Đề cương giới thiệu luật công nghệ thông tin năm 2006
Ngày 29/6/2006, tại kỳ họp 9 - Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Công nghệ thông tin. Đây là một văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh một cách toàn diện và đầy đủ về hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin.
Luật Công nghệ thông tin là công cụ để tạo hành lang pháp lý quan trọng cho
việc thực hiện mục tiêu hình thành, phát triển xã hội thông tin, rút ngắn quá
trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và trước mắt để thực thi có hiệu quả các nội dung cơ bản của chiến lược phát triển công
nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam mà Thủ tướng Chính phủ vừa ban
hành.
Luật Công
nghệ thông tin là cơ sở pháp lý quan
trọng để xác định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước về Công nghệ thông tin của Chính phủ, các bộ, ngành và Uỷ ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để bảo đảm sự phân công, phối
hợp, tổ chức thực hiện hiệu quả chiến lược phát triển Công nghệ thông
tin.
Luật Công nghệ thông tin có vị trí quan trọng, quy định những điều kiện thiết
yếu để bảo đảm phát triển công nghiệp công nghệ thông tin thành một ngành kinh
tế mũi nhọn, đóng góp đáng kể và ngày càng tăng cho GDP, đồng thời đẩy mạnh ứng
dụng công nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực, các ngành, các cấp, góp
phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế -
xã hội. Các quy định về quản lý, cấp phép, đăng ký được quy định ở mức tối
thiểu và cần thiết nhằm tạo ra môi trường rõ ràng, minh bạch và lành mạnh nhằm
thúc đẩy các các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển công
nghiệp công nghệ thông tin phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của
đất nước.
I. SỰ CẦN
THIẾT BAN HÀNH LUẬT CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Sự phát triển mạnh
mẽ của công nghệ thông tin trong những
thập niên cuối thế kỷ XX đã tạo ra khả năng và cơ hội mới cho sự phát
triển kinh tế- xã hội trên phạm vi toàn cầu. Công nghệ thông tin được ứng dụng
rộng rãi trong mọi lĩnh vực đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và làm thay đổi căn bản cách quản lý, học tập và làm việc của con
người. Ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động quản lý nhà nước giúp
nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
Sự phát triển của
công nghệ thông tin đã góp phần tạo ra nhiều ngành nghề mới, thay đổi và hiện
đại hóa các ngành kinh tế hiện tại. Nhiều nước trên thế giới, công nghiệp công
nghệ thông tin đã trở thành ngành kinh tế chủ đạo có tốc độ tăng trưởng hàng
năm từ 20 đến 30%, tạo ra nhiều việc làm do có nhiều chính sách, biện pháp quan
trọng khuyến khích phát triển công nghiệp công nghệ thông tin và ứng dụng công
nghệ thông tin trên mọi lĩnh vực kinh tế xã hội.
Ở nước ta, công
nghệ thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát huy có hiệu quả
năng lực trí tuệ của người Việt Nam, thúc đẩy phát triển kinh tế, rút ngắn
khoảng cách phát triển so với các nước trong khu vực và trên thế giới, tạo điều
kiện hội nhập kinh tế quốc tế và đảm bảo quốc phòng, an ninh. Mặt khác, công nghiệp công nghệ thông tin
là ngành công nghiệp mà giá trị của sản phẩm chủ yếu là hàm lượng công nghệ và
tri thức cao sẽ là ngành công nghiệp mũi nhọn, là nhân tố quan trọng đẩy nhanh
tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện chiến lược "đi
tắt, đón đầu" sớm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển.
