Đề cương giới thiệu luật chuyển giao công nghệ năm 2006
Ngày 29 tháng 11 năm 2006 Quốc hội đã thông qua Luật Chuyển giao công nghệ. Luật sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2007.
I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH
LUẬT CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
1. Thời gian qua,
nhiều văn bản của Đảng về chủ trương, chính sách phát triển khoa học và công
nghệ đã được ban hành đều nhấn mạnh việc thúc đẩy hoạt động chuyển giao công
nghệ.
Nghị quyết Hội
nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII và Kết luận của Hội nghị
lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về tiếp tục thực hiện Nghị
quyết Trung ương 2 khoá VIII đã khẳng định: lấy ứng dụng, chuyển giao công
nghệ, làm chủ công nghệ nhập, đi thẳng vào công nghệ tiên tiến ở những ngành,
những lĩnh vực có tác động chi phối nền kinh tế quốc dân, những ngành có giá
trị gia tăng cao, ngành công nghiệp mới, ngành sản xuất sản phẩm xuất khẩu chủ
lực; cần nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật về chuyển giao công nghệ để
đảm bảo cho hoạt động đổi mới, chuyển giao công nghệ có hiệu quả; xây dựng cơ
chế, chính sách mới để hỗ trợ và thúc đẩy doanh nghiệp thường xuyên đổi mới
công nghệ; hoàn thiện cơ sở pháp lý về nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật về
chuyển giao công nghệ; phát triển mạnh mẽ các tổ chức dịch vụ tư vấn, đánh giá,
định giá, giám định, môi giới, xúc tiến chuyển giao công nghệ.
2. Trong bối cảnh
toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay, công nghệ đang ngày càng trở
thành yếu tố quan trọng, quyết định năng lực cạnh tranh của quốc gia nói chung
và của doanh nghiệp nói riêng. Tiềm lực công nghệ, nếu được
phát triển, sử dụng và quản lý một cách thích hợp, sẽ đóng góp có hiệu quả vào
việc cải thiện chất lượng cuộc sống, bảo đảm nền quốc phòng, an ninh quốc gia
và tăng cường vị trí kinh tế của đất nước trên thế giới. Đối với doanh nghiệp,
việc đổi mới công nghệ cho phép tăng tỷ trọng phần giá trị gia tăng của sản
phẩm, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng. Đối với
quốc gia, tốc độ đổi mới công nghệ và mức độ làm chủ được các công nghệ mới,
hiện đại, sẽ góp phần quan trọng, quyết định vào sự thành công của quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Đất nước ta đang
trong đang trong quá trình đổi mới, chủ động hội nhập, đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế một mặt giúp
chúng ta có cơ hội tranh thủ tiếp cận các thành tựu khoa học và công nghệ tiến
bộ của thế giới, mặt khác, buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với
thách thức to lớn trước sức ép cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt. Để hội
nhập thành công trong điều kiện năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh
nghiệp và sản phẩm còn yếu kém, chúng ta cần có cơ chế, chính sách nâng cao hơn
nữa vai trò của công nghệ đối với quá trình phát triển kinh tế và cải thiện
năng lực cạnh tranh của quốc gia. Đẩy mạnh hoạt động chuyển giao công nghệ -
phương thức quan trọng để đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ trong các
doanh nghiệp.
3. Trong 20 năm
đổi mới và mở cửa, hoạt động chuyển giao công nghệ ở nước ta và hệ thống pháp
luật trong lĩnh vực này đã góp phần đáng kể nâng cao trình độ công nghệ của các
ngành sản xuất, dịch vụ và thúc đẩy phát triển kinh tế, đồng thời, ngăn chặn
các công nghệ, thiết bị lạc hậu từ nước ngoài xâm nhập vào Việt Nam. Qua từng
thời kỳ, hoạt động quản lý nhà nước về thẩm định, giám định và chuyển giao công
nghệ cũng được đổi mới từng bước theo hướng giảm thủ tục hành chính, tạo cơ chế
thông thoáng cho các doanh nghiệp, khuyến khích đổi mới, ứng dụng và thương mại
hoá công nghệ. Trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thuỷ sản, xây dựng,
bưu chính - viễn thông, giao thông vận tải, năng lực công nghệ đã được cải
thiện nhờ tiếp nhận và ứng dụng nhiều công nghệ tiên tiến, hiện đại, góp phần
chuyển dịch cơ cấu và nâng cao chất lượng sản phẩm, duy trì tốc độ tăng
trưởng và kim ngạch xuất khẩu của ngành.
Tuy nhiên, xét
trên phạm vi của cả nền kinh tế, đóng góp vào tăng trưởng chủ yếu vẫn là yếu tố
vốn và lao động, yếu tố về công nghệ tuy có tăng nhưng vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ.
Tồn tại hiện nay của nền kinh tế là đổi mới công nghệ chưa trở thành nhu cầu
bức thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp. Điều này dẫn
tới thực trạng là trình độ công nghệ của nhiều ngành và doanh nghiệp còn lạc
hậu, năng lực công nghệ nhìn
chung chậm được cải thiện, nhiều lĩnh vực công nghệ cao
chậm được ứng dụng và phổ biến, nhiều sản phẩm kém sức cạnh tranh cả ở thị
trường trong nước và nước ngoài.
Không chỉ thực
trạng công nghệ lạc hậu, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động chuyển giao
công nghệ cũng chưa theo kịp với những thay đổi của đời sống kinh tế - xã hội,
đặc biệt là với các quy luật của kinh tế thị trường. Có thể nêu một số điểm bất
cập cần khắc phục như sau:
- Từ năm 1988 trở
lại đây, Nhà nước đã ban hành hơn 30 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến
chuyển giao công nghệ, trong đó, có hiệu lực pháp lý cao nhất là Bộ luật dân
sự. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành về chuyển giao công nghệ chưa
thống nhất và đồng bộ. Bộ luật dân sự năm 2005 chỉ quy định 4 điều mang tính
nguyên tắc về chuyển giao công nghệ. Những quy định cụ thể chủ yếu nằm trong
các văn bản hướng dẫn thi hành, hiệu lực pháp lý thấp, thiếu ổn định, ảnh hưởng
tới niềm tin của các chủ thể nắm giữ công nghệ, đặc biệt là các đối tác nước
ngoài khi tiến hành đầu tư, chuyển giao công nghệ tại Việt Nam.
- Chưa tạo được cơ chế thực sự thông thoáng cho các doanh nghiệp khi tham
gia đổi mới và chuyển giao công nghệ. Thiếu các chính sách hỗ trợ đồng bộ, khả
thi để thúc đẩy hoạt động ứng dụng, đổi mới, thương mại hoá công nghệ trong
nước. Phương thức quản lý nhà nước trong lĩnh vực này chưa phù hợp với cơ chế
thị trường, hạn chế quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các chủ thể tham gia
hoạt động chuyển giao công nghệ.
- Thiếu cơ sở pháp
lý cần thiết thúc đẩy việc hình thành và hoạt động của các tổ chức dịch vụ hỗ
trợ chuyển giao công nghệ (dịch vụ thông tin, tư vấn, môi giới, đánh giá, thẩm
định, giám định công nghệ), mặc dù đây là một yếu tố cấu thành quan trọng, không
thể thiếu của thị trường công nghệ.
