Các yếu tố sở hữu công nghiệp tác động đến hiệu quả kinh tế của hợp đồng chuyển giao công nghệ
Trong các hợp đồng CGCN được khảo sát, phần lớn đều có lỗi khi không xác định vị trí pháp lý của bên CGCN, điều 15 Luật CGCN quy định về nội dung của hợp đồng CGCN đã không nhắc đến mục này, nhưng cần lưu ý rằng pháp luật về CGCN là một bộ phận không thể tách rời khỏi pháp luật nói chung, trong khi đó Bộ Luật Dân sự lại quy định chi tiết về vấn đề này.
1. Dẫn nhập
Do yêu
cầu công tác, tác giả cùng với các học viên sau đại học chuyên ngành Quản lý
Khoa học và Công nghệ đã nghiên cứu nhiều bản hợp đồng chuyển giao công nghệ
(CGCN) đã và đang được thực hiện, điều đáng nói là trong số đó có khá nhiều hợp
đồng CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam mang lại hiệu quả kinh tế không cao đối
với bên nhận chuyển giao – là các doanh nghiệp Việt Nam, có nhiều nguyên nhân
dẫn đến hiện tượng này, nhưng một trong những nguyên nhân đó là các bên tham
gia hợp đồng CGCN không tính đến hoặc không thể lường trước được hợp đồng CGCN
đã bị các yếu tố của quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) tác động như thế nào.
Đã có một số nhà nghiên cứu đề cập đến các yếu tố của quyền SHCN trong lĩnh
vực CGCN, ví dụ cuốn Cẩm nang chuyển giao công nghệ của Bộ KH&CN
phối hợp với Trung tâm CGCN Châu Á – Thái Bình Dương do Nhà xuất bản Khoa học
và Kỹ thuật phát hành năm 2005, cuốn Các phương pháp thẩm định giá quyền sở
hữu trí tuệ của Đoàn Văn Trường do Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật phát
hành năm 2007, cuốn Valuation and Princing of Technology – Based
Intellectual Property của Richard Razgaitis do John Wiley & Sons, Inc.
xuất bản năm 2003 (cuốn này chưa được dịch sang tiếng Việt)… Để đảm bảo tính
mới của nghiên cứu, trong bài viết này chúng tôi chỉ trình bày những vấn đề mà các
tác giả trên chưa đề cập.
Giới hạn của thuật ngữ CGCN trong bài viết này không bao hàm chuyển nhượng
quyền sở hữu công nghệ, mà chỉ đề cập đến chuyển giao quyền sử dụng công nghệ.
Mặt khác, bài viết này chỉ giới hạn xem xét công nghệ được chuyển giao có gắn
với yếu tố SHCN, bao gồm công nghệ được bảo hộ dưới dạng cấp Bằng độc quyền
sáng chế và công nghệ được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh, trong đó chỉ đề
cập đến “phần mềm” của công nghệ – phần vô hình mà không đề cập đến
“phần cứng” – trang thiết bị đi kèm công nghệ như là phần hữu hình của
công nghệ.
Để tiện theo dõi, chúng tôi xin quy ước: bên CGCN là A; bên nhận CGCN từ A
là B, B1, B2… bên nhận CGCN từ B là C, C1, C2… (trong trường hợp này bên CGCN lại
là B). Thuật ngữ “License” dùng để chỉ hợp đồng CGCN.
2. Chủ thể chuyển giao công nghệ
Trong các hợp đồng CGCN được khảo sát, phần lớn đều có lỗi khi không xác
định vị trí pháp lý của bên CGCN, điều 15 Luật CGCN quy định về nội dung của hợp
đồng CGCN đã không nhắc đến mục này, nhưng cần lưu ý rằng pháp luật về CGCN là
một bộ phận không thể tách rời khỏi pháp luật nói chung, trong khi đó Bộ Luật
Dân sự lại quy định chi tiết về vấn đề này.