Đảng và Nhà nước
ta đã có nhiều Nghị quyết, văn bản chỉ đạo, định hướng cho phát triển công nghệ
thông tin của đất nước. Ngày 30/3/1991, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết số
26/NQ-TW khẳng định công nghệ thông tin là phương tiện chủ lực để Việt Nam
"đi tắt, đón đầu" nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển so với các
nước công nghiệp tiên tiến. Ngày 4/8/1993, Chính phủ có Nghị quyết 49/CP về
phát triển công nghệ thông tin đến năm 2000
nhằm thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ thông tin vào mọi lĩnh vực sản
xuất, kinh tế và văn hoá của đất nước, trong đó “nâng cao chất lượng và hiệu
quả của công tác quản lý”, được xem là một nhiệm vụ quan trọng. Ngày
17/10/2000, Bộ Chính trị đã có Chỉ thị số 58-CT/TW về đẩy mạnh ứng dụng và phát
triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã
khẳng định “Công nghệ thông tin là một trong các động lực quan trọng nhất của
sự phát triển. Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở nước ta nhằm góp
phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc
đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng
cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá
trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân
dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng “đi tắt, đón đầu” để thực hiện
thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.” Văn kiện Đại hội Đại biểu
Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định: “Phát huy những lợi thế của đất nước,
tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công
nghệ thông tin.... từng bước phát triển kinh tế tri thức”; và gần đây Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: “phát triển công nghệ cao, nhất là công
nghệ thông tin, công nghệ sinh học và công nghệ vật liệu mới.Phát triển hệ
thống thông tin quốc gia về nhân lực và công nghệ...” (tr.99 Văn kiện Đại hội)
Thực hiện các định hướng của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua, việc
ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở nước ta đã đạt được nhiều thành
tựu quan trọng. Mạng viễn thông đã phủ rộng trên cả nước với chất lượng cao,
mật độ sử dụng điện thoại tăng nhanh (hiện đã đạt hơn 15 máy/100 dân); số lượng
người sử dụng Internet là hơn 7,5 triệu đạt mật độ trên 9%. Đến nay, trên 50%
các Bộ, Ngành, cơ quan thuộc Chính phủ và 80% tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương
đã có website, cung cấp thông tin về chính sách, thủ tục hành chính, 100% các
trường đại học, cao đẳng và hơn 90% các trường trung học phổ thông đã được kết
nối Internet. Công nghiệp công nghệ thông tin đã bước đầu phát triển, tốc độ tăng
trưởng trung bình hàng năm đạt 20-25%. Sản phẩm công nghệ thông tin do các
doanh nghiệp Việt Nam sản xuất đã từng bước đáp ứng nhu cầu thị trường trong
nước và bước đầu có xuất
khẩu.
Tuy nhiên, sự phát
triển công nghệ thông tin của Việt Nam hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu xã
hội và chưa khẳng định vị trí là ngành kinh tế mũi nhọn, quan trọng trong nền
kinh tế hướng đến kinh tế tri thức. Việc đầu tư cho công nghệ thông tin còn dàn
trải và kém hiệu quả. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp công nghệ thông
tin của Việt Nam còn yếu. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, nhất
là quản lý hành chính của các cơ quan nhà nước còn chậm, chưa đồng bộ, hiệu quả
chưa cao. Sản phẩm công nghệ thông tin chưa có sức cạnh tranh cao, chưa thâm
nhập nhiều vào thương trường thế giới.
Nhận thức được vị
trí, vai trò quan trọng của công nghệ thông tin trong những năm qua, Nhà nước
đã ban hành một số chính sách, văn bản pháp luật về ứng dụng công nghệ thông
tin và phát triển công nghiệp công nghệ thông tin. Tuy nhiên, còn một số tồn
tại sau:
Một là, chưa có văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về
công nghệ thông tin, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển công nghiệp công nghệ thông tin. Pháp lệnh Bưu chính
Viễn thông là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất về bưu chính, viễn
thông có một số nội dung đề cập đến
công nghệ thông tin, song mới chỉ quy định về cơ sở hạ tầng thông tin. Do sự
phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, có nhiều vấn đề phát sinh từ
thực tiễn ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển công nghiệp công nghệ thông tin ở Việt nam còn chưa có cơ sở pháp lý điều chỉnh. Đây là
một trong những nguyên nhân khiến tổ chức, cá nhân chưa thực sự tin tưởng tham
gia hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, công nghiệp công nghệ thông tin. Các
cơ quan nhà nước chưa tạo ra được hành lang pháp lý đồng bộ để triển khai các
hoạt động cung cấp thông tin, thu thập ý kiến góp ý của nhân dân, cấp phép qua
mạng... Các doanh nghiệp không mạnh dạn đầu tư phát triển và cung cấp các ứng
dụng trên môi trường mạng như mua bán, kinh doanh qua mạng... Người tiêu dùng
còn e ngại trong việc mua bán qua mạng do lo sợ bị “lừa” hoặc bị “lợi dụng”
trên môi trường mạng.