4. Trong bối cảnh
nước ta đang đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá đất nước và hội nhập kinh tế
quốc tế, việc ban hành Luật chuyển giao công nghệ là hết sức cần thiết và c��p
bách. Đây sẽ là một đạo luật chuyên ngành thống nhất điều chỉnh hoạt động
chuyển giao công nghệ, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy hoạt động nghiên cứu,
phát triển, đổi mới và thương mại hoá công nghệ, khuyến khích cạnh tranh lành
mạnh, thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển thị trường công nghệ, từ đó nâng
cao trình độ công nghệ và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và cả nền
kinh tế, phục vụ phát triển đất nước nhanh và bền vững.
II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VIỆC XÂY DỰNG
LUẬT
Luật chuyển giao công nghệ được xây dựng trên
cơ sở quán triệt các quan điểm chỉ đạo sau đây:
1.
Thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng về khuyến khích hoạt
động ứng dụng, đổi mới, chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển bền vững kinh
tế - xã hội.
2. Đẩy mạnh tiếp thu, ứng dụng, làm chủ công
nghệ nhập hiện đại, nhanh chóng nâng cao năng lực đổi mới, sáng tạo công nghệ,
thúc đẩy tốc độ và chất lượng tăng trưởng của các doanh nghiệp và cả nền kinh
tế; nâng cao tỷ trọng đóng góp của yếu tố công nghệ vào năng lực cạnh tranh
quốc gia để hội nhập và công nghiệp hoá thành công.
3. Tạo môi trường thuận lợi cho các chủ thể
tham gia hoạt động chuyển giao công nghệ trên cơ sở bảo đảm tôn trọng quyền tự
chủ, tự chịu trách nhiệm, tự do cam kết, thoả thuận giữa các bên tham gia hoạt
động chuyển giao công nghệ; nhà nước chỉ can thiệp vào các quan hệ này nhằm bảo
đảm lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.
III. CẤU
TRÚC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
Luật Chuyển giao công nghệ gồm 7 chương, 61 điều.
Chương
I. Những quy định chung (gồm 13 điều, từ Điều 1 đến Điều 13)
Chương này
quy định những vấn đề có tính nguyên tắc chung, chi phối toàn bộ nội dung của
Luật, bao gồm: phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; giải thích từ ngữ; áp
dụng pháp luật; chính sách của nhà nước đối với hoạt động chuyển giao công
nghệ; nội dung quản lý nhà nước về hoạt
động chuyển giao công nghệ; đối tượng công nghệ được chuyển giao; quyền chuyển
giao; công nghệ được khuyến khích chuyển giao; công nghệ hạn chế chuyển giao;
công nghệ cấm chuyển giao; hình thức chuyển giao công nghệ; các hành vi bị
nghiêm cấm trong hoạt động chuyển giao công nghệ.
- Phạm
vi điều chỉnh
Điều 1
Luật Chuyển giao công nghệ quy định về hoạt động chuyển giao công nghệ tại Việt
Nam, từ Việt Nam ra nước ngoài và từ nước ngoài vào Việt Nam; quyền và nghĩa vụ
của tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động chuyển giao công nghệ; thẩm quyền
của các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động chuyển giao công nghệ; các
biện pháp khuyến khích, thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ
- Đối
tượng áp dụng
Điều 2
Luật chuyển giao công nghệ quy định: Luật áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt
Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia
hoạt động chuyển giao công nghệ.
Những đối
tượng trên khi có hoạt động liên quan đến chuyển giao công nghệ phải tuân theo
các quy định của Luật Chuyển giao công nghệ. Trong trường hợp chuyển giao công
ngh�� đặc thù được quy định trong luật
khác thì áp dung theo quy định của luật đó; trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của
Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó; trường hợp hoạt động
chuyển giao công nghệ có yếu tố nước ngoài thì các bên có thể thoả thuận trong
hợp đồng việc áp dụng pháp luật nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế, nếu
pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với nguyên tắc
cơ bản của pháp luật Việt Nam (Điều 4)
- Chính sách của Nhà nước đối với hoạt
động chuyển giao công nghệ (Điều 5)
+ Bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân hoạt
động chuyển giao công nghệ phục vụ nhu cầu phát triển nhanh và bền vững kinh tế
- xã hội của đất nước.
+ Ưu tiên
phát triển công nghệ cao, công nghệ tiên tiến; phát triển nguồn nhân lực công
nghệ đồng bộ với đầu tư đổi mới công nghệ.
+ Phat triển
mạnh thị trường công nghệ; khuyến khích và thúc đẩy hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh
nghiệp công nghệ; đẩy mạnh việc chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất,
kinh doanh.
+ Chú trọng
nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động chuyển giao công nghệ ở vùng nông thôn,
miền núi; khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động chuyển giao công
nghệ ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và địa bàn có điều kiện
kinh tế -xã hội đặc biệt khó khăn.
+
Nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế và tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá
nhân hợp tác quốc tế trong hoạt động chuyển giao công nghệ.
-
Nội dung quản lý nhà nước
về hoạt động chuyển giao công nghệ (Điều 6) quy định:
+
Ban hành, tổ chức thực hiện và tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về
chuyển giao công nghệ.
+
Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, kế hoạch, chương trình, biện pháp, cơ
chế, chính sách thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ.
+
Quản lý thống nhất hoạt động chuyển giao công nghệ.
+
Hợp tác quốc tế về hoạt động chuyển giao công nghệ.
+
Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về chuyển giao công nghệ; giải
quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về chuyển giao công nghệ.
- Đối tượng công nghệ được chuyển giao (Điều
7)
+
Đối tượng công nghệ được chuyển giao là một phần hoặc toàn bộ công nghệ, bao
gồm: Bí quyết kỹ thuật; kiến thức kỹ
thuật về công nghệ được chuyển giao dưới dạng phương án công nghệ, quy trình
công nghệ, giải pháp kỹ thuật, công thức, thông số kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹ
thuật, chương trình máy tính, thông tin dữ liệu; giải pháp hợp lý hoá sản xuất,
đổi mới công nghệ.
+
Đối tượng công nghệ được chuyển giao có thể gắn hoặc không gắn với đối tượng sở
hữu công nghiệp.
-
Quyền chuyển giao công nghệ (Điều 8)
+
Chủ sở hữu công nghệ có quyền
chuyển giao quyền sở hữu,
quyền sử dụng công nghệ.
+ Tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu công
nghệ cho phép chuyển giao quyền sử dụng công nghệ có quyền chuyển giao
quyền sử dụng công nghệ đó.
+ Tổ chức, cá nhân có công nghệ là đối
tượng sở hữu công nghiệp nhưng đã hết thời hạn bảo hộ hoặc không được
bảo hộ tại Việt Nam có quyền chuyển giao quyền sử dụng công nghệ đó.
-
Công nghệ được khuyến khích chuyển giao(Điều 9)
Công
nghệ được khuyến khích chuyển giao là công nghệ cao, công nghệ tiên tiến đáp
ứng một trong các yêu cầu sau đây:
+ Tạo ra sản phẩm mới có tính cạnh
tranh cao;
+
Tạo ra ngành công nghiệp, dịch vụ mới;
+
Tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu;
+
Sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo;
+ Bảo vệ sức khỏe con người;
+
Phòng, chống thiên tai, dịch bệnh;
+
Sản xuất sạch, thân thiện môi trường;
+ Phát triển ngành, nghề truyền thống.