Nếu không xác định vị trí pháp lý của bên CGCN thì rất có thể xảy ra hiện tượng
“bán cầu Long Biên”, có nghĩa là bên CGCN không phải là chủ sở hữu công nghệ
hoặc bên được quyền CGCN. Bởi vậy, để cho dễ xử lý khi có tranh chấp xảy ra thì
trong hợp đồng nên có môt điều khoản quy định rõ vị trí pháp lý của bên CGCN,
ví dụ: Bên CGCN là chủ sở hữu của sáng chế S theo Bằng độc quyền sáng chế
số… do Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam cấp ngày… hiện đang còn hiệu lực bảo hộ trên
lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam. Bản photocopy có công chứng Bằng độc quyền sáng
chế đã nêu là phần không thể tách rời của Hợp đồng này. Hoặc Bên CGCN là
bên có quyền sử dụng sáng chế S theo hợp đồng số… được lập ngày…. Bản photocopy
có công chứng hợp đồng đã nêu là phần không thể tách rời của Hợp đồng này.
Nhân đây cũng bàn thêm về quy định tại điều 8.3 Luật CGCN, trong đó quy
định: “Tổ chức, cá nhân có công nghệ là đối tượng SHCN nhưng đã hết thời hạn
bảo hộ hoặc không được bảo hộ tại Việt Nam có quyền chuyển giao quyền sử dụng
công nghệ đó”. Công nghệ trong trường hợp này chỉ có thể là sáng chế (vì
công nghệ được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh không xác định hiệu lực bảo
hộ về thời gian và lãnh thổ). Sở dĩ phải bàn lại quy định này, bởi lẽ:
- Một sáng chế đã hết đã hết thời hạn bảo hộ thì quyền sử dụng sáng chế đó
thuộc về tất cả mọi người;
- Một sáng chế không được bảo hộ tại Việt Nam
thì có nghĩa là pháp luật Việt Nam
đã không công nhận tư cách pháp lý của chủ sở hữu sáng chế đó;
- Điều 102.2.a. Luật Sở hữu trí tuệ quy định khi một chủ thể nộp đơn yêu cầu
bảo hộ sáng chế thì kèm theo đơn phải có bản mô tả sáng chế đáp ứng điều kiện: “Bộc
lộ đầy đủ và rõ ràng bản chất của sáng chế đến mức căn cứ vào đó người có hiểu
biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể thực hiện được sáng chế
đó”. Những thông tin này được lưu giữ tại sổ đăng ký quốc gia. Tại Việt Nam,
theo quy định tại điều 19.1.e. Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN: “Các sổ
đăng ký quốc gia do Cục Sở hữu trí tuệ lập và lưu giữ dưới dạng giấy, điện tử
hoặc các phương tiện khác. Bất kỳ người nào cũng có thể tra cứu sổ đăng ký điện
tử hoặc yêu cầu Cục Sở hữu trí tuệ cấp bản sao hoặc bản trích lục sổ đăng ký,
với điều kiện phải nộp phí cấp bản sao”. Đối với các sáng chế không được
bảo hộ tại Việt Nam, người ta có thể tra cứu các thông tin về chúng trên các
website của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) hoặc của chính cơ quan sáng
chế quốc gia – nơi bảo hộ sáng chế đó.
Như vậy, việc phải bỏ tiền để mua quyền sử dụng một sáng chế đã đã hết thời hạn
bảo hộ hoặc không được bảo hộ tại Việt Nam là điều cần phải bàn lại. Về
vấn đề này, TS Phạm Phi Anh, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ đã đề cập khi
phát biểu: “… Tại sao chúng ta không biết rằng, một sáng chế đăng ký ở nước
nào thì chỉ có hiệu lực ở nước đó mà thôi. Nếu các sáng chế về thuốc không đăng
ký tại Việt Nam, mình có thể khai thác, bắt chước công thức ấy rồi sản xuất
bằng dược liệu của Việt Nam.
Từ đó, hạ giá thành của chính thuốc đó tại Việt Nam, đem lại lợi ích cho toàn xã
hội…”.[1]
3. Sự tác động của yếu tố độc quyền trong hợp đồng chuyển giao công nghệ
Điều 17.2. Luật CGCN quy định “phạm vi chuyển giao quyền sử dụng công
nghệ do các bên thỏa thuận bao gồm: a) Độc quyền hoặc không độc quyền sử dụng
công nghệ”. Nhưng Luật CGCN lại không quy định rõ thế nào là độc quyền.
Thực tế cho thấy, thuật ngữ “độc quyền” trong CGCN không hề đơn giản, cùng một
công nghệ được chuyển giao, nhưng phạm vi độc quyền khác nhau thì giá chuyển giao
cũng khác nhau. Sau đây chúng tôi xin trình bày một số dạng độc quyền.
