Chính sách đất nông nghệp ở Việt Nam
Đất nông nghiệp là tài sản quý giá nhất, nguồn lực quyết định để người nông dân tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Trong nhiều năm, Đảng và Nhà nước đã có những nỗ lực hỗ trợ nông dân tiếp cận quyền sử dụng đất đai. Tuy nhiên, cho đến nay, quyền sử dụng đất của nông dân và vấn đề bảo hộ nông dân giữ quyền sử dụng đất cả với tư cách tư liệu sản xuất, lẫn tư cách tài sản đang tồn đọng nhiều vấn đề.
Thực trạng chính sách đất nông nghiệp hiện nay ở nước ta
Chính sách đất nông nghiệp hiện nay ở nước ta là kết
quả của quá trình xây dựng trên quan điểm đổi mới trong một thời gian
dài. Khởi điểm của quá trình đổi mới đó là Nghị quyết 10 của Bộ Chính
trị năm 1988 về giao quyền tự chủ cho hộ nông dân, Nghị quyết Hội nghị
lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương (khóa VI) tháng 11-1988 về giao đất
cho hộ nông dân.
Cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, Nhà nước đã xây
dựng và ban hành nhiều văn bản pháp lý xác định chế độ, chính sách đối
với đất nông nghiệp, trong đó nổi bật là Luật Đất đai ban hành năm 1993
(được liên tục sửa đổi vào các năm sau này, nhất là Luật Đất đai sửa đổi
năm 2003), Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất (năm 1999), Luật Thuế sử
dụng đất nông nghiệp (năm 2000, thay cho thuế nông nghiệp). Nội dung cơ
bản của chính sách đất nông nghiệp của Nhà nước Việt Nam hiện nay thể
hiện qua chế độ sở hữu đất nông nghiệp, chính sách giá đất của Nhà nước,
chính sách tích tụ và tập trung đất nông nghiệp, chính sách thuế đất
nông nghiệp và chính sách bồi thường khi thu hồi đất nông nghiệp.
a – Chế độ sở hữu đất nông nghiệp
Chế độ sở hữu đất nông nghiệp ở Việt Nam được phân
chia thành hai quyền: quyền sở hữu và quyền sử dụng. Hai quyền ấy được
phân cho hai chủ thể khác nhau là Nhà nước (đại diện cho chủ sở hữu toàn
dân) và người sử dụng, chủ yếu là nông dân.
Chế độ sở hữu đất đai đặc biệt của Việt Nam đã đưa đến một số hệ quả:
- Ở Việt Nam đã hình thành hai thị trường đất đai:
thị trường cấp I là thị trường giao dịch giữa Nhà nước và người sử dụng
đất (với nhiều chế độ khác nhau, như giao đất có thu tiền, không thu
tiền; giao đất có thời hạn khác nhau; cho thuê đất…); thị trường cấp II
là thị trường giao dịch giữa những người sử dụng đất nông nghiệp với
nhau. Thị trường cấp I được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ về đối tượng
được giao đất, giá giao đất, thời hạn giao đất và mục đích sử dụng đất.
Thị trường cấp II là thị trường chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo mục
đích đã được Nhà nước quy định, hoạt động tự phát, Nhà nước chỉ đứng ra
cung cấp các dịch vụ pháp lý cần thiết cho giao dịch và thu thuế. Trong
thực tế, thị trường cấp II chưa được tổ chức quy củ và chưa có dịch vụ
thích ứng nên hạn chế khả năng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông
nghiệp của nông dân.
- Nhà nước vừa đóng vai trò cơ quan quản lý hành
chính công đối với đất đai, vừa đóng vai trò chủ sở hữu đất, có quyền
quyết định thu hồi quyền sử dụng đất của nông dân, chuyển mục đích sử
dụng đất nông nghiệp và giao đất nông nghiệp đã được chuyển mục đích sử
dụng cho tổ chức và cá nhân không phải là nông dân, quy định giá thu hồi
đất nông nghiệp.