- Công nghệ hạn chế chuyển giao (Điều 10)
Hạn
chế chuyển giao một số công nghệ nhằm mục đích: bảo vệ lợi ích quốc gia; bảo vệ
sức khỏe con người; bảo vệ giá trị văn hoá dân tộc; bảo vệ động vật, thực vật,
tài nguyên, môi trường; thực hiện quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
-
Công nghệ cấm chuyển giao (Điều 11)
+
Công nghệ không đáp ứng các quy định của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh
lao động, bảo đảm sức khỏe con người, bảo vệ tài nguyên và môi trường.
+
Công nghệ tạo ra sản phẩm gây hậu quả xấu đến phát triển kinh tế - xã hội và
ảnh hưởng xấu đến quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
+
Công nghệ không được chuyển giao theo quy định của điều ước quốc tế mà
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
+ Công nghệ thuộc Danh mục bí mật nhà
nước, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
-
Hình thức chuyển giao công nghệ (Điều 12)
Việc
chuyển giao công nghệ được thực hiện thông qua các hình thức sau đây: +
Hợp đồng chuyển giao công nghệ độc lập;
+
Phần chuyển giao công nghệ trong dự án hoặc hợp đồng sau đây: Dự án đầu tư; Hợp
đồng nhượng quyền thương mại; Hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công
nghiệp; Hợp đồng mua bán máy móc, thiết bị kèm theo chuyển giao công nghệ;
+
Hình thức chuyển giao công nghệ khác theo quy định của pháp luật.
- Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt
động chuyển giao công nghệ
Để
bảo đảm hoạt động trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ, Điều 13 Luật Chuyển
giao công nghệ đã quy định các hành vi bị nghiêm cấm, cụ thể:
+
Lợi dụng hoạt động chuyển giao công nghệ làm tổn hại đến lợi ích quốc
phòng, an ninh, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
+
Huỷ hoại tài nguyên, môi trường; gây hậu quả xấu đến sức khoẻ con người, đạo
đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc.
+
Chuyển giao công nghệ thuộc Danh mục công nghệ cấm chuyển giao; chuyển giao
trái phép công nghệ thuộc Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao; chuyển giao
công nghệ quy định trong hợp đồng chuyển giao công nghệ không được chuyển giao
cho bên thứ ba.
+
Vi phạm quyền chuyển giao công nghệ về sở hữu, sử dụng công nghệ.
+ Gian
lận, lừa dối trong việc lập và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ và hợp
đồng dịch vụ chuyển giao công nghệ và báo cáo thống kê chuyển giao công nghệ.
+
Cản trở hoặc từ chối cung cấp thông tin về hoạt động chuyển giao công nghệ liên
quan đến nội dung thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm
quyền.
+
Lợi dụng việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn để sách nhiễu, gây phiền hà,
không thực hiện kịp thời yêu cầu của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động chuyển
giao công nghệ theo quy định của pháp luật.
+
Tiết lộ bí mật công nghệ, cản trở hoạt động chuyển giao công nghệ.
+
Hành vi bị nghiêm cấm khác theo quy định của pháp luật về chuyển giao công
nghệ.
Chương
II. Hợp đồng chuyển giao công
nghệ (gồm 14 điều, từ Điều 14
đến Điều 27)
Chương này quy định nguyên
tắc giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ; nội dung hợp đồng
chuyển giao công nghệ; chuyển giao quyền sở hữu công nghệ; chuyển giao quyền sử
dụng công nghệ; phương thức chuyển giao công nghệ; thời điểm có hiêu lực của
hợp đồng chuyển giao công nghệ; quyền và nghĩa vụ của bên giao, bên nhận công
nghệ; giá và phương thức thanh toán
chuyển giao công nghệ; thủ tục cấp phép chuyển giao công nghệ thuộc Danh mục
hạn chế chuyển giao; hồ sơ đề nghị chấp thuận chuyển giao công nghệ, hồ sơ đề
nghị cấp Giấy phép chuyển giao công nghệ thuộc Danh mục công nghệ hạn chế
chuyển giao; quyền, thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ; nghĩa vụ
bảo mật trong việc cấp giấy phép chuyển giao công nghệ, cấp giấy chứng nhận
đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ; xử lý vi phạm hợp đồng chuyển giao công
nghệ
-
Nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ, Điều 14 Luật
quy định:
+
Việc giao kết hợp đồng chuyển giao công nghệ được thực hiện thông qua
hợp đồng bằng văn bản hoặc hình thức khác có giá trị tương đương văn
bản, bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo
quy định của pháp luật.
+
Ngôn ngữ trong hợp đồng chuyển giao công nghệ do các bên thoả thuận; trường hợp
cần giao dịch tại Việt Nam thì phải có hợp đồng bằng tiếng Việt. Hợp
đồng bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài có giá trị như nhau.
+
Hợp đồng chuyển giao công nghệ được giao kết và thực hiện theo quy định của
Luật này, Bộ luật dân sự, Luật thương mại và các quy định khác của pháp luật có
liên quan.
-
Luật quy định nội dung hợp đồng chuyển giao công nghệ (Điều 15) do các bên tham
gia giao kết hợp đồng chuyển giao công nghệ có thể thỏa thuận về những nội dung
sau đây:
+
Tên hợp đồng chuyển giao công nghệ, trong đó ghi rõ tên công nghệ được chuyển
giao;
+
Đối tượng công nghệ được chuyển giao, sản phẩm do công nghệ tạo ra;
+ Chuyển giao quyền sở hữu,
quyền sử dụng công nghệ;
+ Phương thức chuyển giao công nghệ;
+ Quyền và nghĩa vụ của các bên;
+
Giá, phương thức thanh toán;
+ Thời điểm, thời hạn hiệu lực của hợp
đồng;
+ Khái niệm, thuật ngữ sử dụng trong
hợp đồng (nếu có);
+ Kế hoạch, tiến độ chuyển giao công
nghệ, địa điểm thực hiện chuyển giao công nghệ;
+ Trách nhiệm bảo hành công nghệ được
chuyển giao;
+ Phạt vi phạm hợp đồng;
+ Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;
+
Pháp luật được áp dụng để giải quyết tranh chấp;
+
Cơ quan giải quyết tranh chấp;
+
Các thoả thuận khác không trái với quy định của pháp luật Việt Nam.
- Điều 16 Luật quy định chuyển giao quyền sở
hữu công nghệ như sau:
+ Chuyển giao quyền sở hữu công
nghệ là việc chủ sở hữu công nghệ chuyển giao toàn bộ quyền chiếm hữu, quyền sử
dụng, quyền định đoạt công nghệ cho tổ chức, cá nhân khác theo quy định tại
Điều 18 của Luật này.
+ Trường hợp công nghệ là đối tượng được
bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thì việc chuyển giao quyền sở hữu công nghệ
phải được thực hiện cùng với việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp theo quy
định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
- Chuyển
giao quyền sử dụng công nghệ (Điều 17) quy định như sau:
+ Chuyển
giao quyền sử dụng công nghệ là việc tổ chức, cá nhân quy định tại Điều 8 của
Luật này cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng công nghệ theo quy định tại
khoản 2 Điều này và Điều 18 của Luật chuyển giao công nghệ.