3.1. Độc quyền tuyệt đối
Thuật ngữ “độc quyền tuyệt đối” và “độc quyền tương đối” trong bài viết này
do tác giả tự đặt. License độc quyền tuyệt đối chỉ diễn ra khi bên A phải là
chủ sở hữu của công nghệ được chuyển giao, trong đó quy định rõ trong suốt thời
gian mà License có hiệu lực về mặt thời gian bên A không được quyền sử dụng
công nghệ được chuyển giao trên tất cả mọi lãnh thổ quốc gia bảo hộ công
nghệ đó. Hệ quả pháp lý là:
- B có thể tiếp tục chuyển giao công nghệ cho C, C1, C2… trên tất cả mọi
lãnh thổ quốc gia bảo hộ công nghệ đó;
- B có thể sử dụng công nghệ được chuyển giao, bán sản phẩm áp dụng công
nghệ được chuyển giao… trên tất cả mọi lãnh thổ quốc gia bảo hộ công
nghệ đó.
Trong một hợp đồng CGCN, tại phần định nghĩa các thuật ngữ cần phải phân
biệt việc sử dụng công nghệ được chuyển giao với việc bán sản phẩm áp dụng công
nghệ được chuyển giao, nếu không thì rất khó phân định khi xảy ra tranh chấp
hợp đồng mà phần thua thiệt luôn thuộc về B, bởi lẽ:
- Khi hợp đồng chấm dứt hiệu lực về thời gian thì đương nhiên B hết quyền sử
dụng công nghệ được chuyển giao, nhưng trong kho của B vẫn có thể còn sản phẩm áp
dụng công nghệ được chuyển giao. Trong thực tế đã xảy ra tranh chấp dạng này
giữa Công ty Tân Trường Sơn và Công ty Hưng Phát vào tháng 11.2008.[2]
- Đối thủ cạnh tranh với B có thể không có quyền sử dụng công nghệ được
chuyển giao trên lãnh thổ độc quyền của B, nhưng rất có thể lại có quyền bán sản
phẩm áp dụng công nghệ được chuyển giao trên lãnh thổ độc quyền của B nếu hợp
đồng CGCN giữa A và B không định nghĩa rõ về phạm vi độc quyền. Tranh chấp dạng
này thường xảy ra đối với trường hợp độc quyền tương đối mà chúng tôi sẽ trình
bày ngay dưới đây.
Như vậy, hiệu quả kinh tế của hợp đồng CGCN đối với B trong trường hợp này
là cao với các điều kiện:
- Không xuất hiện chủ thể có quyền sử dụng trước đối với sáng chế;
- Không xuất hiện công nghệ cạnh tranh.
Chúng tôi sẽ đề cập rõ hơn tại mục 5.
3.2. Độc quyền tương đối
License độc quyền tương đối có thể diễn ra khi bên A là chủ sở hữu của công
nghệ được chuyển giao hoặc là bên có quyền sử dụng công nghệ được chuyển giao.
Nếu A là bên có quyền sử dụng công nghệ được chuyển giao thì hợp đồng CGCN giữa
A và B được gọi là hợp đồng thứ cấp (Sublicense). Phạm vi chuyển giao
của Sublicense không được phép vượt quá phạm vi chuyển giao do License tương
ứng quy định. Hợp đồng giữa A và B quy định rõ trong suốt thời gian mà License
có hiệu lực về mặt thời gian bên A vẫn được quyền sử dụng công nghệ được chuyển
giao, bán sản phẩm áp dụng công nghệ được chuyển giao ngoài lãnh thổ độc quyền
của B. Lãnh thổ độc quyền của B có thể là một quốc gia, một nhóm quốc gia hoặc
có thể chỉ là một địa phương trong phạm vi một quốc gia. Hệ quả pháp lý là:
- A vẫn có thể tiếp tục CGCN cho B1, B2… trên lãnh thổ khác với lãnh thổ độc
quyền của B. Trong một số trường hợp nhất định B1, B2… có thể là đối thủ cạnh
tranh của B ngay cả trên lãnh thổ độc quyền của B (chúng tôi sẽ trình bày trong
mục nhập khẩu song song).
