Cấp giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh càng thực hiện càng rối
Mới đây một số tỉnh cấp GCNĐT cho các doanh nghiệp trong nước đã xảy ra tình trạng:Tỉnh này cấp GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD, doanh nghiệp sang tỉnh khác lập chi nhánh thì không được chấp nhận. Lý do là doanh nghiệp đã không thực hiện việc ĐKKD theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Cơ sở pháp lý được viện dẫn là khoản 3 Điều 50 Luật Đầu tư: Nhà đầu tư trong nước có dự án đầu tư gắn với việc
thành lập tổ chức kinh tế thì thực hiện đăng ký kinh doanh theo quy định
của Luật doanh nghiệp, pháp luật có liên quan và thực hiện thủ tục đầu
tư theo quy định của Luật này.Hậu quả là doanh nghiệp bị trả hồ sơ về
làm lại. Khi doanh nghiệp về tỉnh đã cấp GCNĐT
đồng thời là GCNĐKKD thì tỉnh trả lời là đã thực hiện đúng thủ tục đầu tư theo
quy định tại Khoản 1 Điều 6 và các Khoản
3, 4 Điều 41 Nghị định 108/2006/NĐ-CP.
Khoản 1 Điều 6 Nghị định 108: Nhà
đầu tư trong nước có dự án đầu tư gắn với việc thành lập tổ chức kinh tế thực
hiện việc đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật doanh nghiệp, pháp luật có
liên quan và thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư và Nghị
định này.
Trong trường hợp nhà đầu tư có yêu cầu
thực hiện thủ tục đầu tư đồng thời với việc thành lập tổ chức kinh tế thì thực
hiện cấp Giấy chứng nhận đầu tư theo quy định tại Khoản 4 Điều 41 Nghị định này.
Khoản 4 Điều 41 Nghị định 108: Nhà đầu tư
trong nước trong trường hợp quy định tại khoản
1 Điều 6 Nghị định này có yêu cầu thực hiện thủ tục đầu tư đồng thời
với thủ tục thành lập tổ chức kinh tế thì thực hiện cấp Giấy chứng nhận đầu tư
theo như quy định tại khoản 3 Điều này.
Khoản 3 Điều 41 Nghị định 108: Nhà đầu
tư nước ngoài có dự án đầu tư gắn với việc thành lập tổ chức kinh tế thì Giấy
chứng nhận đầu tư có nội dung bao gồm nội dung quy định tại khoản 2 Điều này và nội dung Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp. GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD.
Như vậy, doanh nghiệp trong nước, tuy đã có GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD hợp pháp nhưng lại không lập được chi
nhánh của mình đơn giản vì cơ quan ĐKKD bảo việc
ĐKKD không thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Những quy định trên càng đọc càng rắc rối
vì nó luôn tạo cơ hội cho cơ quan cấp GCNĐT có quyền cấp GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD; chỉ cần nhà đầu tư có yêu cầu là
họ có thể thực hiện được quyền năng này.
Các quy định lằng nhằng trên vô hình chung
đã tạo ra sự rắc rối cho doanh nghiệp, tạo nên sự lùng bùng giữa cơ quan cấp
GCNĐT và cơ quan ĐKKD, mặc dù hai cơ quan này cùng nằm trong một sở. Điều này
tạo nên sự “cạnh tranh” giữa cơ quan ĐKKD và cơ quan cấp GCNĐT trong việc đăng
ký kinh doanh cho doanh nghiệp.
Về nguyên tắc, GCNĐKKD do cơ quan đăng ký
kinh doanh cấp và việc ĐKKD phải được thực hiện theo quy định của Luật Doanh
nghiệp, đồng thời cơ quan ĐKKD chịu trách nhiệm về việc cấp GCNĐKKD của mình.
Vậy trong trường hợp GCNĐKKD không phải do cơ quan ĐKKD cấp mà là do cơ quan
cấp GCNĐT cấp thì ai chịu trách nhiệm?
Rõ ràng, trong trường hợp nhà đầu tư trong nước có yêu cầu thì GCNĐT
đồng thời là GCNĐKKD không có giá trị pháp lý đầy đủ, mặc dù đã được Luật
Đầu tư quy định. Cơ quan ĐKKD bảo trái Luật Doanh nghiệp, còn cơ quan cấp GCNĐT
bảo đúng pháp luật về đầu tư.
Đối với nhà đầu tư nước ngoài đã được
cấp GCNĐT tại Việt Nam thì Điểm b
Khoản 3 Điều 6 Nghị định 108 quy định: Trường hợp có dự án đầu tư mới gắn với việc
thành lập tổ chức kinh tế thì thực hiện thủ tục thành lập tổ chức kinh
tế và thủ tục đầu tư theo quy định tại Khoản
2 Điều này.