+ Phạm vi
chuyển giao quyền sử dụng công nghệ do các bên thỏa thuận, bao gồm: Độc quyền
hoặc không độc quyền sử dụng công nghệ; Được chuyển giao lại hoặc không được
chuyển giao lại quyền sử dụng công nghệ cho bên thứ ba; Lĩnh vực sử dụng công
nghệ; Quyền được cải tiến công nghệ, quyền được nhận thông tin cải tiến công
nghệ; Độc quyền hoặc không độc quyền phân phối, bán sản phẩm do công nghệ được
chuyển giao tạo ra; Phạm vi lãnh thổ được bán
sản phẩm do công nghệ được chuyển giao tạo ra; Các quyền khác liên quan
đến công nghệ được chuyển giao.
+ Trường
hợp công nghệ là đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thì việc chuyển
giao quyền sử dụng công nghệ phải được thực hiện cùng với việc chuyển
giao quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
- Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển
giao công nghệ được quy định tại Điều 19 như sau:
+
Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển giao công nghệ do các bên thỏa thuận,
trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này; trường hợp các bên không
thỏa thuận về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thì thời điểm có hiệu lực của
hợp đồng là thời điểm bên sau cùng hoàn tất thủ tục ký hợp đồng.
+
Hợp đồng chuyển giao công nghệ thuộc Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao chỉ
có hiệu lực sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy phép
chuyển giao công nghệ.
-
Điều 20 quy định quyền và nghĩa vụ của bên giao công nghệ
+
Bên giao công nghệ có các quyền sau đây: Yêu cầu bên nhận công nghệ thực hiện
đúng cam kết trong hợp đồng; Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp liên quan đến công nghệ được chuyển giao; Được thanh toán đầy
đủ theo quy định của hợp đồng và hưởng quyền, lợi ích khác theo thỏa
thuận trong hợp đồng; hưởng ưu đãi theo quy định của Luật này và các quy
định khác của pháp luật có liên quan; Yêu cầu bên nhận công nghệ áp dụng
biện pháp khắc phục, bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên nhận công nghệ
không thực hiện đúng nghĩa vụ quy định trong hợp đồng, trừ trường hợp các bên
có thoả thuận khác; Khiếu nại, khởi kiện vi phạm hợp đồng theo quy định của
pháp luật.
+
Bên giao công nghệ có các nghĩa vụ sau đây: Bảo đảm quyền chuyển giao công nghệ
là hợp pháp và không bị quyền của bên thứ ba hạn chế, trừ trường hợp các bên có
thoả thuận khác; Thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng; bồi thường thiệt hại
cho bên nhận công nghệ, bên thứ ba do vi phạm hợp đồng; Giữ bí mật thông tin
trong quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ theo yêu cầu
của đối tác đàm phán; Thông báo cho bên nhận công nghệ và áp dụng các biện pháp
thích hợp khi phát hiện có khó khăn về kỹ thuật làm cho kết quả chuyển giao
công nghệ không đạt yêu cầu quy định trong hợp đồng; bồi thường thiệt hại cho
bên nhận công nghệ, bên thứ ba do không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng;
Làm thủ tục xin cấp phép chuyển giao công nghệ trong trường hợp chuyển giao từ
Việt Nam ra nước ngoài công nghệ thuộc Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao;
Không được thoả thuận về điều khoản hạn chế cạnh tranh bị cấm theo quy
định của Luật cạnh tranh; Thực hiện nghĩa vụ về tài chính và các nghĩa vụ khác
theo quy định của pháp luật.
- Quyền và nghĩa vụ của bên nhận công
nghệ (Điều 21) quy định:
+
Bên nhận công nghệ có các quyền sau đây: yêu cầu bên giao công nghệ thực hiện
đúng cam kết trong hợp đồng; Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp liên quan đến công nghệ được chuyển giao; Được thuê tổ
chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện dịch vụ chuyển giao công nghệ theo
quy định của pháp luật; Yêu cầu bên giao công nghệ áp dụng các biện pháp khắc
phục, bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên giao công nghệ không thực hiện
đúng các nghĩa vụ quy định trong hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thoả thuận
khác; Khiếu nại, khởi kiện vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật; Hưởng
ưu đãi theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có
liên quan.
+
Bên nhận công nghệ có các nghĩa vụ sau đây: Thực hiện đúng cam kết trong hợp
đồng; bồi thường thiệt hại cho bên giao công nghệ hoặc bên thứ ba do vi phạm
hợp đồng; Giữ bí mật thông tin về công nghệ
và các thông tin khác trong quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng chuyển giao
công nghệ theo yêu cầu của đối tác đàm phán; Làm thủ tục xin cấp Giấy
phép chuyển giao công nghệ trong trường hợp chuyển giao từ nước ngoài vào
Việt Nam công nghệ thuộc Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao; Thực
hiện nghĩa vụ về tài chính và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
-
Điều 22 quy định giá và phương thức thanh toán chuyển giao công nghệ như
sau:
+.
Giá thanh toán trong hợp đồng chuyển giao công nghệ do các bên thoả thuận.
+ Việc thanh toán được thực hiện bằng
một hoặc một số phương thức sau đây: Trả một lần hoặc nhiều lần bằng tiền hoặc
hàng hoá; Chuyển giá trị công nghệ thành vốn góp vào dự án đầu tư hoặc vào vốn
của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; Phương thức thanh toán
khác do các bên thỏa thuận.
- Thủ tục cấp phép chuyển giao công
nghệ thuộc Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao (Điều 23)
+
Tổ chức, cá nhân có nhu cầu tiếp nhận hoặc chuyển giao công nghệ thuộc Danh mục
công nghệ hạn chế chuyển giao, phải gửi hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều
24 của Luật này đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép chuyển giao công
nghệ.
+ Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ
ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép chuyển
giao công nghệ phải có văn bản chấp thuận, nếu không chấp thuận thì phải
trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do.
+ Sau khi nhận được văn bản chấp thuận của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tổ chức, cá nhân có nhu cầu tiếp nhận hoặc
chuyển giao công nghệ tiến hành ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ.
+ Sau khi ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ, một trong các bên ký kết
hợp đồng phải gửi hồ sơ quy định tại khoản 2 Điều 24 của Luật này đến cơ quan
nhà nước có thẩm quyền cấp phép chuyển giao công nghệ.
+.
Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cấp phép chuyển giao công nghệ có trách nhiệm xem xét sự phù hợp
của hợp đồng chuyển giao công nghệ với nội dung ghi trong văn bản chấp thuận để
quyết định việc cấp phép, nếu không cấp phép thì phải trả lời bằng văn bản nêu
rõ lý do.
+
Trong quá trình thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ nếu muốn thay
đổi nội dung ghi trong Giấy phép chuyển giao công nghệ thì một trong các bên ký
kết hợp đồng chuyển giao công nghệ phải xin Giấy phép mới.
- Hồ sơ đề nghị chấp thuận chuyển giao công
nghệ, hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép chuyển giao công nghệ thuộc Danh mục công
nghệ hạn chế chuyển giao bao gồm: Đơn đề nghị ký kết hợp đồng chuyển
giao công nghệ; Văn bản về tư cách pháp lý của bên đề nghị; Tài liệu giải trình
về công nghệ theo quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ; Đơn đề nghị cấp Giấy
phép chuyển giao công nghệ; Văn bản chấp thuận chuyển giao công nghệ của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền; Văn bản về tư cách pháp lý của các bên
trong hợp đồng chuyển giao công nghệ; Bản gốc hoặc bản sao hợp đồng chuyển giao
công nghệ; Danh mục tài liệu công nghệ, thiết bị công nghệ (nếu có) kèm theo
hợp đồng chuyển giao công nghệ.
