Đề cương giới thiệu luật kiểm toán nhà nước năm 2005
Kiểm toán Nhà nước là công cụ kiểm tra tài chính công quan trọng của nhà nước. Hoạt động của Kiểm toán Nhà nước góp phần phân bổ, quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính nhà nước và tài sản công một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả. Kiểm toán Nhà nước góp phần phát hiện và ngăn ngừa các hành vi tiêu cực, tham nhũng, lãng phí công quỹ quốc gia.
I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT
KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
Thông qua hoạt động của Kiểm toán Nhà nước góp phần
xây dựng nền kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Lịch
sử Kiểm toán Nhà nước của các nước trên thế giới đã hình thành và phát triển
hàng trăm năm nay. Đa số các quốc gia trên thế giới đều sử dụng Kiểm toán Nhà
nước như một công cụ hữu hiệu nhằm kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh tế
tài chính của nhà nước, là bộ phận không thể thiếu được trong cơ cấu nhà nước
pháp quyền.
ở
Việt Nam trước đây, Kiểm toán Nhà nước được thành lập và hoạt động theo Nghị
định số 70/CP ngày 11 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ, Quyết định số 61/TTg ngày
24 tháng 01 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Điều lệ tổ chức
và hoạt động của Kiểm toán Nhà nước, Luật ngân sách nhà nước, Luật ngân hàng
nhà nước và một số văn bản pháp luật khác. Hiện nay, Kiểm toán Nhà nước hoạt
động theo Nghị định số 93/2003/NĐ- CP ngày 13 tháng 8 năm 2003 của Chính phủ
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Kiểm toán Nhà
nước.
Qua
10 năm hoạt động, Kiểm toán Nhà nước đã khẳng định được vị trí vai trò của mình
trong cơ cấu bộ máy nhà nước; khẳng định được sự cần thiết và tính tất yếu
khách quan của công cụ kiểm tra, kiểm soát hoạt động quản lý kinh tế – tài
chính nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kiểm
toán Nhà nước đã thực hiện hàng nghìn cuộc kiểm toán với quy mô lớn nhỏ khác
nhau tại các đơn vị có sử dụng ngân sách nhà nước trên hầu khắp các lĩnh vực.
Qua kiểm toán đã giúp các bộ, ngành, các tỉnh, thành phố và các đơn vị được
kiểm toán nhìn nhận và đánh giá đúng đắn thực trạng tình hình tài chính, khắc
phục được những yếu kém sơ hở trong quản lý kinh tế và sản xuất kinh doanh;
phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng, cải
tiến và hoàn thiện hệ thống quản lý và kiểm soát nội bộ.
Thực
tiễn đã khẳng định sự cần thiết phải củng cố và phát triển Kiểm toán Nhà nước
như một công cụ kiểm tra, kiểm soát tài chính công không thể thiếu của nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, qua thực tiễn hoạt động, hệ thống pháp
luật về Kiểm toán Nhà nước đã bộc lộ những bất cập và hạn chế sau đây:
Một
là, hiện nay
chưa có một văn bản luật nào quy định đầy đủ về tổ chức và hoạt động của cơ
quan Kiểm toán Nhà nước Việt Nam. Thực tế, điều chỉnh hoạt động của Kiểm toán
Nhà nước của nhiều nước trên thế giới đã khẳng định hiệu lực hoạt động của cơ
quan Kiểm toán Nhà nước tuỳ thuộc vào địa vị pháp lý, chức năng và tính độc lập
của cơ quan Kiểm toán Nhà nước. Thông thường, địa vị pháp lý của cơ quan Kiểm
toán Nhà nước được quy định trong Hiến pháp, các vấn đề cụ thể về tổ chức và
hoạt động của Kiểm toán Nhà nước được quy định trong Luật kiểm toán nhà nước.
Thực tế đó đòi hỏi phải ban hành Luật kiểm toán nhà nước có giá trị pháp lý cao
hơn các văn bản dưới luật để quy định một cách phù hợp về tổ chức và hoạt động
của Kiểm toán Nhà nước.
Hai
là, địa vị
pháp lý hiện nay của cơ quan Kiểm toán Nhà nước còn chưa tương xứng với chức
năng, nhiệm vụ được giao nên phần nào làm giảm hiệu lực và hiệu quả của Kiểm
toán Nhà nước với tư cách là cơ quan kiểm tra tài chính công cao nhất trong hệ
thống kiểm soát của nhà nước. Việc xây dựng và ban hành Luật kiểm toán nhà nước
sẽ xác định rõ ràng, hợp lý hơn địa vị pháp lý của Kiểm toán Nhà nước để tăng
cường vị thế và vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong việc trợ giúp Quốc hội,
Chính phủ quản lý, giám sát tài chính nhà nước và tài sản công.
Ba
là, nhiều
vần đề liên quan đến Kiểm toán Nhà nước trong Luật ngân sách nhà nước, Luật ngân
hàng nhà nước và các luật khác chỉ dừng ở mức quy định chung, chưa được cụ thể
hoá dẫn tới khó khăn trong quá trình thực hiện như quy định thời hạn gửi báo
cáo quyết toán ngân sách nhà nước; kiểm toán quyết toán ngân sách sau khi Quốc
hội, Hội đồng nhân dân phê chuẩn; trách nhiệm cụ thể của kiểm toán nhà nước
trong báo cáo kết quả kiểm toán.
Để
giải quyết những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn hoạt động kiểm toán và
khắc phục những hạn chế của hệ thống pháp luật hiện hành về Kiểm toán Nhà nước,
cần thiết phải ban hành Luật kiểm toán nhà nước nhằm điều chỉnh về tổ chức,
hoạt động của Kiểm toán Nhà nước một cách đầy đủ, toàn diện hơn, tương xứng với
nhiệm vụ mà Kiểm toán Nhà nước đảm nhận.