- Người nông dân ở vào vị thế yếu trong giao dịch đất nông nghiệp, thể hiện qua các khía cạnh:
Thứ nhất, người nông dân chỉ được sử dụng
đất nông nghiệp vào mục đích sản xuất nông nghiệp. Do mức sinh lợi của
ngành nông nghiệp thấp nên giá trị chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp
thành tiền không lớn, không khuyến khích người nông dân chuyển quyền sử
dụng này cho người khác.
Thứ hai, Nhà nước toàn quyền quy hoạch và
thu hồi đất nông nghiệp để chuyển thành đất đô thị hoặc đất kinh doanh
mà nông dân không có quyền thỏa thuận giá đất bị thu hồi, cũng như không
có quyền phản đối hoặc đòi hỏi đền bù thỏa đáng quyền lợi của mình.
Trường hợp đất thu hồi để làm các công trình công cộng như đường sá,
công trình thủy lợi… thì không có mặt bằng giá mới nên người nông dân
không cảm nhận được thiệt thòi của họ. Trường hợp Nhà nước thu hồi đất
để chuyển thành khu đô thị theo cách giao cho các doanh nghiệp đầu tư
kết cấu hạ tầng rồi bán nền, bán nhà… sẽ làm xuất hiện mặt bằng giá
quyền sử dụng đất phi nông nghiệp, thường cao hơn giá đất nông nghiệp
nhiều lần.
Thứ ba, thời hạn giao đất nông nghiệp cho
nông dân theo quy định của pháp luật hiện hành là quá ngắn (50 năm với
đất trồng cây lâu năm, 20 năm với đất còn lại) so với thời hạn giao đất
phi nông nghiệp. Hạn mức diện tích đất giao khá thấp.
b – Chính sách giá đất nông nghiệp
Chính sách giá đất nông nghiệp được quy định tại Điều
12 Luật Đất đai năm 1993, năm 2003 và mới nhất là Nghị định số
188/2004/NĐ-CP ngày 16-11-2004 của Chính phủ. Theo đó, có hai phương
pháp xác định giá đất: theo giá thị trường và theo thu nhập từ đất.
Quyền xác định giá đất được phân cấp rộng rãi cho chính quyền cấp tỉnh.
Chế độ điều chỉnh giá cũng linh hoạt hơn trước và bám sát giá thị
trường.(1)
Với việc chính thức công nhận giá đất thị trường và
điều chỉnh giá nhà nước theo giá thị trường, Nhà nước Việt Nam đã gián
tiếp thừa nhận quyền sử dụng đất có giá cả, tồn tại thị trường quyền sử
dụng đất và là một trong những cơ sở để Nhà nước xác định giá giao dịch
đất giữa Nhà nước và người dân.
Tuy nhiên, việc thực hiện những quy định này trong thực tế rất khó khăn. Thứ nhất,
do thị trường đất nông nghiệp hoạt động rất èo uột và chưa được tổ chức
nên hầu như không thể thu thập được thông tin tin cậy về giá. Do không
có thông tin giá thị trường thuyết phục nên các tổ chức định giá đất
thường lấy giá quy định từ đầu năm của chính quyền cấp tỉnh. Đến lượt
mình, giá đất này cũng được xác định một cách chủ quan nên chưa được
người dân tin cậy. Trên thực tế, nhiều địa phương phải thỏa thuận với
nông dân, nhưng người nông dân cũng không có thông tin, họ thường so bì
với những người chây ì, nhận tiền sau (những người này thường nhận được
giá cao hơn) hoặc so với giá đất đô thị chuyển nhượng tại các dự án khác
ở địa phương để đòi giá cao. Cách làm này dẫn đến hai hệ lụy: một là, vô hình trung khuyến khích nông dân chây ì; hai là, người nông dân luôn ở trạng thái bất bình do nhận thức mình bị thiệt thòi.