- Quyền, thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển giao
công nghệ (Điều 25)
+
Các bên tham gia giao kết hợp đồng chuyển giao công nghệ có quyền đăng ký hợp
đồng chuyển giao công nghệ tại cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công
nghệ có thẩm quyền làm cơ sở để được hưởng các ưu đãi theo quy
định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
+
Hồ sơ đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ bao gồm: Đơn đăng ký hợp đồng
chuyển giao công nghệ; Bản gốc hoặc bản sao hợp đồng chuyển giao công nghệ.
+ Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày
nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ có
thẩm quyền xem xét, quyết định cấp Giấy chứng nhận đăng ký Hợp đồng chuyển giao
công nghệ.
Nghĩa vụ bảo mật trong việc cấp Giấy phép
chuyển giao công nghệ, cấp Giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng chuyển giao công
nghệ quy định:
Cơ
quan, cá nhân có trách nhiệm trong việc cấp Giấy phép chuyển giao công nghệ,
Giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ có trách nhiệm giữ bí
mật công nghệ, bí mật kinh doanh trong hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép chuyển giao
công nghệ, hồ sơ đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ (Điều 26)
Xử
lý vi phạm hợp đồng chuyển giao công nghệ (Điều 27) quy định :
+ Chế tài áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi
phạm hợp đồng chuyển giao công nghệ bao gồm: Phạt vi phạm; Bồi thường thiệt
hại; Buộc thực hiện đúng hợp đồng; Tạm ngừng thực hiện hợp đồng; Đình chỉ thực
hiện hợp đồng; Hủy bỏ hợp đồng; Biện pháp khác do các bên thỏa thuận không trái
với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, tập quán thương mại quốc tế, điều
ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
+
Trường hợp vi phạm không cơ bản hợp đồng chuyển giao công nghệ thì không
được áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng
hoặc hủy bỏ hợp đồng, trừ trường hơp các bên có thỏa thuận khác.
+
Các bên có thể thoả thuận hạn chế mức độ trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối
với việc vi phạm hợp đồng chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp pháp luật có
quy định khác.
+
Việc áp dụng chế tài quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện theo
quy định của pháp luật.
Chương III. Dịch vụ chuyển giao công nghệ (gồm 6 điều,
từ Điều 28 đến Điều 33)
Chương này quy định về dịch vụ chuyển giao công nghệ; nguyên tắc giao kết
và thực hiện hợp đồng dịch vụ chuyển giao công nghệ; nghĩa vụ của tổ chức, cá
nhân kinh doanh dịch vụ chuyển giao công nghệ; dịch vụ giám định công nghệ;
tiêu chuẩn giám định viên công nghệ.
Điều 28
quy định có 6 loại
hình dịch vụ chuyển giao công nghệ bao gồm: môi giới, tư vấn, đánh giá, định
giá, giám định và xúc tiến chuyển giao công nghệ. Các tổ chức, cá nhân kinh
doanh dịch vụ chuyển giao công nghệ phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh dịch vụ vụ chuyển giao công nghệ.
Điều 29 quy định về nguyên tắc giao
kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ chuyển giao công nghệ, bao gồm:
+ Việc giao
kết hợp đồng dịch vụ chuyển giao công nghệ được thực hiện thông qua hợp đồng
bằng văn bản hoặc hình thức khác theo quy định của pháp luật.
+ Hợp đồng dịch vụ chuyển giao
công nghệ được giao kết và thực hiện theo quy định của Luật này, Bộ luật dân
sự, Luật thương mại và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 30, Điều 31 quy định
rõ quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ chuyển giao công
ngh. Cụ thể:
Tổ chức, cá nhân kinh doanh
dịch vụ chuyển giao công nghệ có các quyền: Tiến hành hoạt động dịch vụ chuyển giao công nghệ
đã đăng ký kinh doanh; Yêu cầu người sử
dụng dịch vụ cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc cung ứng dịch vụ
chuyển giao công nghệ; Sử dụng cộng tác viên trong nước và nước ngoài để phục
vụ hoạt động dịch vụ chuyển giao công nghệ của mình; Hưởng tiền cung ứng dịch
vụ và lợi ích khác từ việc cung ứng dịch vụ chuyển giao công nghệ theo thoả
thuận; Yêu cầu người sử dụng dịch vụ bồi thường thiệt hại do lỗi của người sử
dụng dịch vụ gây ra cho mình; Hợp tác, liên doanh với tổ chức, cá nhân trong
nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành hoạt động dịch vụ chuyển giao công
nghệ; Tham gia hiệp hội ngành, nghề trong nước, khu vực và quốc tế theo quy
định của pháp luật.
Tổ chức, cá
nhân kinh doanh dịch vụ chuyển giao công nghệ có các nghĩa vụ: Thực hiện việc cung ứng dịch vụ chuyển
giao công nghệ theo đúng nội dung đã đăng ký kinh doanh; Thực hiện nghiêm chỉnh
hợp đồng dịch vụ chuyển giao công nghệ đã giao kết; Chịu trách nhiệm trước bên
sử dụng dịch vụ về kết quả thực hiện dịch vụ chuyển giao công nghệ của mình;
Bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra cho bên sử dụng dịch vụ chuyển giao
công nghệ; Giữ bí mật thông tin theo thoả thuận trong hợp đồng dịch vụ chuyển
giao công nghệ; Thực hiện nghĩa vụ về tài chính và các nghĩa vụ khác theo quy
định của pháp luật.
- Dịch vụ giám định công nghệ (Điều 32)
quy định tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ giám định công nghệ phải tuân theo
quy định của Luật Chuyển giao công nghệ và các quy định khác của pháp luật có
liên quan.
- Điều 33 quy định về tiêu chuẩn giám định viên
công nghệ phải:
+ Có trình độ đại học, cao
đẳng trở lên và có năng lực chuyên môn phù hợp với yêu cầu và lĩnh vực công
nghệ giám định;
+ Có ít nhất ba năm làm việc
trong lĩnh vực công nghệ cần giám định;
+ Có chứng chỉ giám định về
lĩnh vực công nghệ cần giám định trong trường hợp pháp luật quy định phải có
chứng chỉ.
Chương
IV. Các biện pháp
khuyến khích thúc đẩy chuyển giao công nghệ (gồm 17 điều từ Điều 34 đến Điều
50).
- Phát triển thị trường
công nghệ
+ Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân tham
gia phát triển thị trường công nghệ bằng các hình thức sau đây: Đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng thị trường công nghệ, bao gồm chợ công nghệ, hội chợ công nghệ,
triển lãm công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ, cơ sở ươm tạo công nghệ, cơ
sở ươm tạo doanh nghiệp công nghệ và các loại hình khác; Công bố, phổ biến,
trình diễn, giới thiệu công nghệ và tham gia chợ, hội chợ, triển lãm công nghệ
trong nước và nước ngoài.
+ Bộ Khoa học và Công nghệ
phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh) có biện pháp khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân
trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư tổ chức chợ, hội chợ, triển lãm
công nghệ, các loại hình chuyển giao công nghệ khác và thu hút các thành phần
kinh tế tham gia phát triển thị trường công nghệ (Điều 34)
- Điều 35 quy định công
nghệ khuyến khích chuyển giao cho vùng nông thôn, miền núi, địa bàn có điều
kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt
khó khăn, đó là:
+ Công nghệ trong lĩnh vực bảo
vệ và phát triển nguồn gen; lai tạo, cải tạo, nâng cao giá trị kinh tế của
giống cây trồng, giống vật nuôi.
