tiếp từ nguyên nhân tình trạng tài chính của doanh nghiệp.
Trong trường hợp này, về mặt lí luận rất khó lí giải cho nguyên do được
hưởng miễn trừ của doanh nghiệp khi doanh nghiệp thực hiện các giao dịch
mua bán sáp nhập doanh nghiệp nhưng lại rơi vào các trường hợp bị cấm
theo pháp luật cạnh tranh.
Việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế – xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ
Theo đó, để có thể được hưởng cơ chế miễn trừ các bên
có liên quan phải chứng minh rằng kết quả của giao dịch mua bán sáp
nhập có tác dụng tốt đối với xã hội thông qua việc mở rộng xuất khẩu
hoặc phát triển kinh tế xã hội hoặc góp phần phát triển tiến bộ khoa học
kĩ thuật.
Có hai nhận xét xoay quanh qui định này:
Một là với tư cách là cơ sở để áp dụng miễn trừ đối
với các giao dịch mua bán, sáp nhập doanh nghiệp bị cấm nhưng lại thiếu
đi các tiêu chí cụ thể để áp dụng trên thực tế. Về mặt câu chữ, thì có
cảm giác khoản 2 điều 19 rất dễ hiểu, nhưng khi áp dụng vào thực tế các
bên có liên quan sẽ rất khó khăn trong việc lí giải thế nào là có tác
dụng mở rộng xuất khẩu. Giả sử các bên tham gia vào giao dịch mua bán
sáp nhập đều là những doanh nghiệp chuyên kinh doanh mặt xuất khẩu thì
liệu thị phần kết hợp của các bên sau khi sáp nhập có phải là một sự mở
rông xuất khẩu hay không? Tương tự như vậy, cũng sẽ rất khó khăn khi
phải giải thích thế nào là góp phần phát triển kinh tế-xã hội, tiến bộ
kỹ thuật công nghệ.
Hai là kết quả của việc thiếu vằng hệ thống các tiêu
chí để lượng hóa các trường hợp miễn trừ các giao dịch mua bán sáp nhập
doanh nghiệp theo qui định tại khoản 2 điều 29 dễ dẫn đến một trong hai
khuynh hướng sau trong cách hành xử của cơ quan cạnh tranh với các bên
có liên quan trong việc xem xét cho hưởng miễn trừ đối với các giao dịch
mua bán, sáp nhập doanh nghiệp bị cấm: 1) Dễ dãi trong việc cho hưởng
miễn trừ, 2) Không cho hưởng miễn trừ mặc dù có thể giao dịch mua bán
sáp nhập có nhiều lợi ích đối với nền kinh tế hơn là những tác hại mà
chúng mang lại.
Một số kiến nghị
Như trên đã phân tích, các tiêu chí hưởng miễn trừ có
vai trò rất quan trọng trong việc kiểm soát tập trung kinh tế nói chung
và trong các giao dịch mua bán, sáp nhập nói riêng. Bởi vì nó không chỉ
giúp cho việc thực thi chính sách cạnh tranh của quốc gia trong mỗi gia
đoạn lịch sử nhấ định mà nó còn có ý nghĩa rất lớn đối với các bên
trong việc thực hiện các giao dịch mua bán sáp nhập.
Thứ nhất: Cần phải có định nghĩ rõ ràng thế nào là đang trong nguy cơ giải thể.
Điều này không chỉ có ý nghĩa về mặt học thuật mà nó
còn có ý nghĩa rất lớn về mặt thực tiễn khi các bên liên quan tiến hành
việc giải trình với cơ quan cạnh tranh về vấn đề miễn trừ
Thứ hai: Các tiêu chí miễn trừ qui định tại khoản 2 điều 19 luật cạnh tranh
Một trong những cơ sở xem xét để quyết định việc miễn
trừ đối với giao dịch mua bán, sáp nhập doanh nghiệp đó là liệu các
giao dịch này có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển
kinh tế – xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ hay không? Tuy vậy, trong
những phần sau của luật cạnh tranh và nghị định 116/2005/NĐ-CP qui định
chi tiết thi hành một số điều của luật cạnh tranh lại chưa có được những
qui chuẩn cụ thể cho việc nhận diện các yếu tố trên.
Chính sách cạnh tranh theo nghĩa hẹp, theo đó nó bao
gồm các quy tắc và quy định nhằm thúc đẩy cạnh tranh trong một nền kinh
tế quốc dân, một phần thông qua việc phân bổ có hiệu quả hơn nguồn tài
nguyên[6]. Theo đó, chính sách cạnh tranh cũng được nhìn nhận trong tiến
trình chuyển động cùng với sự thay đổi của các điều kiện kinh tế xã hội
trong mỗi thời kì nhất định. Cụ thể, trong bối cảnh kinh tế hiện thời,
chính sách cạnh tranh của Việt nam gắn chặt với quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế. Năm năm sau ngày gia nhập WTO, cùng với việc hàng hóa Việt
nam gia nhập vào thị trường các nước thì mặt trái của nó là hàng hóa của
các nước cũng sẽ được nhập vào thị trường Việt nam một cách tương ứng.
Các doanh nghiệp Việt nam đứng trước thách thức là phải có bước trưởng
thành để có thể tồn tại tạ chính thị trường Việt nam và xa hơn nữa là
phải vươn mạnh ra thị trường thế giới. Từ đó, cơ quan quản lí về cạnh
tranh của Việt nam sẽ phải cân nhắc giữa yếu tố bảo vệ cấu trúc thị
trường hiện tại hay là tạo lập nên những doanh nghiệp có tiềm lực đủ
mạnh trước sức ép cạnh tranh từ các doanh nghiệp khác đến từ các quốc
gia thành viên.