II. Quan điểm chỉ đạo việc
soạn thảo luật Kiểm toán nhà nước
1. Luật
kiểm toán nhà nước thể chế hoá các đường lối, chủ trương về phát triển kiểm
toán nhà nước đã được khẳng định trong các văn kiện của Đảng: “Đề cao vai trò
có sử dụng ngân sách nhà nước. Cơ quan Kiểm toán Nhà nước báo cáo kết quả kiểm
toán cho Quốc hội, Chính phủ và công bố khai cho dân biết” (Nghị quyết Hội
nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII);”…thiết lập cơ chế
giám sát tài chính – tiền tệ, nhằm đảm bảo an ninh tài chính quốc gia, kiểm
soát các nguồn vốn, các khoản vay nợ, trả nợ, mở rộng hình thức công khai tài
chính. Nâng cao hiệu lực pháp lý và chất lượng kiểm toán nhà nước như một công
cụ mạnh của nhà nước” (Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX).
2. Dự
thảo Luật kiểm toán nhà nước kế thừa những quy định còn phù hợp trong các văn
bản pháp luật hiện hành, bổ sung những quy định cần thiết để đảm bảo cho hoạt
động kiểm toán nhà nước vừa đáp ứng yêu cầu cần thiết để đảm bảo cho hoạt động
Kiểm toán Nhà nước, vừa phù hợp với xu hướng phát triển trong tương lai.
3.
Luật kiểm toán nhà nước phải đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, nhất là
Luật ngân sách nhà nước, các luật, bộ luật, pháp lệnh liên quan đến hệ thống
tài chính, hoạt động thanh tra, kiểm tra tài chính.
4.
Luật kiểm toán nhà nước được xây dựng trên cơ sở tham khảo có chọn lọc nội dung
luật kiểm toán của một số nước trong khu vực, trên thế giới và tuyên bố Lima về kiểm tra tài chính của Tổ chức
Quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI).
III. Bố cục của Luật
Luật
kiểm toán nhà nước gồm 8 chương và 76 điều quy định về tổ chức và hoạt động
kiểm toán nhà nước.
Chương
I. Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 12)
Chương
này gồm các quy định về phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng của Luật kiểm
toán nhà nước; quy định về mục đích kiểm toán; giải thích các thuật ngữ; đối
tượng kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức quản
lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước đối với tính chính xác, trung
thực của báo cáo tài chính. Quy định về nguyên tắc hoạt động kiểm toán của Kiểm
toán Nhà nước; chuẩn mực kiểm toán nhà nước; giá trị của báo cáo kiểm
toán; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân
có liên quan đến hoạt động Kiểm toán Nhà nước. Các quy định về việc áp dụng
điều ước quốc tế và các hành vi bị nghiêm cấm đối với Kiểm toán Nhà nước và
Kiểm toán viên nhà nước.
Chương
II. Địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Kiểm toán Nhà
nước (từ
Điều 13 đến Điều 26) được chia thành 4 mục:
Mục
1. Địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Kiểm toán Nhà nước, gồm
4 điều từ Điều 13 đến Điều 16.
Mục
2. Tổng Kiểm toán Nhà nước, Phó Tổng Kiểm toán Nhà nước, gồm 4 điều từ Điều 17
đến Điều 20.
Mục
3. Tổ chức của Kiểm toán Nhà nước, gồm 4 điều từ Điều 21 đến Điều 24.
Mục
4. Hội đồng Kiểm toán Nhà nước, được quy định tại Điều 25 và Điều 26.
Chương III. Kiểm toán viên nhà nước và
cộng tác viên kiểm toán(từ Điều 27 đến Điều 32)
Chương
này quy định chức danh Kiểm toán viên nhà nước; thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm
Kiểm toán viên nhà nước; tiêu chuẩn chung và trách nhiệm của Kiểm toán viên nhà
nước. Quy định về những trường hợp Kiểm toán viên nhà nước không được thực hiện
kiểm toán và quy định về cộng tác viên kiểm toán.
Chương IV. Hoạt động kiểm toán (từ Điều 33 đến Điều 62)
được chia thành 7 mục:
Mục
1. Quyết định kiểm toán, gồm 3 điều từ Điều 33 đến Điều 35.
Mục
2. Loại hình và nội dung kiểm toán, gồm 5 điều từ Điều 36 đến Điều 40.
Mục
3. Thời hạn kiểm toán, địa điểm kiểm toán, được quy định tại Điều 41 và Điều
42.
Mục
4. Đoàn kiểm toán, gồm 7 điều từ Điều 43 đến Điều 49.
Mục
5. Quy trình kiểm toán, gồm 8 điều từ Điều 50 đến Điều 57.
Mục
6. Công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm
toán, được quy định tại Điều 58 và Điều 59.
Mục
7. Hồ sơ kiểm toán, gồm 3 điều từ Điều 60 đến Điều 62.
Chương
V. Quyền và nghĩa vụ của đơn vị được kiểm toán (từ Điều 63 đến Điều 66 )
Chương
này quy định về các đơn vị được kiểm toán, quyền và nghĩa vụ của đơn vị được
kiểm toán và trách nhiệm gửi báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách.
- Chương
VI. Bảo đảm hoạt động của Kiểm toán Nhà nước (từ Điều 67 đến Điều 71)
Chương
này quy định về kinh phí hoạt động của Kiểm toán Nhà nước; biên chế của Kiểm
toán Nhà nước; đầu tư hiện đại hoá hoạt động Kiểm toán Nhà nước. Quy định về
chế độ với cán bộ, công chức của Kiểm toán Nhà nước và thẻ Kiểm toán viên nhà
nước.
Chương VII. Giám sát hoạt động của Kiểm
toán Nhà nước, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo (từ
Điều 72 đến Điều 74)
Chương
này quy định về giám sát hoạt động của Kiểm toán Nhà nước; xử lý vi phạm; giải
quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo về Kiểm toán Nhà nước.
Chương
VIII. Điều khoản thi hành (Điều 75 và Điều 76) quy định về kiểm toán lĩnh vực
quốc phòng, an ninh và hiệu lực thi hành của Luật.