Khoản
2 Điều 6 Nghị định 108: Nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào
Việt Nam
phải có dự án đầu tư và thực hiện thủ tục đầu tư để được cấp GCNĐT; GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD.
Như vậy nếu nhà đầu tư nước ngoài có dự
án đầu tư mới gắn với việc thành lập lập tổ chức kinh tế mới, khi thực
hiện đầu tư thì lại phải thực hiện ĐKKD mới, nghĩa là cứ một dự án mới là có
một doanh nghiệp mới. Quy định như vậy thì nhà đầu tư nước ngoài đã có GCNĐT
cũng chỉ như nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam. Thử hỏi việc phân biệt nhà đầu
tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam để làm gì?
Để giải quyết triệt để những rắc rối do
việc cấp GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD
cần phải thực hiện những việc sau:
Sửa Luật Đầu tư và Nghị định 108 bởi vì
GCNĐT không thể đồng thời là GCNĐKKD vì bản chất pháp lý của hai giấy này là
khác nhau. GCNĐKKD xác lập địa vị pháp lý của chủ thể kinh doanh, tức là doanh nghiệp, trong khi GCNĐT chỉ
xác lập tính hợp pháp của một hành vi
kinh doanh của doanh nghiệp. GCNĐT gắn với một dự án, còn GCNĐKKD gắn
với một doanh nghiệp, mà doanh nghiệp có thể có nhiều dự án. Cấp GCNĐT đồng
thời với GCNĐKKD có nghĩa là đã đồng nhất một dự án với một doanh nghiệp. Thử
hỏi điều này liệu có thể chấp nhận được không? Hơn thế nữa trình tự, thủ tục
cấp GCNĐT và GCNĐKKD là khác nhau. Thủ tục cấp GCNĐT thực hiện theo quy định
của Luật Đầu tư và Nghị định 108/2006/NĐ-CP, còn trình tự
thủ tục cấp GCNĐKKD thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Nghị
định 88/2006/NĐ-CP. Một vướng mắc khác là cơ quan ĐKKD có quyền thu hồi GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD hay không?
Nếu được thu hồi thì dường như là không đúng vì cơ quan ĐKKD sao lại có quyền thu
hồi cả GCNĐT? Còn nếu không được thu hồi thì thử hỏi Luật Doanh nghiệp còn có ý
nghĩa gì? Ngoài ra, nếu doanh nghiệp có GCNĐT
đồng thời là GCNĐKKD muốn thay đổi ĐKKD liệu cơ quan ĐKKD có chấp nhận hay
không khi mà doanh nghiệp không thực hiện ĐKKD theo trình tự, thủ tục của Luật
Doanh nghiệp?
Trong trường hợp không sửa Luật Đầu tư và
Nghị định 108 thì phải thống nhất cơ quan ĐKKD và cơ quan cấp GCNĐT vào một cơ
quan chung lấy tên là cơ quan đăng ký
doanh nghiệp cùng phục vụ cho lợi ích của doanh nghiệp. Thực hiện nguyên
tắc mọi doanh nghiệp phải ĐKKD theo Luật Doanh nghiệp để xác lập tư cách pháp
nhân cho doanh nghiệp rồi mới thực hiện cấp GCNĐT cho doanh nghiệp. Doanh
nghiệp chỉ được cấp GCNĐT sau khi có tư cách pháp nhân. Thực hiện nguyên tắc
này vừa đảm bảo lợi ích pháp lý lâu dài cho doanh nghiệp, vừa thể hiện được
tính thống nhất và thuận tiện trong việc quản lý doanh nghiệp của các cơ quan
nhà nước.
Làm được những điều trên sẽ tránh được mọi
rắc rối về đầu tư hiện nay cũng như giải quyết được tính thiếu đồng bộ trong
việc quản lý doanh nghiệp. Ngoài ra còn tạo tiền lệ để giải quyết dứt điểm tình
trạng gắn GCNĐKKD với các loại giấy phép khác như: Giấy phép hoạt động kinh
doanh bảo hiểm đồng thời là GCNĐKKD…. Sẽ là rất nguy hiểm khi mà Luật Doanh
nghiệp bị “né tránh”, không được tôn trọng! Rõ là Khoản 2 Điều 3 Luật Doanh
nghiệp đã tạo ra sự tuỳ tiện của các Luật chuyên ngành. Có lẽ cần nghiên cứu
thống nhất áp dụng quy tắc: đã kinh doanh trước tiên phải đăng ký kinh doanh, sau đó cấp phép
ngành nghề gì thì cấp.
Luật gia: Cao Bá Khoát
Giám đốc Công ty TNHH
Tư
vấn Doanh nghiệp K và Cộng sự