Hai là, những năm gần đây, việc ứng dụng công
nghệ thông tin và phát triển công
nghiệp công nghệ thông tin của nước
ta có những chuyển biến, tiến bộ khá nhanh theo hướng hiện đại, góp phần tích
cực vào sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Tuy vậy, sự phát
triển công nghệ thông tin của Việt
Nam vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Tình hình đó phát sinh do nhiều nguyên
nhân trong đó phải kể đến nguyên nhân về tổ chức thực hiện và môi trường pháp
lý: hoạt động công nghệ thông tin chưa được điều chỉnh bởi một hệ thống các quy
phạm pháp luật thống nhất, đồng bộ và tiến kịp so với sự phát triển của công
nghệ thông tin. Tuy đã có một số văn bản quy phạm pháp luật như: Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông ngày
25/5/2002 có một số quy định về hạ tầng công nghệ thông tin; Nghị quyết số 07/2000/NQ-CP ngày
05/6/2000 về xây dựng và phát triển công nghiệp phần mềm giai đoạn 2000- 2005;
Quyết định số 128/2000/QĐ-TTg ngày 20/11/2000 về một số chính sách và biện pháp
khuyến khích đầu tư và phát triển công nghiệp phần mềm; Quyết định số
112/2001/QĐ-TTg ngày 25/7/2001 phê duyệt đề án tin học hoá quản lý hành chính
nhà nước; Quyết định số 119/2005/QĐ-TTg ngày 29/7/2005 về phê duyệt đề án “Hỗ
trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ hội nhập và phát triển
2005- 2010”…song vẫn chưa có văn bản quy phạm pháp luật ở mức cao để
điều chỉnh hai lĩnh vực quan trọng nhất là: ứng dụng công nghệ thông tin và
phát triển công nghiệp công nghệ thông tin.
Ba là, gần đây Nhà nước đã ban hành một số luật như Bộ
luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Kế toán, Luật Giao dịch điện tử... trong đó có những quy định liên quan đến công
nghệ thông tin như thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu, thư điện
tử, chứng từ kế toán điện tử… Để bảo đảm sự tương thích và đồng bộ với các luật
này, Luật Công nghệ thông tin
cần sớm được ban hành.
Với các nội dung đã phân tích ở trên, việc ban hành Luật Công nghệ thông tin là rất
cần thiết, nhằm tạo hành lang pháp
lý cơ bản điều chỉnh lĩnh vực công nghệ thông tin, tạo điều kiện thuận lợi để
từng bước phát triển kinh tế tri thức, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, đảm bảo quốc phòng, an ninh. Mặt khác, việc ban hành Luật Công nghệ thông tin nhằm tạo sự đồng
bộ với các quy định trong các đạo luật có liên quan đồng thời tạo khuôn khổ
pháp lý phù hợp, đáp ứng yêu cầu hội nhập, thực hiện các cam kết quốc tế với
ASEAN, APEC, WTO…
II. QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG LUẬT CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Dự án Luật được xây dựng trên cơ sở quán triệt
các quan điểm chủ đạo sau:
1. Thể chế hoá
quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về phát triển công nghệ thông tin,
phù hợp với thực tiễn ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin của Việt Nam
và cập nhật với trình độ phát triển của công nghệ thông tin trên thế giới.