+ Công nghệ nuôi trồng, bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp,
lâm nghiệp, thủy sản.
+ Công
nghệ phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
+ Công nghệ phòng, chống dịch
bệnh cho giống cây trồng, giống vật nuôi.
+ Công nghệ sử dụng các nguồn
năng lượng tái tạo.
+ Công nghệ cung cấp nước
sạch, bảo vệ môi trường.
+ Công nghệ nâng cao năng
suất, chất lượng, hiệu quả sản phẩm truyền thống của làng nghề.
- Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong hoạt
động chuyển giao công nghệ ở vùng nông thôn, miền núi, địa bàn có điều kiện
kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn (Điều 36) quy định:
+ Chương trình, dự án phổ biến
giống cây trồng, giống vật nuôi hoặc công nghệ nuôi trồng, bảo quản, chế biến
sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản phải có nội dung chuyển giao công
nghệ.
+ Tổ chức, cá nhân khi phổ
biến, chuyển giao công nghệ nuôi trồng, bảo quản, chế biến sản phẩm nông
nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản phải báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về khoa học
và công nghệ tại địa phương nơi mình triển khai việc chuyển giao công nghệ.
+ Tổ chức, cá nhân cung cấp
giống cây trồng, giống vật nuôi hoặc chuyển giao công nghệ nuôi trồng, bảo
quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản có trách nhiệm hướng
dẫn công nghệ nuôi trồng, bảo quản, chế biến cho người sử dụng và phải bồi
thường thiệt hại phát sinh do việc cung cấp giống cây trồng, giống vật nuôi và
chuyển giao công nghệ gây ra.
- Điều 37 quy định trách
nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong hoạt động chuyển giao công nghệ ở vùng
nông thôn, miền núi, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có
điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn:
+ Cơ quan quản lý nhà nước về
khoa học và công nghệ ở địa phương có trách nhiệm hướng dẫn, tạo điều kiện
thuận lợi cho hoạt động phổ biến, chuyển giao giống cây trồng, giống vật nuôi
hoặc công nghệ nuôi trồng, bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp,
thủy sản; thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ tại địa phương và kiểm tra,
phát hiện, ngăn cấm kịp thời việc phổ biến, cung cấp giống cây trồng, giống vật
nuôi hoặc công nghệ gây thiệt hại cho người sử dụng.
+ Hằng năm, Bộ Khoa học và
Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ có liên quan đánh giá hoạt động chuyển giao công nghệ ở vùng nông thôn,
miền núi, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện
kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
- Chương trình đổi mới công
nghệ quốc gia (Điều 38) quy định:
+ Chương trình đổi mới công
nghệ quốc gia nhằm thực hiện các mục tiêu: Nâng cao năng lực công nghệ quốc
gia, hiệu quả hoạt động chuyển giao công nghệ; Phục vụ chương trình kinh tế
trọng điểm quốc gia; Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp vừa và nhỏ thay
thế công nghệ lạc hậu, ứng dụng công nghệ tiên tiến, làm chủ công nghệ được
chuyển giao từ nước ngoài vào Việt Nam; Tăng cường nguồn lực công nghệ tại vùng
nông thôn, miền núi, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có
điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
+ Căn cứ vào nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ, Bộ Khoa học và Công
nghệ chủ trì, phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có
liên quan xây dựng, trình Chính phủ phê duyệt Chương trình đổi mới công nghệ
quốc gia.
+ Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện Chương trình đổi mới công nghệ
quốc gia.
- Điều 39 quy định Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia
+ Quỹ đổi mới công nghệ quốc
gia được thành lập nhằm thực hiện các mục đích: Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyển giao, đổi mới, hoàn thiện công
nghệ được khuyến khích chuyển giao quy định tại Điều 9 của Luật này; Thúc đẩy
việc chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản
ở vùng nông thôn, miền núi, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó
khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Hỗ trợ ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp
công nghệ; Hỗ trợ đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ việc chuyển
giao, đổi mới, hoàn thiện công nghệ.
+ Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia hỗ trợ việc
chuyển giao, đổi mới, hoàn thiện công nghệ bằng các hình thức: Cho vay ưu đãi; Hỗ trợ lãi suất vay;
Bảo
lãnh để vay vốn; Hỗ trợ vốn.
+ Quỹ đổi mới công nghệ quốc
gia được hình thành từ các nguồn: Đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong
nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài; Lãi của vốn vay; Hỗ trợ từ ngân sách nhà nước dành cho sự nghiệp phát triển
khoa học và công nghệ; Các nguồn khác.
Chuyển giao kết quả nghiên
cứu và phát triển công nghệ được tạo ra bằng ngân sách nhà nước (Điều 40) quy
định:
+ Nhà nước giao quyền chủ sở
hữu công nghệ đối với kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ được tạo ra
bằng ngân sách nhà nước cho tổ chức chủ trì nghiên cứu và phát triển công nghệ
đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
+ Chủ sở hữu kết quả nghiên
cứu và phát triển công nghệ được tạo ra bằng ngân sách nhà nước có nghĩa vụ sử
dụng và chuyển giao công nghệ đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội,
bảo đảm quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh hoặc các nhu cầu cấp thiết
khác của xã hội.
+ Trong trường hợp chủ sở hữu
không thực hiện được quy định tại khoản 2 Điều này thì cơ quan quản lý nhà nước
về khoa học và công nghệ có thẩm quyền chuyển giao quyền sử dụng kết quả nghiên
cứu và phát triển công nghệ cho tổ chức khác.
Thế chấp tài sản thuộc sở
hữu nhà nước để thực hiện hoạt động chuyển giao công nghệ
Doanh nghiệp khoa học và công
nghệ của Nhà nước được thế chấp tài sản thuộc sở hữu nhà nước đã được giao để
vay vốn thực hiện hoạt động chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật
(Điều 41)
- Phân chia thu nhập từ
hoạt động chuyển giao công nghệ được tạo ra bằng ngân sách nhà nước (Điều 42)
quy định:
+ Tác giả sáng chế, kiểu dáng
công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn đã được cấp văn bằng bảo hộ
được hưởng mức thù lao theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ;
+ Trường hợp tập thể, cá nhân
tạo ra công nghệ không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này, tổ chức chủ trì
nghiên cứu và phát triển công nghệ được giao quyền chủ sở hữu công nghệ được
tạo ra bằng ngân sách nhà nước phải quy định cụ thể, công khai cơ chế và tỷ lệ
phân chia lợi ích theo nguyên tắc: Tập thể, cá nhân tạo ra công nghệ được hưởng
tỷ lệ phần trăm trên giá bán của sản phẩm do công nghệ đó tạo ra trong thời hạn
tối đa là mười năm, nếu tổ chức chủ trì nghiên cứu và phát triển công nghệ sử
dụng công nghệ đó để sản xuất; Tập thể, cá nhân tạo ra công nghệ được hưởng từ
20% đến 35% số tiền thu được từ hợp đồng chuyển giao công nghệ đó;
+ Sau khi trả thù lao cho tập
thể, cá nhân tạo ra công nghệ, chủ sở hữu công nghệ sử dụng 50% thu nhập còn
lại cho đầu tư nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, 50% cho quỹ phúc
lợi, khen thưởng;
+ Trường hợp công nghệ được
tạo ra bằng nhiều nguồn vốn, trong đó có một phần từ ngân sách nhà nước thì
việc phân chia thu nhập từ phần vốn của Nhà nước được thực hiện theo quy định
tại khoản 2, khoản 3 Điều này.
