Đề cương giới thiệu luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật năm 2006
Ngày 29 tháng 6 năm 2006 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật. Luật sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2007.
I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT TIÊU CHUẨN VÀ QUY CHUẨN KỸ
THUẬT
1. Cùng với sự phát triển
của đời sống kinh tế - xã hội, hoạt động xây dựng, ban hành và áp dụng tiêu
chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật (hoạt động tiêu chuẩn hoá) trở thành một bộ phận
không thể tách rời của hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản lý kinh tế - xã
hội. Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật là công cụ và phương tiện quan trọng để
duy trì các chuẩn mực trong các quan hệ kinh tế, thương mại; thúc đẩy doanh
nghiệp quan tâm đổi mới, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm,
hàng hóa, dịch vụ; đảm bảo an toàn, vệ sinh, sức khoẻ cho con người; bảo vệ
động vật, thực vật và môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên để đáp
ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng và xã hội.
Hơn 40 năm qua, hoạt động
tiêu chuẩn hóa ở nước ta đã có nhiều đóng góp tích cực cho công cuộc phát triển
kinh tế - xã hội và cải thiện đời sống nhân dân. Với một hệ thống gần 8.000
tiêu chuẩn nhà nước luôn được cải tiến và đổi mới cho phù hợp với thực tiễn [1], hơn 3.000 tiêu chuẩn ngành
và hàng chục nghìn tiêu chuẩn cơ sở, hệ thống này đã trở thành công cụ hữu hiệu
góp phần đắc lực phục vụ yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội của đất nước qua các
thời kỳ và đưa hoạt động quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ nói
chung đi vào nền nếp. Trong gần 10 năm qua, bản thân hoạt động quản lý nhà nước
về tiêu chuẩn hóa cũng được đổi mới một bước về nội dung và phương thức hoạt
động nhằm theo kịp với các chuyển đổi mạnh mẽ trong quản lý kinh tế - xã hội
của đất nước và hội nhập.
Tuy nhiên, những đổi mới
bước đầu đó vẫn chưa thực sự đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của một nền kinh
tế đang chuyển đổi, trong bối cảnh toàn cầu hoá và gia tăng các liên kết khu
vực, quốc tế. Hoạt động tiêu chuẩn hoá ở nước ta và hệ thống các quy định pháp
luật hiện hành trong lĩnh vực này đang tỏ ra lạc hậu, kém hiệu quả, chưa đáp
ứng được yêu cầu đổi mới và phát triển. Có thể nêu một số điểm bất cập cần khắc
phục như sau:
- Các quy định pháp luật
hiện hành về xây dựng, ban hành và áp dụng tiêu chuẩn chưa được pháp điển hoá
trong một văn bản quy phạm pháp luật thống nhất, mà nằm rải rác ở nhiều văn bản
khác nhau, chưa đầy đủ và đồng bộ, chưa tương thích với thông lệ quốc tế và kém
hài hoà với hệ thống tiêu chuẩn của các nước phát triển trong khu vực cũng như
trên thế giới[2].
- Tổ chức hoạt động tiêu
chuẩn hoá chưa phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế thị trường, còn chịu ảnh hưởng
nặng nề của phương thức tiếp cận từ trên xuống vốn là đặc thù của nền kinh tế
tập trung. Việc xây dựng, ban hành tiêu chuẩn quốc gia chủ yếu phục vụ yêu cầu
quản lý của các cơ quan nhà nước mà chưa thu hút được sự tham gia rộng rãi của
các doanh nghiệp. Chưa có cơ chế xã hội hoá hoạt động xây dựng tiêu chuẩn để
huy động được các nguồn lực xã hội.
- Hệ thống tiêu chuẩn 3 cấp
hiện hành (tiêu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩn ngành và tiêu chuẩn cơ sở)[3] mà không có hệ thống quy
chuẩn kỹ thuật bắt buộc áp dụng dẫn đến nhiều bất cập trong quá trình áp dụng.
Thực chất, tiêu chuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn ngành là như nhau về đối tượng,
phạm vi áp dụng và cấp thẩm quyền ban hành; điều này dẫn tới sự chồng chéo,
thiếu nhất quán về đối tượng và nội dung tiêu chuẩn hóa, không bảo đảm được các
yêu cầu về nghiệp vụ xây dựng tiêu chuẩn và chưa phù hợp với thông lệ quốc tế.
Nhiều tiêu chuẩn lạc hậu so với thực tiễn, mức độ hài hoà với tiêu chuẩn quốc
tế còn thấp[4].
2. Thực tiễn phát triển đòi
hỏi phải có các thay đổi mạnh mẽ hơn nữa trong hoạt động tiêu chuẩn hóa, từ đó
nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ trong nước, khơi thông và
phát triển các quan hệ kinh tế, thương mại song phương và đa phương với các
nước trong tiến trình hội nhập.