2. Đảm bảo phù hợp
với Hiến pháp; thống nhất và đồng bộ với các đạo luật liên quan như Bộ luật Dân
sự, Luật Thương mại, Luật Kế toán, Luật Giáo dục, Luật Doanh nghiệp, Luật Báo
chí...; phù hợp với luật pháp
quốc tế và các điều ước quốc tế liên quan đến công nghệ thông tin mà Việt Nam
là thành viên.
3. Tạo lập
và hoàn thiện hành lang pháp lý để thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin, coi
ứng dụng công nghệ thông tin là một nhiệm vụ ưu tiên trong phát triển kinh tế -
xã hội, thúc đẩy quá trình cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lý nhà nước, hội nhập kinh tế quốc tế và góp phần đảm bảo quốc phòng, an ninh.
4. Quy định
những điều kiện thiết
yếu để đảm bảo phát triển công nghiệp công nghệ thông tin
thành một ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp đáng kể và ngày càng tăng cho GDP,
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
5. Không tạo
ra rào cản cho sự phát triển: Luật Công nghệ thông tin tạo cơ sở pháp lý để đẩy
mạnh ứng dụng công nghệ
thông tin và phát triển công nghiệp công nghệ thông tin ở Việt nam. Các quy định về quản lý, cấp phép,
đăng ký chỉ quy định ở mức tối thiểu và
cần thiết nhằm tạo ra môi trường rõ ràng, minh bạch và lành
mạnh cho các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển công nghiệp công nghệ thông tin, theo đúng quan điểm chỉ đạo:
“năng lực quản lý phải theo kịp sự phát triển”.
6. Tích hợp,
đồng bộ với các luật, pháp lệnh khác: Tích hợp, bổ sung lẫn nhau với Luật Giao
dịch điện tử đã được Quốc hội ban hành để tạo ra một môi trường pháp lý lành
mạnh, đồng bộ cho sự phát triển công nghệ thông tin Việt nam. Luật Công nghệ
thông tin không điều chỉnh các vấn đề đã có trong các luật, pháp lệnh khác.
III. NỘI DUNG
CHÍNH CỦA LUẬT CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Luật Công nghệ
thông tin gồm 6 chương, 79 điều, cụ thể như sau:
Chương I. Những
quy định chung gồm 12 điều.
Nội
dung của Chương này quy định những vấn đề về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp
dụng, áp dụng luật, giải thích từ ngữ, chính sách của nhà nước về công nghệ
thông tin, nội dung quản lý nhà nước cũng như trách nhiệm của cơ quan quản lý
nhà nước về công nghệ thông tin, quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá
nhân tham gia hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, thanh tra công nghệ thông tin, hiệp hội
công nghệ thông tin và các hành vi bị nghiêm cấm.
Chương II. Ứng
dụng công nghệ thông tin
gồm 24 điều và được quy định
thành 4 mục.
Các quy định của
Chương này tạo hành lang pháp lý cơ bản để thúc đẩy các hoạt động ứng dụng công
nghệ thông tin trong mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội.
Mục 1 quy định
những vấn đề chung nhất về
ứng dụng công nghệ thông tin trên môi trường mạng. Mục 2, mục 3 quy định cụ thể
về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước và trong thương mại vì đây là hai nội dung trọng tâm
nhằm thúc đẩy hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin. Mục 4 quy định về ứng dụng công nghệ thông tin
trong một số lĩnh vực như giáo dục- đào tạo, y tế, văn hóa thông tin, quốc
phòng, an ninh và một số lĩnh vực khác.