- Góp vốn bằng công nghệ
vào dự án đầu tư
Tổ chức, cá nhân có quyền
chuyển giao công nghệ theo quy định tại Điều 8 của Luật này được quyền góp vốn
bằng công nghệ vào dự án đầu tư. Giá trị vốn góp là giá công nghệ được thoả
thuận trong hợp đồng chuyển giao công nghệ (Điều 43)
- Chính sách thuế để thúc
đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ (Điều 44) quy định:
+ Miễn thuế thu nhập cho tổ
chức, cá nhân góp vốn bằng Bằng sáng chế,
công nghệ.
+ Miễn thuế nhập khẩu đối với
hàng hóa nhập khẩu để sử dụng trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu phát triển
công nghệ, đổi mới công nghệ, bao gồm máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư,
phương tiện vận tải trong nước chưa sản xuất được, công nghệ trong nước chưa
tạo ra được; tài liệu, sách báo khoa học.
+ Máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải chuyên
dùng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được phục vụ cho việc thực hiện hợp
đồng chuyển giao công nghệ không chịu thuế giá trị gia tăng.
+ Cơ sở sản xuất, kinh doanh
đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, cải
thiện môi trường sinh thái, nâng cao năng lực sản xuất được miễn thuế thu nhập
doanh nghiệp cho phần thu nhập tăng thêm trong bốn năm và giảm 50% số thuế phải
nộp trong bảy năm tiếp theo.
+ Doanh nghiệp đầu tư có tiếp
nhận công nghệ thuộc Danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao được miễn thuế
thu nhập trong bốn năm với điều kiện tổng giá trị miễn thuế không vượt quá 50%
tổng kinh phí đầu tư cho đổi mới công nghệ.
+ Doanh nghiệp ở địa bàn có
điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn khi thực hiện dự án đầu tư có tiếp nhận công nghệ được hưởng ưu
đãi: Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp bốn năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế
và giảm 50% số thuế phải nộp chín năm tiếp theo với điều kiện tổng giá trị miễn
thuế không vượt quá tổng kinh phí đầu tư cho đổi mới công nghệ; Miễn thuế nhập
khẩu đối với hàng hoá phục vụ việc thay thế, đổi mới công nghệ và nguyên liệu,
vật tư, linh kiện dùng để sản xuất trong thời hạn năm năm, kể từ khi bắt đầu
sản xuất theo công nghệ mới.
+ Tổ chức, cá nhân chuyển giao
công nghệ thuộc lĩnh vực ưu tiên chuyển giao vào vùng nông thôn, miền núi, địa
bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã
hội đặc biệt khó khăn được giảm 50% thuế thu nhập đối với thu nhập từ việc
chuyển giao công nghệ, cung cấp giống cây trồng, giống vật nuôi.
+ Cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm
tạo doanh nghiệp công nghệ được miễn thuế thu nhập trong bốn năm, được giảm 50%
thuế thu nhập phải nộp trong chín năm tiếp theo và được miễn thuế sử dụng đất.
Điều 45 quy định Khuyến
khích doanh nghiệp ứng dụng, đổi mới công nghệ
Doanh nghiệp được trích một
phần lợi nhuận trước thuế hằng năm lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ để
tiến hành hoạt động nghiên cứu phát triển và đổi mới công nghệ. Trong thời hạn
năm năm, nếu quỹ không được sử dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích thì doanh
nghiệp phải nộp vào ngân sách nhà nước phần thuế thu nhập doanh nghiệp trên số
lợi nhuận trước thuế mà Nhà nước để lại cho doanh nghiệp và phần lãi phát sinh
từ khoản lợi nhuận trước thuế đó.
Chính phủ trình Quốc hội quyết
định mức khấu trừ lợi nhuận trước thuế quy định tại Điều này.
- Điều 46 quy định về
Khuyến khích người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài chuyển giao
công nghệ vào Việt Nam
Người nước ngoài, người Việt
Nam định cư ở nước ngoài tham gia chuyển giao công nghệ thuộc Danh mục công
nghệ khuyến khích chuyển giao hoặc chuyển giao công nghệ ở địa bàn có điều kiện
kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn được hưởng các ưu đãi sau đây:
+ Các ưu đãi theo quy định tại
Điều 44 của Luật này;
+ Cá nhân và các thành viên
gia đình họ được cấp thị thực xuất cảnh, nhập cảnh có giá trị sử dụng nhiều
lần, thời hạn phù hợp với thời gian thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ;
+ Được tạo điều kiện thuận lợi
về cư trú, đi lại;
+ Các ưu đãi khác theo quy định của pháp luật.
- Khuyến khích phát triển
tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ
Nhà nước
khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức,
cá nhân nước ngoài thành lập cơ sở ươm tạo doanh nghiệp công nghệ, sàn giao
dịch công nghệ, chợ công nghệ, hội chợ công nghệ và các tổ chức dịch vụ chuyển
giao công nghệ khác; tổ chức cơ sở trình diễn, ứng dụng, chuyển giao công nghệ
ở vùng nông thôn, miền núi để thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ (Điều 47).
- Trách nhiệm của cơ quan
đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài đối với hoạt động chuyển giao công
nghệ (Điều 48) quy định cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài
có trách nhiệm hỗ trợ, thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện
thuận lợi cho tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động xúc tiến chuyển giao công
nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài.
- Công bố, trình diễn, giới thiệu công nghệ
(Điều 49) quy định
+ Trong việc công bố, trình
diễn, giới thiệu công nghệ, cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ
có thẩm quyền có trách nhiệm sau đây: Hằng
năm công bố Danh mục công nghệ được tạo ra bằng ngân sách nhà nước, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; Khuyến khích, hỗ trợ tổ chức, cá nhân
công bố công nghệ mới do mình tạo ra.
+ Nhà nước có biện pháp hỗ trợ
tổ chức, cá nhân có công nghệ mới được tạo ra trong nước thực hiện việc công
bố, trình diễn, giới thiệu công nghệ và tham gia chợ, hội chợ công nghệ ở trong
nước và nước ngoài.
Điều 50 quy định về Thống kê chuyển giao công nghệ
+ Thống kê chuyển giao công
nghệ bao gồm thống kê số liệu công nghệ được chuyển giao, công nghệ mới, công
nghệ được đổi mới và là một nội dung trong báo cáo thống kê hằng năm của cơ
quan quản lý nhà nước về thống kê.
+ Hằng năm, doanh nghiệp, tổ
chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, trường đại học, trường cao
đẳng và các cơ sở đào tạo khác có trách nhiệm báo cáo thống kê chuyển giao công
nghệ của mình với cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ.
+ Cơ quan thống kê trung ương
chủ trì phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ quy định cụ thể chế độ báo cáo
thống kê chuyển giao công nghệ.
Chương V. Trách nhiệm của cơ quan quản lý
nhà nước đối với hoạt động chuyển giao công nghệ (gồm 5 điều, từ Điều
51 đến Điều 54)
Chương này quy định về trách
nhiệm của Chính phủ; trách nhiệm của Bộ Khoa học và Công nghệ; trách nhiệm của
bộ, cơ quan ngang bộ; trách nhiệm của uỷ ban nhân dân các cấp
- Luật quy định trách nhiệm
của Chính phủ trong việc thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động chuyển
giao công nghệ (Điều 51).