IV. Những nội dung cơ bản của luật kiểm toán
nhà nước
Luật
kiểm toán nhà nước được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng
6 năm 2005 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2006.
Luật
kiểm toán nhà nước được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn 10 năm hoạt động
của Kiểm toán Nhà nước, kế thừa những quy định còn phù hợp trong các văn bản
pháp luật hiện hành, nhất là Luật Ngân sách nhà nước, các luật, pháp lệnh liên
quan đến hệ thống tài chính, hoạt động thanh tra, kiểm tra tài chính. Luật kiểm
toán nhà nước đã quán triệt và thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng về
phát triển kiểm toán nhà nước, tham khảo có chọn lọc nội dung Luật kiểm toán
của một số nước trong khu vực, trên thế giới; Tuyên bố Lima về kiểm tra tài
chính của Tổ chức Quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI) và phục vụ
yêu cầu hội nhập quốc tế.
Luật kiểm toán nhà nước được xây dựng theo phương án
luật chi tiết để khi ban hành có thể thực hiện được ngay, nội dung của Luật
phải vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa phù hợp với xu hướng phát triển hoạt
động kiểm toán trong tương lai.
Với mục đích và quan điểm như vậy, Luật kiểm toán nhà nước gồm những nội
dung cơ bản sau đây:
1.Về
tên gọi của Luật
Tên gọi của luật là một nội dung quan trọng đầu tiên cần phải làm rõ vì
nó quyết định đến phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của luật. Hiện nay,
trong nền kinh tế quốc dân có 3 loại kiểm toán là kiểm toàn nhà nước, kiểm toán
độc lập và kiểm toán nội bộ; ba loại kiểm toán này rất khác nhau về tổ chức bộ
máy, phạm vi, đối tượng kiểm toán, hoạt động kiểm toán và giá trị pháp lý của báo
cáo kiểm toán. Do vậy, không thể điều chỉnh cả 3 loại kiểm toán nêu trên trong
cùng một văn bản luật. Thực tế, ở tất cả các nước trong Tổ chức Quốc tế các cơ
quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI) đều có riêng Luật kiểm toán nhà nước để điều chỉnh tổ chức và hoạt động
của Kiểm toán Nhà nước một cách riêng biệt. Do vậy, Quốc hội đã quyết định lấy
tên của Luật này là Luật kiểm toán nhà nước.
2.
Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Theo
Điều 1 Luật kiểm toán nhà nước thì: "Luật này quy định về địa vị pháp lý,
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Kiểm toán Nhà nước; nhiệm vụ,
quyền hạn của Kiểm toán viên nhà nước; đơn vị được kiểm toán và tổ chức, cá
nhân có liên quan; hoạt động và bảo đảm hoạt động của Kiểm toán Nhà nước".
Với phạm vi điều chỉnh như trên, Luật kiểm toán nhà nước điều chỉnh một cách
toàn diện cả về tổ chức và hoạt động của Kiểm toán Nhà nước, khắc phục được
những tồn tại và bất cập trong những quy định hiện hành của pháp luật về Kiểm
toán nhà Nước.
Việc xác định phạm vi
điều chỉnh của Luật như trên nhằm tập trung điều chỉnh về tổ chức và hoạt động
của Kiểm toán Nhà nước, đáp ứng yêu cầu tăng cường công tác kiểm tra, giám sát
của Nhà nước trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước; đồng
thời phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế và chủ trương của Đảng: "Nâng
cao hiệu lực pháp lý và chất lượng Kiểm toán Nhà nước như một công cụ mạnh của
nhà nước".
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm toán Nhà nước được quy định đầy
đủ hơn " Kiểm toán Nhà nước có chức năng kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm
toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động đối với mọi cơ quan, tổ chức có quản lý, sử
dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước" (Điều 14).
Đối
tượng kiểm toán và đơn vị được kiểm toán cũng được xác định rõ ràng hơn, vừa
đảm bảo tính cụ thể, vừa đảm bảo tính khái quát cao hơn theo tinh thần Nghị
quyết của Đảng "Đề cao vai trò của cơ quan Kiểm toán Nhà nước trong
việc kiểm toán mọi cơ quan, tổ chức có sử dụng ngân sách nhà nước".
Luật
kiểm toán nhà nước quy định đối tượng áp dụng của Luật, bao gồm "đơn vị
được kiểm toán; Kiểm toán Nhà nước và tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến
hoạt động kiểm toán nhà nước" (Điều 2).
4.
Về nguyên tắc hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước
Điều
7 Luật kiểm toán nhà nước khẳng định
nguyên tắc hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước:
"1. Độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật;
2.
Trung thực, khách quan".
Yêu cầu đầu tiên đối với hoạt động kiểm toán nhà nước là phải "Độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật". Tính độc lập được đề cập ở đây bao
gồm sự độc lập về tổ chức và hoạt động của cơ quan Kiểm toán Nhà nước, Tổng Kiểm toán Nhà nước và Kiểm toán viên nhà nước (được quy định chi tiết trong các
chương, điều có liên quan).
Đây là nguyên tắc cơ bản, quan trọng mang tính xuyên suốt đối
với hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước được quy định trên cơ sở yêu cầu
thực tiễn nâng cao hiệu lực pháp lý và chất lượng kiểm toán của Kiểm toán
Nhà nước và phù hợp với thông lệ quốc tế. Theo Tuyên bố Lima về kiểm tra
tài chính công của Tổ chức Quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao mà Kiểm toán
Nhà nước Việt Nam là thành viên chính thức thì tính độc lập của cơ quan Kiểm
toán Nhà nước là nguyên tắc tối cao, là tiền đề cơ bản bảo
đảm cho công tác kiểm tra tài chính công có hiệu lực và hiệu quả. Tính độc lập
của cơ quan Kiểm toán Nhà nước thường được quy định trong Hiến pháp, những quy
định cụ thể về tổ chức và hoạt động của Kiểm toán Nhà nước được quy định trong
Luật kiểm toán nhà nước.