Mục 1. Quy định
chung về ứng dụng công nghệ thông tin -
quy định về nguyên tắc hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin; ưu tiên ứng dụng công nghệ thông tin trong trường hợp khẩn cấp; quyền, nghĩa vụ của cơ quan,
tổ chức, cá nhân trong việc quản lý, sử dụng, truyền đưa thông tin số; lưu trữ
tạm thời thông tin số; cho thuê chỗ lưu trữ thông tin số; công cụ tìm kiếm
thông tin số; thu thập, xử lý, sử dụng, lưu trữ, cung cấp thông tin cá nhân
trên môi trường mạng; thiết lập trang thông tin điện tử.
Với các quy định
cơ bản như vậy đã bảo đảm để các tổ chức, cá nhân được tự do hoạt động ứng dụng
công nghệ thông tin trong các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Đối với
một số ngành, lĩnh vực nhất định phải tuân thủ quy định của Luật này và quy
định khác của pháp luật có liên quan.
Một nội dung đáng chú ý trong Luật là tổ chức, cá nhân sử dụng tên miền
quốc gia Việt Nam “.vn” khi thiết lập trang thông tin điện tử không cần thông
báo với Bộ Bưu chính - Viễn thông. Trường hợp tổ chức, cá nhân khi thiết lập
trang thông tin điện tử không sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” thì cần
thông báo trên môi trường mạng với cơ quan quản lý.
Mục 2. Ứng dụng
công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước- tạo ra khung pháp lý quan trọng đẩy mạnh “chính phủ điện tử” ở Việt
Nam. Luật quy định về nguyên tắc,
điều kiện, nội dung ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ
quan nhà nước; hoạt động của cơ quan nhà nước trên môi trường mạng; trang thông
tin điện tử của cơ quan nhà nước.
Mục 3. Ứng dụng
công nghệ thông tin trong thương mại nhằm khẳng định mọi tổ chức, cá nhân có
quyền tham gia hoạt động thương mại trên môi trường mạng. Mục này quy định về
đối tượng, nguyên tắc ứng dụng công nghệ thông tin trong thương mại; trang
thông tin điện tử bán hàng, cung
cấp thông tin cho việc giao kết hợp đồng trên môi trường mạng; giải quyết hậu
quả do lỗi nhập sai thông tin thương
mại trên môi trường mạng;
thanh toán trên môi trường mạng.
Mục 4. Ứng dụng
công nghệ thông tin trong một số lĩnh vực như giáo dục, y tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, .... Ứng dụng công nghệ thông tin trong những lĩnh vực chuyên ngành
ngoài việc tuân thủ quy định của Luật Công nghệ thông tin, còn phải tuân thủ
pháp luật chuyên ngành có liên quan.
Chương III. Phát triển công nghệ thông tin
với 16 điều được chia thành 4 mục.
Mục 1. Quy
định về nghiên cứu- phát triển công nghệ thông tin; cơ sở vật chất, kỹ thuật
phụ vụ cho hoạt động nghiên cứu- phát triển công nghệ thông tin; tiêu chuẩn,
chất lượng trong hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin.
Mục 2. Quy định về phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông
tin bao gồm chính sách phát triển; chứng chỉ công nghệ thông tin; sử dụng nhân
lực và phổ cập kiến thức công nghệ thông tin.
Mục 3. Quy định về phát triển công nghiệp công nghệ thông
tin trong đó xác định rõ loại hình hoạt động công nghiệp công
nghệ thông tin; chính sách phát triển công nghiệp công nghệ thông tin;
phát triển thị trường công nghiệp công nghệ thông tin; sản phẩm công nghệ thông
tin trọng điểm; khu công nghệ thông tin tập trung.
Mục 4. Quy định phát triển dịch vụ công nghệ thông tin bao gồm loại hình và
chính sách phát triển dịch vụ công nghệ thông tin.
Chương IV.
Các biện pháp bảo đảm ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin gồm 21 điều được chia thành 4 mục.