- Điều 52 Luật quy định Bộ
Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất
quản lý nhà nước về hoạt động chuyển giao công nghệ, bao gồm các nội dung: ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật về chuyển giao công nghệ theo thẩm quyền;
Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong
việc xây dựng chiến lược, kế hoạch, biện pháp, cơ chế, chính sách thúc đẩy hoạt
động chuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ trình Chính phủ phê duyệt; Xây
dựng Danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao, Danh mục công nghệ hạn chế
chuyển giao, Danh mục công nghệ cấm chuyển giao trình Chính phủ phê duyệt và tổ
chức thực hiện; Cấp, thu hồi Giấy phép chuyển giao công nghệ đối với công nghệ
thuộc Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao, Giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng
chuyển giao công nghệ; Công bố Danh mục công nghệ được tạo ra bằng ngân sách
nhà nước theo quy định của pháp luật; Tổ chức thực hiện công tác thống kê
chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật; Tổ chức công tác kiểm tra,
thanh tra; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về chuyển
giao công nghệ; Thực hiện các nhiệm vụ khác được Chính phủ ủy quyền hoặc phân
công.
- Các bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm:
+ Trong việc thực hiện quản lý
nhà nước về hoạt động chuyển giao công nghệ, bộ, cơ quan ngang bộ có trách
nhiệm sau đây: Phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng Danh mục công nghệ
khuyến khích chuyển giao, Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao, Danh mục công
nghệ cấm chuyển giao; xây dựng chiến lược, kế hoạch, chương trình, biện pháp,
cơ chế, chính sách thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ;
Tổ chức thực hiện Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia trong lĩnh vực được
phân công phụ trách; Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động chuyển giao công
nghệ, đặc biệt là công nghệ được khuyến khích chuyển giao và việc chuyển giao
công nghệ ở các vùng được khuyến khích chuyển giao công nghệ; Tổ chức tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về chuyển giao công nghệ; Thực hiện các
nhiệm vụ khác được Chính phủ ủy quyền hoặc phân công (Điều 53)
- Uỷ ban nhân dân các
cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động chuyển giao công
nghệ tại địa phương theo phân cấp của Chính phủ (Điều 54)
Chương VI. Giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm (gồm 4 điều, từ Điều 55 đến Điều 58)
Chương này quy định
về giải quyết tranh chấp trong hoạt động chuyển giao công nghệ; nguyên tắc giải
quyết tranh chấp; khiếu nại tố cáo; xử lý vi phạm pháp luật về chuyển giao công
nghệ
- Điều 55 quy định giải quyết
tranh chấp trong hoạt động chuyển giao công nghệ được thực hiện bằng các hình
thức: thương lượng giữa các bên; hoà giải giữa các bên do một tổ chức hoặc cá
nhân được các bên thoả thuận chọn làm trung gian hoà giải; giải quyết tảitọng
tài hoặc toà án trong nước hoặc nước ngoài.
- Nguyên tắc giải quyết tranh chấp
(Điều 56) quy định:
+ Tranh chấp phát sinh trong
hoạt động chuyển giao công nghệ mà các bên là tổ chức, cá nhân Việt Nam thì
giải quyết theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có
liên quan.
+ Tranh chấp phát sinh trong
hoạt động chuyển giao công nghệ mà một bên là tổ chức, cá nhân nước ngoài thì
các bên có quyền thỏa thuận lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp và pháp luật
áp dụng theo quy định tại Điều 4 Luật này để giải quyết tranh chấp.
+ Tranh chấp phát sinh trong
hoạt động chuyển giao công nghệ mà các bên không có thỏa thuận lựa chọn pháp
luật áp dụng được giải quyết theo quy định của pháp luật Việt Nam.
- Khiếu nại, tố cáo về hoạt
động chuyển giao công nghệ: Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại hành vi xâm
phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong hoạt động chuyển giao công
nghệ với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án theo
quy định của pháp luật; cá nhân có quyền tố cáo hành vi vi phạm quy định của
Luật này với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền; việc khiếu nại, tố cáo và
giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động chuyển giao công nghệ được thực
hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo; trong thời gian khiếu nại, tố cáo, khởi kiện, khi quyết định hành chính
của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về chuyển giao công nghệ có hiệu lực
thì tổ chức, cá nhân vẫn phải thi hành quyết định đó; khi có quyết định giải
quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về chuyển
giao công nghệ hoặc phán quyết của Tòa án thì thi hành theo quyết định, phán
quyết đó; cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về chuyển giao công
nghệ các cấp có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của tổ chức, cá nhân
thuộc thẩm quyền giải quyết của mình (Điều 57)
- Xử lý vi phạm pháp luật
về chuyển giao công nghệ: Xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt
động chuyển giao công nghệ; Bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của
pháp luật. Trường hợp hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động chuyển giao
công nghệ gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
tổ chức, cá nhân thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật (Điều 58)
Chương VII. Điều khoản thi hành (gồm 3 điều, từ Điều 59 đến Điều 61)
Chương này quy định điều khoản
chuyển tiếp; hiệu lực thi hành và hướng dẫn thi hành Luật
IV. Kết luận
Với việc ban hành Luật Chuyển
giao công nghệ, chúng ta đã tạo cơ sở pháp lý cao và vững chắc cho việc đổi mới
toàn diện tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động chuyển giao công nghệ nhằm
đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập kinh
tế quốc tế. Đây là một bước cơ bản trong quá trình hoàn thiện pháp luật về
chuyển giao công nghệ, góp phần bảo đảm và thúc đẩy quá trình nâng cao năng
suất, chất lượng và sức cạnh tranh của từng doanh nghiệp, từng ngành và của
toàn bộ nền kinh tế, thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết quốc tế của Việt Nam.
Để sớm đưa Luật Chuyển giao
công nghệ vào cuộc sống, Bộ Khoa học và Công nghệ đang khẩn trương tiến hành
các công việc sau đây:
- Xây dựng trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ; danh mục công
nghệ khuyến khích chuyển giao, danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao, danh mục
công nghệ cấm chuyển giao; Điều lệ Tổ chức và Hoạt động của Quỹ đổi mới công
nghệ quốc gia.
- Ban hành theo thẩm quyền các
văn bản nhằm hướng dẫn thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
về chuyển giao công nghệ.
- Đẩy mạnh các hoạt động nhằm
kích cầu, kích cung công nghệ; hoạt động
thúc đẩy hình thành và phát triền thị trường công nghệ; các hoạt động
dịch vụ tư vấn, đánh giá, định giá, giám định công nghệ, môi gới, xúc tiến
chuyển giao công nghệ.
v.v...
BỘ TƯ PHÁP - VỤ PHỔ BIẾN GIÁO
DỤC PHÁP LUẬT
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ - VỤ PHÁP CHẾ
. Kết quả điều tra đánh giỏ mới đây về trỡnh độ cụng
nghệ của cỏc doanh nghiệp nước ta cho thấy, cũn trờn 10% doanh nghiệp sử dụng
cụng nghệ của những năm trước 1970, trờn 50% - những năm 1970 và 1980; và
khoảng 30% - những năm 1990.