Bàn về cơ chế cho vay bất động sản và phi sản xuất trong hoạt động tín dụng ngân hàng hiện nay
Trong thời gian gần đây, quy định về giới hạn tỷ trọng dư nợ cho vay phi sản xuất so với tổng dư nợ của ngân hàng thương mại (NHTM), khái niệm bất động sản trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) đối với khách hàng và giải pháp tín dụng ngân hàng để cứu thị trường bất động sản… được đề cập đến khá nhiều trên một số diễn đàn, thu hút sự quan tâm không nhỏ của dư luận.
Vậy, những nội dung trên cần được hiểu ra sao và liệu tín
dụng ngân hàng có giúp phục hồi được thị trường bất động động sản hay
không? Bài viết xin nêu một số suy nghĩ về những khía cạnh như đã đề
cập.
Trước hết, cần nhận thức bất động sản là gì và phi
sản xuất được hiểu ra sao? Theo Đại từ điển tiếng Việt, “Bất động sản”
là: “Tài sản không chuyển rời đi được, như đất cát, nhà cửa,…”. Cũng
theo cuốn từ điển này, từ “phi” có nghĩa là “trái với, không phải”. Trên
cơ sở đó, nếu lắp ghép với từ sản xuất thì chúng ta có “phi sản xuất”
có nghĩa là: không phải sản xuất, trái với sản xuất, hay không phải lĩnh
vực sản xuất.
Một sự liên hệ khác, đó là Bộ luật Dân sự. Tại Chương
2, Điều 181, của Bộ luật này có quy định, “Bất động sản” đó là “Tài sản
không di, dời được bao gồm:
1- Đất đai.
2- Nhà ở, công trình gắn liền với đất đai; kể cả tài sản gắn liền với nhà ở, công trình xây dựng đó.
3- Các tài sản khác gắn liền với đất đai.
4- Các tài sản khác do pháp luật quy định.”
Như vậy, tại Bộ luật Dân sự, danh từ “Bất động sản” được giải thích cụ thể hơn, chi tiết hơn.
Một số nghiên cứu khác cho rằng, việc phân loại tài
sản thành “bất động sản” và “động sản” có nguồn gốc từ Luật cổ La Mã.
Theo đó, bất động sản không chỉ là đất đai, của cải trong lòng đất mà
còn là tất cả những gì được tạo ra do sức lao động của con người trên
mảnh đất. Bất động sản bao gồm các công trình xây dựng, mùa màng, cây
trồng… và tất cả những gì liên quan đến đất đai hay gắn liền với đất
đai, những vật trên mặt đất cùng với những bộ phận cấu thành lãnh thổ.
Trong tiếng Anh, cụm từ Real Estate được dịch là bất
động sản hay tài sản bất động. Trong tiếng Pháp, từ Immobilié cũng được
dịch là Bất động sản. Tại Trung Quốc, người ta sử dụng thuật ngữ địa
sản, tức là tài sản gắn liền với đất đai…
Qua nghiên cứu và tham khảo nhiều tài liệu khác nhau có thể thấy, hầu
hết các nước đều coi Bất động sản là đất đai và những tài sản có liên
quan đến đất đai, không tách rời với đất đai, được xác định bởi vị trí
địa lý của đất. Nội dung này được thể hiện tại Điều 517, 518 Luật Dân sự
Cộng hoà Pháp; tại Điều 86 Luật Dân sự Nhật Bản; tại Điều 130 Luật Dân
sự Cộng hoà Liên bang Nga và tại Điều 94, 96 Luật Dân sự Cộng hoà Liên
bang Đức…Song trong Luật của CHLB Nga thì lại quy định cụ thể hơn, bất
động sản là “mảnh đất” chứ không phải là đất đai nói chung. Việc ghi
nhận này là hợp lý bởi đất đai nói chung là bộ phận của lãnh thổ, không
thể là đối tượng của giao dịch dân sự.
Cũng dựa trên kết quả tìm hiểu quy định trong luật của một số nước như đề cập ở trên thì mỗi
nước lại có quan niệm khác nhau về những tài sản “gắn liền” với đất đai
được coi là Bất động sản. Ví dụ như tại Điều 520 Luật Dân sự Pháp quy
định “mùa màng chưa gặt, trái cây chưa bứt khỏi cây là BĐS, nếu đã bứt
khỏi cây được coi là động sản”. Tương tự, quy định này cũng được thể
hiện ở Luật Dân sự Nhật Bản, Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ và Sài Gòn cũ. Trong
khi đó, Điều 100 Luật Dân sự Thái Lan quy định: “Bất động sản là đất đai
và những vật gắn liền với đất đai, bao gồm cả những quyền gắn với việc
sở hữu đất đai”. Luật Dân sự Đức đưa ra khái niệm bất động sản bao gồm
đất đai và các tài sản gắn với đất.