Hoạt động kiểm toán nhà nước phải bảo đảm trung thực,
khách quan, vì kết quả kiểm toán là một trong những căn cứ quan trọng để
Quốc hội, Chính phủ và Hội đồng nhân dân sử dụng trong quá trình thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của mình; đồng thời để Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân
và các cơ quan điều tra sử dụng trong việc xem xét, xử lý các hành vi vi phạm
pháp luật về kinh tế, tài chính.
5. Về chuẩn mực kiểm toán
Khoản
1 Điều 8 Luật kiểm toán nhà nước quy định: "Chuẩn mực Kiểm toán Nhà
nước gồm những quy định về nguyên tắc hoạt động, điều kiện và yêu cầu về đạo
đức nghề nghiệp, năng lực đối với Kiểm toán viên nhà nước; quy định về nghiệp
vụ kiểm toán và xử lý các mối quan hệ phát sinh trong hoạt động kiểm toán mà
kiểm toán viên nhà nước phải tuân thủ khi tiến hành hoạt động kiểm toán; là cơ
sở để kiểm tra, đánh giá chất lượng kiểm toán và đạo đức nghề nghiệp của Kiểm
toán viên nhà nước".
Quy
định trên đây mang tính định nghĩa về chuẩn mực kiểm toán. Những nguyên tắc
mang tính khái quát và phổ biến nhất như tính độc lập của cơ quan Kiểm toán Nhà
nước, thẩm quyền bổ nhiệm Tổng Kiểm toán Nhà nước, Phó Tổng Kiểm toán Nhà nước,
lập kế hoạch kiểm toán năm, tính độc lập của Kiểm toán viên nhà nước và tính
độc lập về tài chính của Kiểm toán Nhà nước cũng như các quy định mang tính
chuẩn mực trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước đã được quy định
trong Luật. Trên cơ sở những nguyên tắc chung đã được luật hoá, Tổng Kiểm toán
Nhà nước ban hành những chuẩn mực cụ thể mang tính chuyên môn nghề nghiệp để
hướng dẫn cụ thể trong tổ chức và hoạt động kiểm toán nhà nước. Do vậy, Luật
quy định: Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về quy trình xây dựng và ban
hành hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước. Tổng Kiểm toán Nhà nước xây dựng và
ban hành hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước trên cơ sở quy định của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội (khoản 2, khoản 3 Điều 8), là phù hợp với thông lệ quốc
tế và tình hình thực tế của Việt Nam.
6.
Về giá trị của báo cáo kiểm toán
Giá
trị của báo cáo kiểm toán được quy định tại Điều 9 của Luật kiểm toán nhà nước.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 "Báo cáo kiểm toán của Kiểm toán Nhà
nước là sự xác nhận về tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính, báo cáo
quyết toán ngân sách; đánh giá tính tuân thủ pháp luật, tính kinh tế, tính hiệu
lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà
nước".
Báo
cáo kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước dựa trên những bằng chứng kiểm toán là số
liệu, tài liệu kế toán, dựa trên các căn cứ pháp luật và chuẩn mực kiểm toán
nên có tính khoa học, chính xác cao. Mặt khác, báo cáo kiểm toán của Kiểm toán
Nhà nước trước khi công bố còn được gửi lấy ý kiến của đơn vị được kiểm toán,
nếu đơn vị được kiểm toán không nhất trí với kết luận kiểm toán thì có quyền
kiến nghị với Tổng Kiểm toán Nhà nước, cơ quan nhà nước có thẩm quyền (quy định
tại khoản 4 Điều 64). Do vậy, Luật kiểm toán nhà nước quy định: " Đơn
vị được kiểm toán phải thực hiện các kết luận, kiến nghị của Kiểm toán
Nhà nước đối với các sai phạm trong báo cáo tài chính và các sai phạm trong
việc tuân thủ pháp luật; thực hiện các biện pháp khắc phục yếu kém trong hoạt
động của đơn vị do Kiểm toán Nhà nước phát hiện và kiến nghị" (điểm đ
khoản 2 Điều 9). Trường hợp đơn vị được kiểm
toán không thực hiện các kết lụân, kiến nghị kiểm toán thì Kiểm toán Nhà nước kiến
nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu đơn vị được kiểm toán thực hiện
các kết luận, kiến nghị kiểm toán theo quy định tại khoản 4 Điều 16: "Kiến
nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu các đơn vị được kiểm toán thực
hiện các kết luận, kiến nghị kiểm toán đối với các trường hợp sai phạm trong
báo cáo tài chính và các sai phạm trong việc tuân thủ pháp luật; đề nghị xử lý
theo pháp luật những trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ,
kịp thời các kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước".
Mặt khác, khoản 3 Điều 9 của Luật
quy định: "Cơ quan, người có thẩm quyền sử dụng kết luận kiểm toán
quyết định chấp nhận kết luận kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước và phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình. Kết luận kiểm toán đã được
cơ quan hoặc người có thẩm quyền chấp nhận có giá trị bắt buộc thực hiện".
7.
Về đối tượng kiểm toán và đơn vị được kiểm toán
Điều
5 Luật kiểm toán nhà nước quy định: "Đối tượng kiểm toán của Kiểm toán
Nhà nước là hoạt động có liên quan đến quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài
sản nhà nước".
Quy định trên đây đã bao quát
hết các hoạt động thuộc đối tượng kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước; đồng thời
quy định như vậy đã phân biệt rõ đối tượng kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước với
các đơn vị được kiểm toán là các cơ quan, đơn vị, tổ chức có quản lý, sử dụng
ngân sách, tiền và tài sản nhà nước. Về nguyên tắc, vốn và tài sản nhà nước có
nguồn gốc từ ngân sách nhà nước phải được Kiểm toán Nhà nước thực hiện kiểm
toán, bảo đảm quyền chủ sở hữu của Nhà nước đối với các tài sản của mình. Do
vậy, đối tượng kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước phải là hoạt động kinh tế nhà
nước và tài chính nhà nước của mọi cơ quan, đơn vị, tổ chức có quản lý, sử dụng
ngân sách nhà nước; các doanh nghiệp nhà nước; các cơ quan, đơn vị, tổ chức
quản lý các quỹ tập trung của Nhà nước; các đơn vị quản lý, sử dụng các nguồn
vốn nhà nước dưới hình thức trực tiếp hay gián tiếp khác.