Thứ hai, do Nhà nước không ngăn chặn được
đầu cơ trên thị trường đất đô thị, nên giá đất đô thị tăng lên quá cao
khiến thông tin về giá này cũng không đáng tin cậy.
Để khắc phục khó khăn, nhiều địa phương đã tiến hành
các biện pháp nửa vời, dự án thuận lợi thì đền bù theo giá nhà nước, dự
án khó khăn thì để nhà đầu tư phụ thêm tiền đền bù theo giá thỏa thuận
với nông dân. Thậm chí, để giải phóng mặt bằng nhanh, nhiều nhà đầu tư
chấp nhận trả thêm tiền cho các hộ chây ì. Cách làm như vậy đã gây tác
động không tốt cho các hộ đã di dời.
c – Chính sách khuyến khích tích tụ và tập trung đất
Khi tiến hành giao đất lần đầu cho hộ nông dân vào
những năm đầu thập niên 90, thế kỷ XX, để giảm xung đột, Nhà nước đã
giao đất cho hộ theo chế độ bình quân cả về diện tích lẫn hạng đất. Hệ
quả là đất nông nghiệp được giao cho hộ gia đình nông dân rất manh mún.
Để khuyến khích nông dân tập trung đất nông nghiệp
phục vụ sản xuất quy mô lớn, Nhà nước sau đó có chính sách khuyến khích
nông dân “dồn điền, đổi thửa”, chuyển đổi, chuyển nhượng đất cho nhau.
Phong trào “dồn điền, đổi thửa” được chính quyền các tỉnh đồng bằng sông
Hồng hưởng ứng, nhưng kết quả đạt được không mấy khả quan. Số thửa
ruộng của một hộ có giảm đi, nhưng quy mô đất canh tác của một hộ nông
dân tăng không đáng kể do các hộ nông dân không muốn nhượng quyền sử
dụng đất nông nghiệp cho người khác vì nhiều lý do.
Ở các vùng chuyên canh phía Nam tình hình chuyển
nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp đạt kết quả khá hơn ở phía Bắc,
nhưng cũng chưa tạo đủ tiền đề để hình thành các trang trại lớn.
Các chính sách khuyến khích sử dụng đất tập trung ở
quy mô lớn, như hình thành các nông, lâm trường, các hợp tác xã sản xuất
nông nghiệp cũng tỏ ra không hiệu quả. Thậm chí các nông, lâm trường
buộc phải giao đất cho hộ công nhân nông, lâm trường để họ canh tác theo
phương thức gia đình. Mặc dù quá trình giao đất nông, lâm trường cho hộ
nông, lâm trường viên có tạo được động lực sử dụng đất hiệu quả hơn,
sản xuất phát triển hơn, nhưng gây khó khăn cho việc quản lý đất công
thuộc quyền sử dụng của nông, lâm trường, trong một số trường hợp còn
gây ra sự bất bình đẳng về quy mô đất được giao giữa gia đình nông, lâm
trường viên và gia đình nông dân canh tác ở cùng một khu vực. Một số hộ
nông dân thậm chí lấn chiếm đất nông, lâm trường để sử dụng một cách bất
hợp pháp.
d – Chính sách thu hồi và đền bù đất nông nghiệp
Từ thập niên 90 của thế kỷ thứ XX đến nay, Nhà nước
tiến hành thu hồi nhiều diện tích đất nông nghiệp để xây dựng các khu
công nghiệp, đô thị tập trung(2). Chính vì thế, chính sách thu hồi, đền
bù đất nông nghiệp tác động lớn đến nông dân.
Luật Đất đai của Việt Nam quy định: Nhà nước có quyền
thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp, đất ở của nông dân để sử dụng
cho các mục đích công cộng hoặc phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế –
xã hội. Khi thu hồi đất nông nghiệp, đất ở của nông dân, Nhà nước phải
đền bù cho nông dân đất mới theo diện tích và hạng đất tương đương. Nếu
không có đất đền bù hoặc đất đền bù ít hơn đất bị thu hồi, Nhà nước đền
tiền cho nông dân theo giá đất do Nhà nước quy định tại từng thời điểm.