Như vậy, có hai cách diễn đạt chính: thứ nhất, miêu tả cụ thể những gì được coi là “gắn liền với đất đai”, cũng được coi là Bất động sản; thứ hai, không giải thích rõ về khái niệm này và dẫn tới các cách hiểu rất khác nhau về những tài sản “gắn liền với đất đai”.
Nhìn chung, pháp luật của nhiều nước
trên thế giới đều thống nhất ở chỗ coi “Bất động sản” gồm: đất đai và
những tài sản gắn liền với đất đai. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật của
mỗi nước cũng có những nét đặc thù riêng thể hiện ở quan điểm phân loại
và tiêu chí phân loại, tạo ra cái gọi là “khu vực giáp ranh giữa hai
khái niệm bất động sản và động sản”.
Từ cách hiểu, cách diễn đạt nói trên quay trở lại
quan niệm hiện hành về “Bất động sản” gắn với thực tiễn hoạt động tín
dụng ngân hàng ở nước ta hiện nay xem có phải là lĩnh vực phi sản xuất
không; mở rộng ra cần xem xét đối tượng nào là phi sản xuất, đối tượng
nào là vay tiêu dùng!
Một là, trường hợp doanh nghiệp vay vốn đầu tư
xây dựng nhà xưởng, kho hàng, bến bãi, cơ sở nghỉ mát, nghỉ dưỡng, bệnh
viện, phòng khám bệnh, trường học, cơ sở đào tạo nghề, khách sạn, nhà
hàng, nhà để xe ô tô…, nếu chiếu theo giải thích thuật ngữ nói trên thì
là bất động sản, tức là đất đai hoặc các công trình xây dựng gắn liền
với đất nhưng thực tế không thể coi là phi sản xuất được, bởi vì nó được
đưa vào phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo ra sản phẩm hàng hoá hay dịch
vụ, đem lại giá trị gia tăng cho chủ đầu tư.
Hai là, doanh nghiệp vay vốn và sử dụng vốn
vay đầu tư xây dựng chung cư cao tầng, căn hộ, nhà liền kề, biệt thự… để
bán. Cũng theo giải thích thuật ngữ nói trên thì là bất động sản, nhưng
xét ở góc độ nhà đầu tư, nhà kinh doanh, thì đó là sản phẩm đầu tư ra
để bán, nó có quá trình kết tinh giá trị mới của nhà đầu tư, nên cần coi
đó là lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
Ba là, doanh nghiệp vay vốn và sử dụng vốn vay
đầu tư xây dựng trụ sở văn phòng của doanh nghiệp, cho thuê văn phòng,
cho thuê mặt bằng kinh doanh. Đây cũng là bất động sản, nhưng là sản
phẩm sử dụng trong kinh doanh của chính doanh nghiệp, cho thuê, đem lại
nguồn thu nhập cho doanh nghiệp, tham gia vào quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Bởi vậy cần xem đây là lĩnh vực sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Bốn là, doanh nghiệp vay vốn đầu tư xây dựng
hạ tầng trong khu chế xuất, khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu, cụm
công nghiệp… sau đó cho doanh nghiệp khác thuê lại. Ở góc độ tài sản hay
khái niệm tài sản thì đó là bất động sản, nhưng ở góc độ kinh doanh thì
cần coi đó là đầu tư cho sản xuất kinh doanh.
Năm là, doanh nghiệp, cá nhân vay vốn đầu tư
xây dựng khu tập luyện thể thao hay chơi thể thao, nơi vui chơi giải
trí,…đưa vào kinh doanh, cho thuê kinh doanh. Đây thực chất cũng là lĩnh
vực bất động sản, nhưng có tính chất sản xuất kinh doanh vì doanh
nghiệp kỳ vọng có nguồn thu nhập ổn định, thường xuyên từ khách hàng,
nên cần coi đây là đầu tư cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ.
Sáu là, hộ gia đình, cá nhân bên cạnh vốn tự
có thì vay vốn NHTM, sử dụng vốn vay để sửa chữa nhà hay xây dựng nhà để
ở, mua nhà để ở, có nguồn trả nợ chính là tiền lương và thu nhập khác
ổn định trong nhiều năm. Đối tượng sử dụng vốn vay chính là bất động sản
và đúng là thuộc lĩnh vực tiêu dùng, song đó cũng là nhu cầu chính
đáng, hợp lý và người vay chứng minh được nguồn thu nhập ổn định để trả
nợ. Vì vậy không nên cứng nhắc cấm đoán, hạn chế cho vay. Miễn là người
vay vốn không phải là để đầu cơ bất động sản, với nguồn trả nợ không
phải là trông chờ vào bán nhà đất sau khi giá tăng, chênh lệch so với
thời điểm mua vào.