Luật kiểm toán nhà nước đã
xác định rõ các đơn vị được kiểm toán bắt buộc thuộc thẩm quyền kiểm tra tài
chính của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu còn kế hoạch kiểm toán hàng năm
của Kiểm toán Nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc chọn mẫu theo yêu cầu
quản lý của Nhà nước, yêu cầu giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân và phù
hợp với năng lực (biên chế, kinh phí) của Kiểm toán Nhà nước trong từng thời
kỳ. Một số đối tượng khác với tính chất không phức tạp và quy mô không lớn, như
đối với các đơn vị nhận trợ giá, trợ cấp của Nhà nước, các đơn vị có công nợ
được Nhà nước bảo lãnh mà không phải là doanh nghiệp nhà nước thì các đơn vị
này có thể thuê doanh nghiệp kiểm toán kiểm toán nhưng các doanh nghiệp kiểm
toán phải thực hiện theo chuẩn mực, quy trình kiểm toán nhà nước và gửi báo cáo
kiểm toán cho Kiểm toán Nhà nước. Do vậy, Luật kiểm toán nhà nước đã quy định
các đơn vị được kiểm toán tại Điều 63 của Luật như sau:
"1.
Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan khác ở trung ương.
2.
Cơ quan được giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách nhà nước các cấp.
3.
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp, cơ quan khác ở địa phương.
4.
Đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân.
5.
Đơn vị quản lý quỹ dự trữ của Nhà nước, quỹ dự trữ của các ngành, các cấp, quỹ
tài chính khác của Nhà nước.
6. Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có sử dụng kinh
phí ngân sách nhà nước.
7.
Đơn vị sự nghiệp được ngân sách nhà nước bảo đảm một phần hoặc toàn bộ kinh
phí.
8.
Tổ chức quản lý tài sản quốc gia.
9.
Ban Quản lý dự án đầu tư có nguồn kinh phí ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc
từ ngân sách nhà nước.
10.
Hội, liên hiệp hội, tổng hội và các tổ chức khác được ngân sách nhà nước hỗ trợ
một phần kinh phí hoạt động.
11.
Doanh nghiệp nhà nước.
12.
Ngoài cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại các khoản từ khoản 1 đến khoản 11
Điều này, đơn vị nhận trợ giá, trợ cấp của Nhà nước, đơn vị có công nợ được Nhà
nước bảo lãnh mà không phải là doanh nghiệp nhà nước có thể thuê doanh nghiệp
kiểm toán thực hiện kiểm toán; doanh nghiệp kiểm toán phải thực hiện việc kiểm
toán theo chuẩn mực, quy trình kiểm toán nhà nước và gửi báo cáo kiểm toán cho
Kiểm toán Nhà nước".
8. Về địa vị pháp lý của Kiểm
toán Nhà nước
Địa
vị pháp lý của Kiểm toán Nhà nước được quy định tại Điều 13 của Luật như
sau: "Kiểm toán Nhà nước là cơ
quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập,
hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật". Việc xác định rõ địa vị
pháp lý của Kiểm toán Nhà nước như trên là cơ sở để quy định cụ thể chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và mối quan hệ của Kiểm toán Nhà nước với
Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan khác của Nhà nước.
9.
Về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm toán Nhà
nước
Nhiệm
vụ, quyền hạn của Kiểm toán Nhà nước được quy định tại Điều 15, Điều 16 của
Luật kiểm toán nhà nước.
Với
vị thế là cơ quan chuyên môn do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật thì nhiệm vụ và quyền hạn của Kiểm toán Nhà nước cần phải
được bổ sung cho tương xứng với địa vị pháp lý mới. Do vậy, Luật kiểm toán nhà
nước đã bổ sung thêm các nhiệm vụ như đã được quy định tại khoản 3, khoản 4,
khoản 5, khoản 6 và khoản 7 Điều 15, cụ thể như sau:
- Xem xét, quyết định việc
kiểm toán khi Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương có yêu cầu.
- Trình ý kiến của Kiểm toán
Nhà nước để Quốc hội xem xét, quyết định dự toán ngân sách nhà nước, quyết định
phân bổ ngân sách trung ương, quyết định các dự án, công trình quan trọng quốc
gia, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước.
Kiểm toán dự toán ngân sách
nhà nước, các dự án, công trình quan trọng quốc gia là một nhiệm vụ mới của
Kiểm toán Nhà nước so với quy định của Luật ngân sách nhà nước và các quy định
hiện hành về kiểm toán nhà nước. Đây chính là hình thức kiểm toán trước của
Kiểm toán Nhà nước, nhằm bảo đảm các nguồn lực được động viên và phân bổ vào
những mục tiêu phát triển của đất nước cũng như tính kinh tế, hiệu lực và hiệu
quả của các khoản chi ngân sách nhà nước; tránh được những sai sót, gian lận
ngay từ khi lập và phân bổ dự toán…Quy định này phù hợp với thông lệ quốc tế và
tình hình thực tiễn của nước ta.
- Tham gia với Uỷ ban kinh tế
và ngân sách của Quốc hội và các cơ quan khác của Quốc hội, Chính phủ trong
việc xem xét, thẩm tra các báo cáo về dự toán ngân sách nhà nước, phương án
phân bổ ngân sách trung ương, phương án điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước,
phương án bố trí ngân sách cho các dự án, công trình quan trọng quốc gia do
Quốc hội quyết định và quyết toán ngân sách nhà nước.
- Tham gia với Uỷ ban kinh tế
và ngân sách của Quốc hội khi có yêu cầu trong hoạt động giám sát việc thực
hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ
Quốc hội về lĩnh vực tài chính - ngân sách, giám sát việc thực hiện ngân sách
nhà nước và chính sách tài chính.