- B không thể sử dụng công nghệ được chuyển giao, bán sản phẩm áp dụng công nghệ
được chuyển giao trên lãnh thổ độc quyền của A, B1, B2…
- B có thể tiếp tục chuyển giao công nghệ cho C, C1, C2… trên lãnh thổ độc quyền
của B, hợp đồng CGCN giữa B và C, C1, C2… gọi là hợp đồng thứ cấp (Sublicense).
Hiệu quả kinh tế của License đối với B trong trường hợp này là cao với điều
kiện không xuất hiện công nghệ cạnh tranh và nhập khẩu song song.
4. Nhập khẩu song song
Yếu tố độc quyền trong CGCN đã mang lại hiệu quả kinh tế cho B như vừa phân tích,
nhưng xét trên khía cạnh tổng thể của toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì đôi lúc
phải xem lại. Ví dụ trong thực tế, Hiệp hội các nhà sản xuất ôtô Việt Nam đã
liên kết với nhau để nâng giá bán ôtô trên lãnh thổ Việt Nam, làm cho giá bán
ôtô trên thị trường Việt Nam cao hơn giá bán ôtô tương ứng trên thị trường các
quốc gia khác.
Để chống lại hiện tượng độc quyền trên, Nhà nước có thể áp dụng biện pháp nhập
khẩu song song. Nhập khẩu song song (Parallel Importation) là một thuật
ngữ dùng để chỉ “…việc nhập khẩu sản phẩm chứa đựng đối tượng SHCN được bảo
hộ, được tiến hành bởi một nhà kinh doanh không hề có mối quan hệ nào với chủ
sở hữu đối tượng SHCN”.[3]
Điểm đáng lưu ý là việc nhập khẩu song song không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan
của các bên tham gia hợp đồng CGCN mà lại phụ thuộc vào sự cho phép của Nhà
nước. Ví dụ giả định rằng Honda Nhật Bản là A, Honda Việt Nam là B, Honda Thái
Lan là B1, hợp đồng giữa A và B có điều khoản cấm A bán sản phẩm áp dụng công
nghệ được chuyển giao vào Việt Nam, hợp đồng giữa A và B1 có điều khoản cấm B1
bán sản phẩm áp dụng công nghệ được chuyển giao vào Việt Nam. Tuy nhiên Nhà
nước Việt Nam có thể cho phép một chủ thể khác mua Honda từ Nhật Bản hoặc từ
Thái Lan để bán trên lãnh thổ Việt Nam nhằm chống lại sự độc quyền của B. Trong
phạm vi bài viết này, chúng tôi xin phép không đề cập đến việc đánh thuế cao
đối với sản phẩm nhập khẩu để bảo hộ hàng hóa được sản xuất trong nước.
Như vậy, việc nhập khẩu song song đã tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh tế
đối với B khi mà sự độc quyền đã vượt quá giới hạn thông thường – ngưỡng mà thị
trường có thể chấp nhận.
5. Công nghệ cạnh tranh
Trong quá trình thẩm định giá công nghệ được chuyển giao, người ta phải tính
đến yếu tố các công nghệ cạnh tranh với công nghệ được chuyển giao. Một sáng
chế còn thời hạn bảo hộ dài và không có hoặc ít có công nghệ cạnh tranh thì sẽ
mang lại hiệu quả kinh tế cao cho bên nhận CGCN. Người ta chỉ tính được số
lượng công nghệ cạnh tranh nếu các sáng chế đã xuất hiện trên thị
trường, còn các giải pháp kỹ thuật đang trong thời kỳ nghiên cứu và sẽ xuất
hiện trên thị trường thì không thể tính được số lượng.
Trong cuốn Valuation and Princing of Technology – Based Intellectual
Property, Richard Razgaitis đã đưa ra công thức tính hệ số khi có sáng chế
cạnh tranh, trong đó nêu rõ nếu có 2 sáng chế cạnh tranh thì hệ số bằng 1,3 đến
1,4. Hệ số này giảm dần và nếu có đến 15 sáng chế cạnh tranh thì hệ số chỉ còn
bằng 0,6 đến 0,7. Nhưng tác giả đã bỏ qua khi không tính đến yếu tố quyền sử
dụng trước đối với sáng chế.[4] Qua nghiên cứu nhiều hợp đồng CGCN, chúng
tôi cho rằng không những Richard Razgaitis mà một số tổ chức thẩm định giá công
nghệ được chuyển giao cũng đã bỏ qua yếu tố quyền sử dụng trước đối với sáng
chế (chúng tôi chỉ khẳng định điểm này khi nghiên cứu các hợp đồng CGCN mà
chúng tôi hiện có trong tay, còn đối với các trường hợp khác thì xin phép không
bàn đến).