Bảy là, hộ gia đình, cá nhân vay tiền để cho
con em đi du học, đi chữa bệnh ở nước ngoài, đi du lịch nước ngoài, mua
sắm phương tiện sinh hoạt đắt tiền,…nguồn trả nợ là tiền lương, tiền cho
thuê nhà hay cho thuê cửa hàng, các nguồn thu nhập ổn định khác. Đây
cũng chính là lĩnh vực tiêu dùng nhưng cũng cần được xem xét cho vay vì
không phải là đầu cơ, hay trông chờ vào nguồn thu nhập kỳ vọng bấp bênh
trong tương lại để trả nợ, mà từ nguồn thu nhập thực tế.
Nói tóm lại, nếu doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân
vay vốn đầu tư vào việc hình thành các tài sản trên đất đai, nâng cao
giá trị của tài sản cố định đó, đồng thời tài sản đó được đưa vào sản
xuất kinh doanh, tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, đem lại
nguồn thu nhập thường xuyên cho người vay vốn thì hoàn toàn có thể vận
dụng cho vay được dưới hình thức đầu tư cho sản xuất kinh doanh, chứ
không thể coi là phi sản xuất, đành rằng đó là bất động sản. Hay nói
cách khác, khái niệm về bất động sản không có gì thay đổi, nhưng cần
được nói rõ là bất động sản tham gia vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh,
phục vụ nhu cầu sinh hoạt, đời sống của chính người vay chứ không phải
là đầu cơ chờ tăng giá.
Đối với tín dụng tiêu dùng, đó là các khoản cho vay
nhằm tài trợ cho các nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm các
cá nhân và hộ gia đình. Đây là nguồn tài chính quan trọng giúp người vay
trang trải nhu cầu về nhà ở, đồ dùng sinh hoạt và đời sống, phương tiện
đi lại,…đáp ứng các nhu cầu khác về y tế, giáo dục, du lịch, xuất khẩu
lao động,… mà có nguồn thu nhập ổn định thì không nên cấm đoán hay hạn
chế cho vay, miễn là đảm bảo an toàn.
Tuy nhiên không phải là bất động sản nào đưa vào sản
xuất kinh doanh, hay có mục đích sản xuất kinh doanh nào cũng được mở
rộng cho vay, được nới rộng tín dụng, mà cần chú ý, hạn chế những trường
hợp cụ thể sau đây:
Doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong khu
đô thị mới, sau đó bán nền nhà, bán lô đất cho xây dựng nhà ở, chứ không
phải là xây dựng nhà ở, thì đây chính là lĩnh vực bất động sản cần xem
xét không cho vay vốn. Hoặc là doanh nghiệp vay vốn để đền bù giải phóng
mặt bằng, lấy đất để chờ giá tăng thì lĩnh vực bất động sản này cũng
không thể cho vay.
Những dự án của nhiều địa phương được giao cho doanh
nghiệp triển khai xây dựng cảng biển, sân bay, một số cơ sở hạ tầng
khác… được thực hiện theo kiểu phong trào, thực hiện tràn lan, dự báo
không có hiệu quả thì cũng cần được đưa vào lĩnh vực bất động sản hạn
chế cho vay.
Đối với hộ gia đình và cá nhân, sử dụng vốn vay đầu
tư bất động sản chờ tăng giá để bán và nguồn trả nợ chủ yếu là kỳ vọng
vào bán bất động sản khi giá tăng thì cũng cần cấm đoán hay hạn chế cho
vay.