Mục 1. Cơ sở hạ tầng
thông tin cho ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin - quy
định về nguyên tắc phát triển cơ sở hạ tầng thông tin; bảo đảm cơ sở hạ tầng
thông tin phục vụ ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin; cơ sở hạ tầng
thông tin phục vụ các cơ quan nhà nước; cơ sở hạ tầng thông tin phục vụ công
ích; cơ sở dữ liệu của bộ, ngành, địa phương; bảo vệ cơ sở hạ tầng thông tin.
Mục 2. Đầu tư cho công nghệ thông tin. Đây là nội dung quan
trọng nhằm thúc đẩy phát triển công nghệ thông tin. Mục này quy định cụ thể về Đầu tư của tổ chức, cá nhân cho công nghệ thông tin; đầu tư của nhà nước cho công nghệ thông tin; đầu tư cho sự nghiệp ứng dụng và phát triển công nghệ
thông tin; đầu tư và phát triển công nghệ
thông tin phục vụ nông nghiệp và nông thôn.
Mục 3. Hợp tác quốc tế về công nghệ thông tin - quy định nguyên tắc, nội dung hợp tác
quốc tế về công nghệ thông tin nhằm tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế mở
rộng hợp tác về công nghệ thông tin với tổ chức, cá nhân nước ngoài, thúc đẩy
sự phát triển công nghệ thông tin Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá,
hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế.
Mục 4. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và hỗ trợ người sử dụng
sản phẩm, dịch vụ công nghệ thông tin. Mục này quy định về trách nhiệm của nhà
nước, xã hội trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng; bảo
vệ tên miền quốc gia; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực công nghệ
thông tin; chống thư rác, vi rút máy tính và phần mềm gây hại; bảo vệ trẻ em
tránh những thông tin tiêu cực; bảo đảm an toàn, bí mật thông tin; hỗ trợ người
tàn tật trong ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin.
Chương V. Giải
quyết tranh chấp và xử lý vi phạm gồm 3 điều quy định mang
tính nguyên tắc hình thức và thẩm quyền giải quyết tranh chấp công nghệ thông
tin nói chung và tranh chấp về đăng ký, sử dụng tên miền quốc gia Việt
Nam “.vn”; xử lý vi phạm pháp luật về công nghệ thông tin.
Chương VI. Điều
khoản thi hành gồm 2 điều
quy định về hiệu lực thi hành, trách nhiệm của Chính phủ qui định chi tiết và
hướng dẫn thi hành Luật Công nghệ thông tin.
IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Luật Công
nghệ thông tin sẽ có hiệu lực từ
ngày 01/01/2007, để Luật sớm đi vào cuộc sống một cách hiệu quả thì các công
việc cần tập trung triển khai là:
- Bộ Bưu chính -Viễn thông đã ban hành Chỉ thị số 07/CT-BBCVT
ngày 28/07/2006 về triển khai Luật Công nghệ thông tin, chỉ đạo các đơn vị, cơ
quan thuộc Bộ, các Sở Bưu chính - Viễn thông triển khai các công việc cần thiết
đảm bảo thực thi luật một cách hiệu quả.
- Bộ Bưu chính-Viễn thông đã nghiên cứu,
đang trong quá trình xây dựng các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Công nghệ thông tin như:
Nghị định quy định về ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước, Nghị
định về Công nghiệp - Công nghệ thông tin, Nghị định về xử phạt vi phạm hành
chính về Công nghệ thông tin và một số văn bản quy phạm pháp luật khác.
- Chuẩn bị
kế hoạch tuyên truyền, phổ biến nhằm
nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của công nghệ thông tin trong mọi lĩnh
vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh; nâng cao hiểu biết về pháp
luật công nghệ thông tin của mọi tổ chức, cá nhân.
- Các bộ, cơ quan
ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình cũng cần chủ động xây dựng những văn bản cần thiết
để sớm đưa Luật Công nghệ thông tin vào cuộc sống.
BỘ TƯ PHÁP - VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC
PHÁP LUẬT
BỘ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG - VỤ PHÁP CHẾ