Điều 134.1. Luật Sở hữu trí tuệ đã quy định trường hợp trước ngày nộp đơn hoặc
ngày ưu tiên (nếu có) của đơn đăng ký sáng chế mà có người đã sử dụng hoặc
chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sử dụng sáng chế đồng nhất với sáng chế
trong đơn đăng ký nhưng được tạo ra một cách độc lập thì sau khi văn bằng bảo
hộ được cấp, người đó có quyền tiếp tục sử dụng sáng chế trong phạm vi và khối
lượng đã sử dụng hoặc đã chuẩn bị để sử dụng. Việc thực hiện quyền của người sử
dụng trước đối với sáng chế không bị coi là xâm phạm quyền của chủ sở hữu sáng
chế.
Mỗi chủ thể có quyền sử dụng trước đối với sáng chế đều là một đối thủ cạnh tranh
với B (kể cả trong trường hợp License độc quyền tuyệt đối). Vì mục tiêu lợi
nhuận mà trong quá trình đàm phán hợp đồng CGCN, bên A rất không muốn đưa ra số
lượng chủ thể có quyền sử dụng trước đối với sáng chế (bên A chắc chắn phải
biết số lượng này). Cần nhấn mạnh rằng quyền sử dụng trước đối với sáng chế
là quyền sử dụng chính sáng chế được chuyển giao, chứ không phải đối với sáng
chế cạnh tranh.
Như vậy, số lượng sáng chế cạnh tranh là có thể biết được, còn số lượng chủ
thể có quyền sử dụng trước đối với sáng chế là không thể biết được (nếu
bên A cố tình không công khai), giá của công nghệ được chuyển giao sẽ càng giảm nếu số lượng chủ thể
có quyền sử dụng trước đối với sáng chế càng tăng. Qua đây chúng ta mới
thấy khiếm khuyết sẽ là rất lớn nếu bên B không thể kiểm soát được quyền sử
dụng trước đối với sáng chế.
Bởi vậy, trong hợp đồng CGCN cần có một điều khoản buộc bên chuyển giao phải
cam đoan công khai số lượng chủ thể có quyền sử dụng trước đối với sáng chế.
Mặt khác, bên nhận CGCN hoặc các tổ chức thẩm định giá của công nghệ được
chuyển giao nên tra cứu thông tin để biết số lượng các sáng chế cạnh tranh với
công nghệ được chuyển giao.
6. Kết luận
Qua phân tích một số yếu tố của quyền SHCN cho thấy chúng có thể tác động
đến hiệu quả kinh tế của hợp đồng CGCN. Giải pháp cho vấn đề nghiên cứu, chúng
tôi đã trình bày lồng ghép khi phân tích ở trên.
Bài viết này muốn lưu ý các bên trong quá trình đàm phán hợp đồng CGCN để
sao cho đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Mặt khác, cũng muốn cung cấp thông tin
để các tổ chức thẩm định giá công nghệ được chuyển giao đưa ra giá cả sát với
thực tế nhằm tư vấn cho các bên tham gia hợp đồng CGCN đạt được thỏa thuận về
giá cho công nghệ được chuyển giao khi quyết định ký kết hợp đồng CGCN.,.
[1] Xin tham khảo thêm:
http://vietbao.vn/Kinh-te/Tan-dung-hop-phap-quyen-so-huu-tri-tue-cua-nguoi-khac/10838735/87/
[2] Xin tham khảo thêm: Lê Văn Kiều, Ai đúng, ai sai? Tạp chí Hoạt
động Khoa học số 604, tháng 09.2009
[3] Xin tham khảo thêm: TS Nguyễn Thanh Tâm, Quyền Sở hữu công nghiệp
trong hoạt động thương mại – Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội 2006.
[4] Xin tham khảo thêm: Richard Razgaitis, Valuation and Princing of
Technology – Based Intellectual Property, John Wiley & Sons, Inc. 2003
SOURCE: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ THÁNG 5.2010 (612)
Trích dẫn từ: http://www.tchdkh.org.vn/tchitiet.asp?code=3538