Với quyền hạn như vậy, chính quyền một số địa phương đã thu hồi đất
nông nghiệp một cách thiếu thận trọng và ở quy mô lớn, khiến diện tích
đất của nông dân nhiều vùng giảm nhanh.
e – Chính sách thuế đất nông nghiệp
Nhà nước thu từ nông dân sử dụng đất nông nghiệp các
khoản: tiền thuê đất, thuế sử dụng đất và một số lệ phí quản lý đất đai.
Nhìn chung, tổng thuế sử dụng đất nông nghiệp không lớn. Từ năm 2003
đến năm 2010, Chính phủ đã quyết định miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp
trong hạn điền cho tất cả hộ nông dân và miễn hoàn toàn thuế sử dụng đất
cho hộ nông dân nghèo, giảm 50% cho diện tích vượt hạn điền.
Tiền thuê đất chỉ áp dụng đối với diện tích đất vượt
hạn điền hoặc đất đấu thầu. Các khoản lệ phí về đất không lớn, thường là
phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phí trích lục bản đồ, phí
đăng ký đất…
Xét tổng thể, chính sách thuế đất nông nghiệp của
Việt Nam được giảm nhẹ ở nhiều khâu, kể cả việc Nhà nước không thu thuế
chuyển nhượng đất nông nghiệp giữa những người nông dân với nhau nhằm
khuyến khích tập trung đất và chưa thu thuế giá trị gia tăng từ đất.
Tác động của chính sách đất đai đến sản xuất và đời sống của nông dân hiện nay
Tác động tích cực:
- Chính sách đất đai đã tạo điều kiện cho nông
dân chủ động lao động, sản xuất, kinh doanh nhằm tăng hiệu quả sử dụng
đất và tăng thu nhập.
So với các tầng lớp dân cư khác, nông dân Việt Nam
được hưởng 3 lợi ích từ chính sách đất nông nghiệp: được giao đất nông
nghiệp không mất tiền; được quyền chủ động sắp xếp kế hoạch canh tác và
bán nông sản theo nguyên tắc thị trường để cải thiện cuộc sống; được
chuyển nhượng quyền sử dụng đất như một tài sản. Nhờ đó, cuộc sống của
nông dân được cải thiện.
- Chính sách đất nông nghiệp tạo điều kiện để nông dân chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Chế độ giao đất cho hộ nông dân và coi hộ nông dân là
đơn vị kinh tế tự chủ cho phép họ lựa chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi
có lợi nhất trên đất được giao đã tạo điều kiện cho nhiều gia đình,
nhiều xã, nhiều huyện, tỉnh lựa chọn cơ cấu sản xuất thích hợp. Trong cả
nước, số hộ độc canh lúa giảm đi. Đã xuất hiện nhiều hộ, nhiều trang
trại chuyên canh nông sản hàng hóa.
- Chính sách đất nông nghiệp hỗ trợ nông dân tiếp cận tín dụng ngân hàng.
Việc hợp thức hóa quyền sử dụng đất nông nghiệp bằng
cách cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho nông dân đã
hỗ trợ họ không chỉ trong thực hành giao dịch quyền sử dụng đất an toàn,
nhất là cho thuê, góp vốn sản xuất, mà còn giúp họ thế chấp quyền sử
dụng đất để vay vốn ngân hàng.
- Chính sách đất nông nghiệp đã bước đầu khuyến khích nông dân tích tụ, tập trung đất để kinh doanh hiệu quả hơn.