- Tham gia với các cơ quan
của Chính phủ, của Quốc hội khi có yêu cầu trong việc xây dựng và thẩm tra các
dự án luật, pháp lệnh.
Về
kế hoạch kiểm toán năm của Kiểm toán Nhà nước:
Khoản 1 Điều
15 của Luật quy định, Kiểm toán Nhà nước có nghĩa vụ "Quyết định kế
hoạch kiểm toán hàng năm và báo cáo với Quốc hội, Chính phủ trước khi thực
hiện". Quy định như trên là phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện
thực tiễn của nước ta. Tuyên bố Lima về kiểm tra tài chính công của Tổ chức
Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao nhấn mạnh phải để cho các cơ quan Kiểm
toán Nhà nước tự mình lập chương trình (kế hoạch) kiểm toán và không được để
công việc này nằm trong phạm vi tác động của các cơ quan nhà nước khác, bảo đảm
tính độc lập của Kiểm toán Nhà nước.
10. Về Tổng
Kiểm toán Nhà nước, Phó Tổng Kiểm toán Nhà nước
- Thẩm quyền và quy trình bổ nhiệm Tổng Kiểm toán Nhà nước:
Khoản 2 Điều 17 của Luật quy định về thẩm quyền bổ nhiệm Tổng Kiểm toán
Nhà nước: "Tổng Kiểm toán Nhà nước do Quốc hội bầu, miễn nhiệm và bãi
nhiệm theo đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội sau khi trao đổi thống nhất
với Thủ tướng Chính phủ".
- Nhiệm kỳ của Tổng Kiểm toán Nhà
nước:
Khoản 3 Điều
17 quy định: "Nhiệm kỳ của Tổng Kiểm toán Nhà nước là bảy năm, có thể
được bầu lại nhưng không quá hai nhiệm kỳ".
Nhiệm kỳ của
Tổng Kiểm toán Nhà nước là bảy năm
là để đảm bảo tính liên tục, tính chuyên sâu, tính chuyên nghiệp cao,
phù hợp với thông lệ quốc tế. Việc quy định nhiệm kỳ của Tổng Kiểm toán nhà
nước là 7 năm đối với nước ta là phù hợp vì bảo đảm được tính được tính liên
tục, gối đầu trong xem xét, xác nhận quyết toán ngân sách nhà nước (Luật Ngân
sách nhà nước quy định Quốc hội xem xét phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước
chậm nhất là sau 18 tháng kể từ khi kết thúc năm ngân sách).
Chế độ đối với Tổng Kiểm toán Nhà nước: khoản 4 Điều
17 của Luật quy định: "Lương và các chế độ khác của Tổng Kiểm toán Nhà
nước như lương và các chế độ khác của Chủ nhiệm Uỷ ban của Quốc hội do Uỷ ban
thường vụ Quốc hội quyết định trên cơ sở chính sách, chế độ tiền lương
của Nhà nước".
Luật kiểm toán nhà nước quy định về Phó Tổng Kiểm toán nhà nước tại Điều
20 của Luật như sau:
- Phó Tổng Kiểm toán Nhà nước do Tổng Kiểm toán Nhà nước đề nghị Uỷ
ban thường vụ Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. Nhiệm kỳ của Phó Tổng
Kiểm toán Nhà nước là bảy năm.
- Lương và các chế độ khác của
Phó Tổng Kiểm toán Nhà nước như lương và các chế độ khác của Phó Chủ nhiệm Uỷ
ban của Quốc hội do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định trên cơ sở chính sách,
chế độ tiền lương của Nhà nước.
11.
Về Kiểm toán viên nhà nước
Kiểm
toán viên nhà nước là chức danh của người trực tiếp thực hiện hoạt động kiểm
toán. Cơ quan Kiểm toán Nhà nước thực thi nhiệm vụ của mình chủ yếu thông qua
đội ngũ Kiểm toán viên nhà nước. Vì vậy, lực lượng Kiểm toán viên nhà nước mạnh
hay yếu là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động, hiệu lực và hiệu
quả cũng như uy tín của Kiểm toán Nhà nước. Việc quy định cụ thể vị trí, vai
trò, tiêu chuẩn, chế độ, trách nhiệm của Kiểm toán viên nhà nước là rất cần
thiết, nhằm tạo sự thống nhất trong việc lựa chọn, đào tạo và phân công nhiệm
vụ cho Kiểm toán viên.
Theo
quy định tại Điều 27 của Luật kiểm toán nhà nước: "Kiểm toán viên nhà
nước là công chức nhà nước được bổ nhiệm vào ngạch kiểm toán để thực hiện nhiệm
vụ kiểm toán. Uỷ ban thường vụ Quốc hội
quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và tiêu chuẩn cụ thể của từng ngạch Kiểm
toán viên nhà nước".
Về tiêu chuẩn chung của Kiểm
toán viên nhà nước: theo quy định tại Điều 29 Luật kiểm toán nhà nước thì Kiểm toán
viên nhà nước phải có đủ các tiêu chuẩn của cán bộ, công chức theo quy định của
pháp luật về cán bộ, công chức và các tiêu chuẩn sau đây: "Có phẩm chất
đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, khách quan; có bằng
tốt nghiệp đại học trở lên thuộc một trong các chuyên ngành kiểm toán, kế toán,
tài chính, ngân hàng, kinh tế, luật hoặc chuyên ngành khác có liên quan trực
tiếp đến hoạt động kiểm toán; đã có thời gian làm việc liên tục từ năm năm trở
lên theo chuyên ngành được đào tạo hoặc có thời gian làm nghiệp vụ kiểm toán ở
Kiểm toán Nhà nước từ ba năm trở lên; đã tốt nghiệp chương trình bồi dưỡng Kiểm
toán viên nhà nước và được Tổng Kiểm toán Nhà nước cấp chứng chỉ".