Từ đó chúng tôi đề xuất một số giải pháp như sau:
Thứ nhất: Cần phải qui định các tiêu chí cụ thể để dễ dàng hơn trong việc xác định thế nào làmở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế – xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ. Việc
xây dựng một hệ thống tiêu chí như thế này không phải là một việc làm
mới. Trên thực tế áp dụng pháp luật cạnh tranh của Liên minh châu Âu hệ
thống các tiêu chí miễn trừ được xây dựng dưới dạng Block and Exempt.
Theo đó, cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh khi tiến hành xem xét một
giao dịch mua bán sáp nhập có rơi vào các trường hợp miễn trừ hay không
sẽ có những tiêu chí cụ thể. Trên cơ sở đó cơ quan cạnh tranh sẽ cân
nhắc trong từng trường hợp cụ thể . Mặt khác, các doanh nghiệp tham gia
vào các giao dịch mua bán, sáp nhập doanh nghiệp cũng dễ dàng hơn trong
việc thuyết phục cơ quan cạnh tranh về khả năng được hưởng miễn trừ. Xét
trong bối cảnh của Việt nam với qui định hiện hành của nghị định
116/2005/NĐ-CP cũng như các văn bản có liên quan chưa giải quyết được
yêu cầu này.
Thứ hai: Trong trường hợp không xây dựng hệ
thống tiêu chí để làm cơ sở xác định thì nên xây dựng một danh sách các
hành vi được miễn trừ (white list). Theo đó, khi các bên thực hiện các
hành vi nhưng nằm trong white list được miễn trừ này không cần phải tiến
hành thủ tục giải trình mà chỉ cần thông báo đến cơ quan cạnh tranh mà
thôi. Lưu ý, việc thông báo này không có ý nghĩa là cần đến sự chấp
thuận của cơ quan cạnh tranh mà nó chỉ có ý nghĩa trong việc quản lí về
cạnh tranh của cơ quan cạnh tranh mà thôi.
Thứ ba: Một mặt nên có những cơ chế dành cho
cơ quan cạnh tranh sự tự chủ lớn hơn trong việc quyết định cơ chế miễn
trừ đ���i với các giao dịch mua bán sáp nhập bị cấm. Mặt khác cần phải chú
trọng hơn đến quyền khiếu kiện của các bên có liên quan trong trường
hợp không đồng ý với quyết định của cơ quan quản lí về cạnh tranh trong
việc xem xét miễn trừ. Mặc dù luật cạnh tranh có qui định quyền khiếu
nại của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế trong trường hợp đơn
xin miễn trừ tập trung kinh tế không được chấp nhận. Nhưng các qui định
này chỉ mang tính chất hành chính. Theo đó “Doanh nghiệp không đồng
ý với quyết định cho hưởng miễn trừ hoặc không cho hưởng miễn trừ,
quyết định bãi bỏ quyết định cho hưởng miễn trừ có quyền khiếu nại theo
quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo”[7]
Cơ chế tố tụng hành chính chưa phải là giải pháp tối
ưu cho doanh nghiệp trong việc thực hiện quyền khiếu nại của doanh
nghiệp. Bởi vì về bản chất, việc miễn trừ đối với tập trung kinh tế có
những khác biệt rất lớn với tố tụng hành chính về bản chất của sự việc
và tính phức tạp của vấn đề. Do đó cần phải có những qui định thêm quyền
của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế trong việc khiếu nại và
giải trình trước cơ quan quản lí cạnh tranh với một trình tự của pháp
luật cạnh tranh mà không nên áp dụng thủ tục của pháp luật khiếu nại tố
cáo.
Kết luận
Trong sự sôi động của thương trường, các giao dịch
mua bán, sáp nhập doanh nghiệp ngày nhiều cả về số lượng cũng như qui mô
của các giao dịch. Nhưng không phải tất cả các giao dịch mua bán, sáp
nhập doanh nghiệp đều mang lại hệ quả làm hạn chế cạnh tranh trên thị
trường mà đôi lúc nó còn có tác dụng tích cực. Ngay từ những ngày đầu
được ban hành, các nhà soạn thảo luật cạnh tranh đã ý thức được điều
này nhưng sau gần sáu năm thực thi pháp luật cạnh tranh của Việt nam vẫn
còn thiếu vắng các tiêu chí cụ thể làm nền tảng cho việc thực thi việc
miễn trừ đối với các giao dịch mua bán, sáp nhập doanh nghiệp có lợi cho
sự phát triển của xã hội. Do đó, cần phải sớm xây dựng được những cơ sở
cụ thể hơn cho việc thực thi vấn đề này trên thực tế.
[1] Điều 153 luật doanh nghiệp
[2] Đìều 19 luật cạnh tranh
[3] Khoản 2 điều 157 luật doanh nghiệp
[4] Điều 3 luật phá sản
[5] Điều 83 luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật
[6] ĐH kinh tế luật, Giáo trình luật cạnh tranh, tr27
[7] Điều 38 luật cạnh tranh
SOURCE: THAM LUẬN HỘI THẢO “PHÁP LUẬT MUA
BÁN, SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN”, ĐẠI HỌC
LUẬT TPHCM, NGÀY 22.5.2011 - PHẠM HOÀI HUẤN
Trích dẫn từ: http://huanphamhoai.wordpress.com