Về mặt pháp lý, có quyền sử dụng đất nông nghiệp hợp
pháp, được Nhà nước bảo hộ, nên nông dân có thể chuyển đổi, chuyển
nhượng đất cho nhau hoặc thuê mướn để có diện tích đất nông nghiệp liền
khoảnh, quy mô lớn thích hợp với cơ giới hóa, từ đó thuận lợi cho việc
áp dụng các biện pháp bảo vệ thực vật và thâm canh. Những người không có
khả năng làm nông nghiệp hiệu quả cũng có thể nhượng quyền sử dụng đất
nông nghiệp cho người khác để có tiền chuyển sang làm các nghề phi nông
nghiệp. Nhờ đó, quá trình chuyên môn hóa ngành nghề và “sàng lọc” để tìm
ra người làm nông nghiệp giỏi được thúc đẩy nhanh hơn.
- Chính sách đất nông nghiệp kích hoạt thị trường
bất động sản ở nông thôn, tạo điều kiện phân bổ đất nông nghiệp hiệu
quả, hình thành nhiều ngành nghề mới ở nông thôn.
Thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp ở nông thôn
được kích hoạt đã tạo điều kiện cho giao dịch quyền sử dụng đất thuận
lợi hơn, chi phí giao dịch giảm. Do có thể chuyển nhượng dễ dàng quyền
sử dụng đất nông nghiệp nên đất đai cũng được sử dụng hiệu quả hơn theo
tín hiệu của thị trường, nhờ đó thúc đẩy quá trình phân bổ lại đất đai
giữa trồng trọt, thủy sản và chăn nuôi, đồng thời góp phần khôi phục và
phát triển nhiều làng nghề truyền thống.
Tác động không mong muốn của chính sách đất nông nghiệp:
- Nông dân chưa được lợi nhiều từ quyền sử dụng đất nông nghiệp.
Do nông dân không được tự ý chuyển đất nông nghiệp
sang các loại đất khác, đồng thời do đất nông nghiệp sinh lợi thấp nên
giá quyền sử dụng đất nông nghiệp thấp hơn giá quyền sử dụng các loại
đất khác rất nhiều. Hơn nữa, quyền sử dụng đất nông nghiệp của nông dân
dễ bị thu hồi. Nông dân không những chỉ được sử dụng đất nông nghiệp với
kỳ hạn ngắn nhất, mà còn được hưởng lợi ít nhất khi đất nông nghiệp
được sử dụng vào mục đích khác. Vô hình trung, chính sách này không
khuyến khích nông dân gắn bó với nông nghiệp do cơ hội làm giàu ở đây
rất thấp.
- Tình trạng nông dân không có đất.
Giao 5 quyền đối với đất nông nghiệp cho nông dân và
kích hoạt thị trường bất động sản, Nhà nước đồng thời buộc nông dân phải
chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất, kinh doanh trong điều kiện thị
trường cạnh tranh và bấp bênh, mức tích lũy thấp. Thậm chí, nhiều dịch
vụ ở nông thôn được bao cấp trước kia và nhiều nguồn tài chính tái phân
bổ cho nông dân nghèo trong thời kỳ bao cấp đang bị suy giảm nghiêm
trọng. Hệ quả là, khi gặp hoàn cảnh khó khăn, nông dân chỉ có cách bán
quyền sử dụng đất nông nghiệp và trở thành nghèo đói. Nhà nước không có
nhiều khả năng để hỗ trợ họ giữ đất nông nghiệp làm phương tiện mưu
sinh. Chính vì vậy, phân hóa giàu nghèo phát sinh ngay trong giai cấp
nông dân. Tệ nạn xã hội cũng có cơ hội len lỏi vào các làng quê Việt
Nam.
- Chính sách đất nông nghiệp chưa khuyến khích nông dân bảo vệ đất và đầu tư dài hạn vào đất.
Nhà nước không giao quyền sử dụng đất dài hạn, ổn
định cho hộ gia đình nông dân, nên không khuyến khích họ đầu tư lâu dài
nhằm bảo tồn đất nông nghiệp. Cộng với xu hướng chạy theo sản lượng, đã
xuất hiện tình trạng nông dân lạm dụng hóa chất để thâm canh, không chú
trọng đầu tư cải tạo đất lâu dài, làm thoái hóa đất nông nghiệp, thậm
chí gây ô nhiễm đất.