Kiểm toán viên nhà nước có trách nhiệm (Điều 30):
- Thực hiện nhiệm vụ kiểm toán và chịu trách
nhiệm trước Tổ trưởng Tổ kiểm toán, Trưởng Đoàn kiểm toán về việc thực hiện
nhiệm vụ kiểm toán được phân công; đưa ra ý kiến đánh giá, xác nhận, kết luận
và kiến nghị về những nội dung đã kiểm tra trên cơ sở thu thập đầy đủ và đánh
giá các bằng chứng kiểm toán thích hợp.
- Tuân thủ pháp luật, nguyên tắc hoạt
động, chuẩn mực, quy trình, phương pháp chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán nhà nước
và các quy định khác có liên quan của Tổng Kiểm toán Nhà nước.
- Chịu trách nhiệm trước Tổng
Kiểm toán Nhà nước và trước pháp luật về những bằng chứng, đánh giá, xác nhận,
kết luận và kiến nghị của mình.
-
Thu thập bằng chứng kiểm toán, ghi sổ nhật ký kiểm toán và các tài liệu làm
việc khác của Kiểm toán viên theo quy định của Tổng Kiểm toán Nhà nước.
-
Giữ bí mật thông tin, tài liệu thu thập được trong quá trình kiểm toán.
- Khi thực hiện nhiệm vụ kiểm
toán, Kiểm toán viên nhà nước phải xuất trình và đeo thẻ Kiểm toán viên nhà
nước.
- Thường xuyên học tập và rèn
luyện để nâng cao kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm và đạo đức nghề nghiệp;
thực hiện chương trình cập nhật kiến thức hàng năm theo quy định của Tổng Kiểm
toán Nhà nước, bảo đảm có đủ năng lực, trình độ chuyên môn phù hợp với nhiệm vụ
được giao.
- Khai báo kịp thời và đầy đủ
với người ra quyết định thành lập Đoàn kiểm toán khi có trường hợp quy định tại
Điều 31 của Luật này và các tình huống khác làm ảnh hưởng đến tính độc lập của
Kiểm toán viên nhà nước.
- Khi có hành vi vi phạm pháp
luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy
cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định
của pháp luật.
Để bảo đảm tính độc lập, trung thực, khách quan của
hoạt động kiểm toán, Luật đã quy định những trường hợp kiểm toán viên nhà nước
không được thực hiện kiểm toán tại Điều 31 như sau:
- Góp vốn, mua cổ phần hoặc có quan hệ khác về lợi
ích kinh tế với đơn vị được kiểm toán.
- Đơn vị được kiểm toán mà mình đã làm lãnh đạo, kế toán
trưởng hoặc phụ trách kế toán trong thời hạn ít nhất là năm năm kể từ khi
chuyển công tác.
- Có quan hệ là bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹ nuôi, bố chồng,
mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, vợ, chồng, con,
anh, chị, em ruột với người đứng đầu, kế toán trưởng hoặc người phụ
trách kế toán của đơn vị được kiểm toán.
12. Về hoạt động kiểm toán
Hoạt động kiểm toán là một trong những nội
dung quan trọng của Luật kiểm toán nhà nước. Do vậy, Luật kiểm toán nhà nước đã
dành một chương riêng (Chương IV) gồm 7 mục với 29 điều quy định về hoạt động
kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước. Các quy định của Chương này được quy định khá
chi tiết và đầy đủ về các loại hình kiểm toán và nội dung của từng loại hình
đó; quy định cụ thể, chi tiết về trình tự, thủ tục và quy trình tiến hành một
cuộc kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước. Hoạt động kiểm toán được xây dựng theo
trình tự thủ tục tố tụng, bảo đảm chặt chẽ, cụ thể là: quy định về Quyết định
kiểm toán (Điều 35); loại hình kiểm toán và nội dung của từng loại hình kiểm
toán như Kiểm toán báo cáo tài chính,
kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động (Từ Điều 36 đến Điều 40); thời hạn
kiểm toán, địa điểm kiểm toán (Điều 41, Điều 42); thành lập và giải thể Đoàn
kiểm toán, thành phần Đoàn kiểm toán; quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn,
trách nhiệm của Trưởng Đoàn kiểm toán, Tổ trưởng tổ kiểm toán và các thành viên
khác của đoàn kiểm toán (từ Điều 43 đến Điều 49); quy trình kiểm toán, quy định
cụ thể các bước thực hiện một cuộc kiểm toán, nội dung công việc cần thực hiện
trong từng bước và yêu cầu về thời hạn của từng khâu trong quy trình lập và
phát hành báo cáo kiểm toán (từ Điều 50 đến Điều 57); công khai kết quả kiểm
toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán; theo dõi, kiểm tra
việc thực hiện kiến nghị kiểm toán và hồ sơ kiểm toán (từ Điều 58 đến Điều 62).
Ngoài
ra, Quốc hội cũng giao cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định việc kiểm toán
đối với một số hoạt động thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh (Điều 75).
13.
Về quyền và nghĩa vụ của đơn vị được kiểm toán
Luật
kiểm toán nhà nước cũng đã dành một chương riêng (Chương V) quy định về quyền
và nghĩa vụ của đơn vị được kiểm toán. Việc các đơn vị được kiểm toán nhận thức
được đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình là một trong những điều kiện giúp
cho hoạt động kiểm toán nhà nước đạt được hiệu quả cao; đồng thời, tạo tác động
tích cực đối với hoạt động của Kiểm toán Nhà nước và Kiểm toán viên nhà nước.
Theo
quy định tại Điều 64 Luật kiểm toán nhà nước thì đơn vị được kiểm toán có các
quyền:
- Yêu cầu Đoàn kiểm toán xuất
trình quyết định kiểm toán, Kiểm toán viên nhà nước xuất trình thẻ Kiểm toán
viên nhà nước.
- Từ chối cung cấp thông tin,
tài liệu không liên quan đến nội dung kiểm toán; đề nghị thay thế thành viên
Đoàn kiểm toán khi có bằng chứng cho thấy thành viên đó không vô tư trong khi
làm nhiệm vụ.