Cũng trong nhóm bất động sản cần được coi là lĩnh vực
sản xuất kinh doanh đề cập ở phần đầu bài viết, nhưng một số lĩnh vực
cần hạn chế cho vay, nhất là trong giai đoạn hiện nay, cụ thể như doanh
nghiệp đầu tư xây dựng chung cư, biệt thự, căn hộ liền kề… Bởi vì đây là
phân khúc thị trường bất động sản được phát triển quá nóng thời gian
qua, mang tính chất đầu cơ chờ tăng giá chiếm tỷ trọng lớn, còn nhu cầu
đích thực không nhiều. Theo báo cáo của nhóm nghiên cứu Vietnam Report
công bố thời điểm đầu năm 2011, trong số gần 500 mẫu điều tra tại thị
trường Hà Nội, số người mua bất động sản phục vụ mục đích đầu tư chiếm
tỷ lệ 61,9%, chỉ có 38,1% mua để phục vụ nhu cầu ở và sinh hoạt của gia
đình. Có đến 47,7% trong số 61,9% nhà đầu tư mua bất động sản phục vụ
mục đích đầu tư là dành cho đầu tư ngắn hạn, lướt sóng kiếm lời. Được
biết trong số hơn 38 % có nhu cầu đích thực thì không phải ai cũng có đủ
vốn tự có, có nguồn lực tài chính đầy đủ của gia đình, mà tỷ lệ quan
trọng là phải vay bổ sung từ nguồn vốn tín dụng ngân hàng qua kênh tiêu
dùng. Cũng trong phân khúc thị trường bất động sản này giá tăng quá ảo
thời gian qua, tập trung là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, vì vậy cần
để cho thị trường điều chỉnh làm sao cho giá cả trở lại mức mà nhiều
người có nhu cầu đích thực có thể chấp nhận được. Tiếp tục bơm vốn tín
dụng ngân hàng thương mại cho lĩnh vực này sẽ có nguy cơ tiếp tục đem
lại rủi ro đối với người cho vay.
Nhóm đầu tư bất động sản là khu công nghiệp, khu chế
xuất, mục đích cũng là sản xuất kinh doanh. Song tình trạng đầu tư tràn
lan theo kiểu phong trào ở nhiều địa phương dẫn đến kết quả cho thuê mặt
bằng đạt tỷ lệ thấp, nên nguy cơ phát sinh đọng vốn đối với cả chủ đầu
tư và bên cho vay. Được biết đến nay, cả nước có 223 Khu công nghiệp
(KCN), khu chế xuất (KCX), Khu công nghệ cao ( KCNC), phân bố trên 56
tỉnh, thành phố, trong đó 171 KCN đã đi vào hoạt động; 52 KCN đang và sẽ
xây dựng. Chỉ có 7 tỉnh không có KCN. Song theo số liệu của Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), tỷ lệ lấp đầy các KCN, KCX,
Khu công nghệ cao rất thấp, chỉ 46%; có tỉnh tỷ lệ bình quân chỉ 10%.
Tại vùng đồng bằng sống Cửu Long (ĐBSCL) có tới 17.690 ha trong tổng số
19.102 ha đất bị bỏ trống tại các khu, cụm công nghiệp, chiếm hơn 92,6%
tổng diện tích của các khu đó. Ở miền Trung, tỷ lệ lấp đầy cũng rất
thấp, bình quân 30%. Tại Hà Nội có 19 KCN với diện tích gần 8.000 ha
nhưng chỉ có 8 KCN hoạt động… Tỉnh Bình Thuận quy hoạch 8 KCN với quy mô
4.284 ha nhưng theo kết luận của Thanh tra Chính phủ năm 2010, tỷ lệ sử
dụng đất ở các KCN của tỉnh rất thấp, chỉ 16%. Còn tỉnh Bà Rịa – Vũng
Tàu có 14 KCN với diện tích 8.800 ha, mặc dù có đủ điều kiện hạ tầng
nhưng các KCN trên địa bàn chỉ mới lấp đầy hơn 24%. Vì vậy, trong định
hướng tín dụng ngân hàng cần hạn chế cho vay lĩnh vực này.
Tương tự, nhóm đầu tư bất động sản khác đưa vào sản
xuất kinh doanh: khách sạn, văn phòng cho thuê,… phải dựa trên khả năng
thu hồi vốn, khả năng thu hút khách thì mới có thể cho vay, chứ về mặt
chính sách tín dụng không thể mở rộng tràn lan được.
Thị trường bất động sản và tín dụng ngân hàng có mối
quan hệ mật thiết với nhau, nhưng không thể trông chờ vào sự “tài trợ”
của NHTM để cứu thị trường bất động sản hiện nay được. Tín dụng ngân
hàng trong xu thế hội nhập cần được rút ra bài học kinh nghiệm trong
thời gian qua, cần có sự điều chỉnh phù hợp để góp phần đảm bảo sự phát
triển lành mạnh của thị trường bất động sản, đáp ứng nhu cầu an toàn,
hiệu quả của chủ đầu tư, nhà kinh doanh, nhu cầu chính đáng của người
tiêu dùng và sự phát triển bền vững của hệ thống các TCTD ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay. Bản thân chủ đầu tư bất động sản cần có chiến
lược và giải pháp cho chính bản thân mình trong hoạt động kinh doanh.
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC - PGS.TS. NGUYỄN ĐẮC HƯNG
Trích dẫn từ: http://sbv.gov.vn/wps/portal/!ut/p/c5