- Tác động hỗ trợ nông dân tích tụ, tập trung đất chưa đạt yêu cầu.
Chính sách giao đất bình quân khiến đất nông nghiệp trở nên manh mún. Ngoài ra, do số lao động rút khỏi ngành nông nghiệp không đủ lớn để làm giảm số lượng lao động nông nghiệp trên diện tích đất đai đi đôi
với việc chuyển diện tích lớn đất nông nghiệp sang sử dụng với mục đích
khác dẫn đến quy mô đất nông nghiệp bình quân đầu người tiếp tục giảm.
Hiện nay, chỉ còn ít cơ sở sản xuất nông nghiệp có quy mô từ 3 – 5 ha
trở lên, mà đa phần là các hộ gia đình có quy mô diện tích dưới 1 ha.
- Chính sách thu hồi đất và giá đất nông nghiệp khiến nông dân thiệt thòi.
Thiệt thòi thứ nhất là Nhà nước không đủ quỹ đất nông nghiệp để đền bù cho nông dân nên họ trở nên không còn phương tiện để sinh sống. Thiệt thòi thứ hai
là các vùng đất dành để đền bù cho nông dân thường không thuận lợi bằng
đất bị thu hồi, nên đời sống của họ trở nên khó khăn hơn. Thiệt thòi thứ ba
là nông dân không được quyền thỏa thuận khi đền bù. Những chính sách
như đào tạo nghề cho nông dân thuộc diện thu hồi đất, khuyến khích người
nhận quyền sử dụng đất thu hồi từ nông dân chia sẻ lợi ích với nông
dân, chính sách tái định cư… thường đem lại hiệu quả thấp.
- Chưa tạo điều kiện khuyến khích nông dân thực hành nông nghiệp hiện đại.
Hạn mức sử dụng đất nông nghiệp giao cho nông dân quá
thấp khiến hầu hết các hộ nông nghiệp đều canh tác bằng lao động thủ
công của gia đình, không có nhu cầu mua máy móc và hợp tác với nhau
trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, trong giao dịch tư liệu sản xuất
và tiêu thụ nông sản, trong áp dụng đồng bộ khoa học – kỹ thuật vào sản
xuất nông nghiệp. Chính vì vậy, năng suất và hiệu quả của sản xuất nông
nghiệp còn thấp.
Giải pháp đổi mới chính sách đất nông nghiệp
Một là, đổi mới chính sách đất nông nghiệp theo hướng tăng quy mô đất canh tác của hộ gia đình và hạn điền.
Chính sách đất nông nghiệp cần đáp ứng các yêu cầu
của nông nghiệp hiện đại và cải thiện điều kiện sản xuất cho nông dân.
Trước hết, cần đổi mới chính sách hạn điền. Đi đôi với thái độ thận
trọng hơn khi chuyển quỹ đất nông nghiệp sang đất đô thị và khu công
nghiệp, cần khuyến khích nông dân đầu tư vào đất để tăng giá trị sản
xuất trên đất, từ đó mà tăng thu nhập. Muốn vậy, nên mở rộng quy mô hạn
điền tương đương với các trang trại hoạt động hiệu quả của các nước
trong khu vực. Không nên giới hạn thời gian sử dụng đất, chỉ nên quản lý
bằng quy hoạch không gian tổng thể và trách nhiệm giao đất của nông dân
khi nhu cầu quốc gia đòi hỏi. Đồng thời, cải tiến mạnh mẽ các thủ tục
hành chính nhà nước liên quan đến bảo hộ quyền sử dụng đất nông nghiệp,
đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp theo hướng công khai quy
trình, điều kiện, giảm phí tổn thực hiện và tăng điểm tiếp cận cho dân
cư ở nông thôn. Tổ chức thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp hoạt
động theo hướng công khai, linh hoạt nhằm hỗ trợ nông dân tích tụ, tập
trung đất đạt quy mô hiệu quả.