- Thảo luận, giải trình bằng văn bản về
những vấn đề được nêu trong dự thảo báo cáo kiểm toán nếu xét thấy chưa phù
hợp.
- Khiếu nại với Tổng Kiểm
toán Nhà nước về hành vi của Trưởng Đoàn kiểm toán, Tổ trưởng Tổ kiểm toán và
thành viên khác của Đoàn kiểm toán trong quá trình thực hiện kiểm toán khi có
căn cứ cho rằng hành vi đó là trái pháp luật; kiến nghị với Tổng Kiểm toán Nhà
nước, cơ quan nhà nước có thẩm quyền về
đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị kiểm toán khi có căn cứ cho
rằng đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị đó là trái pháp luật.
- Yêu cầu Kiểm toán Nhà nước,
Kiểm toán viên nhà nước bồi thường thiệt hại nếu có hành vi vi phạm pháp luật
gây thiệt hại về kinh tế cho đơn vị được kiểm toán theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện các quyền khác
theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, đơn vị được kiểm
toán phải thực hiện các nghĩa vụ (Điều 65):
-
Chấp hành quyết định kiểm toán.
- Lập và gửi đầy đủ, kịp thời
báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán dự án đầu tư; kế hoạch thu, chi; báo cáo
tình hình chấp hành và quyết toán ngân sách cho Kiểm toán Nhà nước theo yêu
cầu.
- Cung cấp đầy đủ, kịp thời
các thông tin, tài liệu cần thiết để thực hiện việc kiểm toán theo yêu cầu của
Kiểm toán Nhà nước, Kiểm toán viên nhà nước và phải chịu trách nhiệm trước pháp
luật về tính chính xác, trung thực, khách quan của thông tin, tài liệu đã cung
cấp.
- Trả lời và giải trình đầy
đủ, kịp thời các vấn đề do Đoàn kiểm toán, Kiểm toán viên nhà nước yêu cầu.
- Người đứng đầu đơn vị được
kiểm toán phải ký biên bản kiểm toán.
- Thực
hiện đầy đủ, kịp thời kết luận, kiến
nghị của Kiểm toán Nhà nước về các sai phạm trong báo cáo tài chính và sai phạm
trong việc tuân thủ pháp luật; thực hiện các biện pháp để khắc phục yếu kém
trong hoạt động theo kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước; báo cáo bằng
văn bản về việc thực hiện kết luận, kiến nghị đó cho Kiểm toán Nhà nước.
14.
Về giám sát hoạt động kiểm toán
Điều
72 của Luật quy định: "Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng
dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đ��i biểu Quốc hội theo
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm giám sát hoạt động và
việc sử dụng kinh phí của Kiểm toán Nhà nước. Khi xét thấy cần thiết,
Quốc hội thành lập Uỷ ban lâm thời để nghiên cứu, thẩm tra về kết quả hoạt động
của Kiểm toán Nhà nước". Đây là vấn đề có tính nguyên tắc bởi vì Kiểm
toán Nhà nước là cơ quan có vị thế cao, quyền hạn lớn, thì cùng với những quy
định nâng cao trách nhiệm của Kiểm toán Nhà nước, cần phải có cơ chế giám sát
rõ ràng, chặt chẽ đối với hoạt động của Kiểm toán Nhà nước theo đúng pháp luật.
15.
Về giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo
Luật kiểm toán nhà nước quy
định "Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị của
đơn vị được kiểm toán về báo cáo kiểm toán, Tổng Kiểm toán Nhà nước phải xem
xét, giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn này có thể kéo dài, nhưng
không quá bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị. Việc khiếu nại, tố
cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo về kiểm toán nhà nước được thực hiện theo
quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo" (Điều 74).
V. Tổ chức thi hành
Để làm tốt việc tuyên truyền,
phổ biến, giới thiệu Luật Kiểm toán Nhà nước đến các đối tượng có liên quan,
trước mắt cần tập trung vào một số công việc sau:
- Tổ chức các lớp tập huấn về
Luật Kiểm toán Nhà nước đến các cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách,
tiền và tài sản nhà nước và các đối tượng khác có liên quan.
- Phổ biến, tuyên truyền các
chuyên đề về Luật Kiểm toán Nhà nước trên các phương tiện thông tin đại chúng
và các hình thức khác phù hợp với quy định hiện hành.
Luật kiểm toán nhà nước là
luật chi tiết không phải chờ văn bản
hướng dẫn thi hành, vì vậy có thể thực hiện được ngay. Một số nội dung liên
quan đến tổ chức bộ máy, chế độ công tác trong nội bộ Kiểm toán Nhà nước, Luật
giao cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Tổng Kiểm toán Nhà nước quy định cụ thể. Kiểm
toán Nhà nước đang tiến hành soạn thảo trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành
Nghị quyết quy định về: Cơ cấu tổ chức của Kiểm toán Nhà nước; tiêu chuẩn Tổng
Kiểm toán Nhà nước; nhiệm vụ, quyền hạn và tiêu chuẩn cụ thể của từng ngạch
Kiểm toán viên nhà nước; quy trình xây dựng và ban hành chuẩn mực kiểm toán nhà
nước; kiểm toán đối với một số hoạt động thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh;
chế độ tiền lương, phụ cấp, trang phục đối với cán bộ, công chức Kiểm toán Nhà
nước và chế độ ưu tiên đối với Kiểm toán viên nhà nước. Tổng Kiểm toán Nhà nước
ban hành theo thẩm quyền: Hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước; chế độ thi,
cấp chứng chỉ, thẻ Kiểm toán viên nhà nước; quy định cụ thể về quy trình kiểm
toán và hồ sơ kiểm toán; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức các
đơn vị trực thuộc Kiểm toán Nhà nước…
BỘ TƯ PHÁP - VỤ PHỔ BIẾN,
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT KIỂM
TOÁN NHÀ NƯỚC - VỤ PHÁP CHẾ
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------