Hai là, đổi mới chính sách đất nông nghiệp theo hướng tăng vị thế của nông dân trong giao dịch đất.
Thay đổi chính sách giá quyền sử dụng đất nông nghiệp
khi Nhà nước thu hồi theo hướng coi trọng hơn lợi ích của người dân
thuộc diện thu hồi đất, tạo điều kiện để nông dân tham gia thỏa thuận
giá đất đền bù, phân bổ lợi ích hợp lý giữa đơn vị nhận đất và nông dân
thuộc diện thu hồi đất. Nên đền bù đất theo giá thỏa thuận, trong đó
nông dân được coi là một bên thỏa thuận quan trọng. Muốn vậy, phải
khuyến khích các tổ chức của nông dân vào cuộc thông qua các hoạt động
nghiên cứu, định giá trên thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp. Nhà
nước cũng cần khuyến khích các tổ chức cung cấp dịch vụ, nhất là dịch vụ
định giá và cung cấp thông tin cho thị trường này. Việc sửa đổi Luật
Đất đai nên xác định cơ chế pháp lý cho phép nông dân có vị thế bình
đẳng, có lợi trong giao dịch đất với các chủ thể kinh tế khác, nhất là
quyền chấp thuận hay không chấp thuận việc thu hồi đất nông nghiệp
chuyển sang kinh doanh phi nông nghiệp.
Các hình thức tham gia đầu tư dự án hoặc góp vốn mua
cổ phần bằng quyền sử dụng đất của nông dân phải được pháp luật bảo hộ
đủ mức, tránh đẩy nông dân vào vị thế bất lợi trong doanh nghiệp do
không có khả năng tham gia quản lý doanh nghiệp.
Về lâu dài, cần có chính sách bảo vệ quỹ đất nông
nghiệp, hạn chế chuyển đất nông nghiệp sang xây dựng đô thị, nhà ở, công
sở. Hạn chế xây dựng các khu công nghiệp xen kẽ với các diện tích canh
tác nông nghiệp để giảm thiểu tác động ô nhiễm không mong muốn, cũng như
không được phá vỡ hệ thống thủy lợi đã xây dựng.
Ba là, cải cách thủ tục hành chính quản lý đất nhằm kích hoạt thị trường đất nông nghiệp.
Công khai hóa và tinh giản thủ tục quản lý đất để
quyền sử dụng đất nông nghiệp trở thành hàng hóa và có thể lưu thông dễ
dàng, nhất là ổn định và công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của
Nhà nước.
Nhà nước cần có chính sách khuyến khích phát triển
thị trường chuyển nhượng, cho thuê đất nông nghiệp theo hướng công khai,
minh bạch, được Nhà nước bảo hộ.
Đi đôi với các giải pháp trên cũng cần tăng cường tư
vấn pháp lý về đất đai cho nông dân để họ có thể tham gia thị trường
chuyển nhượng quyền sử dụng đất một cách có lợi. Đồng thời, Nhà nước cần
nâng cao chất lượng công tác quản lý đất đai, nhất là khâu lập hồ sơ
đăng ký đất và bản đồ để có thể cung cấp dịch vụ cần thiết cho các bên
giao dịch./.
______________
(1) Theo Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày
16-11-2004, khi giá nhà nước chêch lệch với giá thị trường quá 30%, kéo
dài trong 60 ngày thì Bộ Tài chính có phương án trình Chính phủ điều
chỉnh giá nhà nước
(2) Trong thời gian từ năm 2000 – 2005, Nhà nước đã thu hồi 366.000 ha đất nông nghiệp, trung bình mỗi năm thu hồi 73.000 ha
SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN ĐIỆN TỬ - PGS.TS. TRẦN THỊ MINH CHÂU – Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Trích dẫn từ:http://tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2011/12534/Chinh-sach-dat-nong-nghiep-o-Viet-Nam.aspx