Đặc biệt, trong bối cảnh mở
cửa nền kinh tế để phát triển và hội nhập, Nhà nước không thể quản lý, bao quát
được chất lượng của hàng triệu mặt hàng với nhiều chủng loại, mẫu mã đa dạng,
phong phú mà cần sự tham gia và chia sẻ trách nhiệm của các doanh nghiệp. Một
mặt, các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân phải được tham gia vào quá trình xây
dựng, áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và tự chịu trách nhiệm về chất
lượng sản phẩm, hàng hoá của mình, mặt khác, Nhà nước phải đổi mới tư duy quản
lý về tiêu chuẩn hoá cũng như phương pháp tiếp cận về quản lý chất lượng thì
mới theo kịp và đáp ứng được các yêu cầu của thực tiễn.
Với tinh thần đó, việc ban
hành Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật là hết sức cần thiết và cấp bách
nhằm đổi mới toàn diện và thống nhất điều chỉnh hoạt động tiêu chuẩn hoá, góp
phần nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, thúc
đẩy tiến trình gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và thực hiện Hiệp
định Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT/WTO), bảo vệ được lợi ích quốc gia
và lợi ích của các doanh nghiệp trong nước trước sức ép của cạnh tranh toàn cầu
và tự do hoá thương mại, đồng thời, thu hút đầu tư và chuyển giao công nghệ từ
nước ngoài vào Việt Nam phục vụ cho giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước.
II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ MỤC TIÊU XÂY DỰNG LUẬT TIÊU
CHUẨN VÀ QUY CHUẨN KỸ THUẬT
1. Quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật
Luật Tiêu chuẩn và Quy
chuẩn kỹ thuật được soạn thảo theo tinh thần quán triệt các quan điểm chỉ đạo
cơ bản sau đây:
- Thể chế hoá kịp thời các
chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về phát triển hoạt động tiêu chuẩn hoá phục
vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Đổi mới toàn diện tổ
chức, nội dung, phương thức hoạt động tiêu chuẩn hóa theo hướng thống nhất đầu mối
quản lý, giản lược các cấp tiêu chuẩn, áp dụng linh hoạt chế độ tiêu chuẩn tự
nguyện áp dụng và quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc áp dụng,... nhằm nâng cao hiệu
quả quản lý, tạo bước tiến rõ rệt về năng suất, chất lượng của các sản phẩm,
dịch vụ trong nước, thúc đẩy năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và chất
lượng tăng trưởng của nền kinh tế.
- Bảo đảm sự quản lý thống
nhất của Nhà nước cũng như quyền lợi và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân
trong hoạt động tiêu chuẩn hóa. Kế thừa các quy định pháp luật hiện hành về
tiêu chuẩn hóa đã được thực tiễn kiểm nghiệm và tham khảo có chọn lọc kinh
nghiệm pháp luật của các nước để vận dụng phù hợp với tình hình Việt Nam.
2. Mục tiêu cơ bản của Luật
-
Điều chỉnh việc xây dựng, công bố,
áp dụng tiêu chuẩn; xây dựng, ban hành, áp dụng quy chuẩn kỹ thuật; đánh giá sự
phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.
-
Đổi mới toàn diện hoạt động tiêu
chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các
tổ chức, cá nhân đối với chất lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của mình thông
qua nguyên tắc tự nguyện áp dụng tiêu chuẩn, xây dựng tiêu chuẩn cơ sở và chủ
động công bố hợp chuẩn; cơ chế bắt buộc áp dụng chỉ thực hiện với hệ thống các
quy chuẩn kỹ thuật do các Bộ, ngành, địa phương ban hành trong từng lĩnh vực
chuyên ngành. Nhà nước không phân biệt đối xử, không cản trở hoạt động sản
xuất, kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân
tham gia đầu tư và phát triển hoạt động tiêu chuẩn hóa.
- Đơn giản hóa hệ thống
tiêu chuẩn thành hai cấp gồm tiêu chuẩn quốc gia và tiêu chuẩn cơ sở, đồng
thời, quy chuẩn kỹ thuật bắt
buộc áp dụng cũng gồm hai cấp là quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy chuẩn kỹ
thuật địa phương. Hệ thống này sẽ thay thế và giải quyết được các mâu thuẫn,
chồng chéo của hệ thống tiêu chuẩn 3 cấp (quốc gia - ngành - cơ sở) như hiện
nay. Lộ trình chuyển đổi tiêu chuẩn ngành thành tiêu chuẩn quốc gia hoặc quy
chuẩn kỹ thuật quốc gia sẽ được Chính phủ quy định cụ thể.
-Thống nhất về một đầu
mối đối với thẩm quyền công bố tiêu chuẩn quốc gia và cơ quan quản lý nhà nước
về tiêu chuẩn để giảm thiểu sự cồng kềnh, chồng chéo và nâng cao hiệu quả của
toàn hệ thống, phù hợp với thông lệ quốc tế.
- Giao cho các Bộ (cơ quan
ngang Bộ) quản lý chuyên ngành về
thẩm quyền ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Như vậy, vai trò quản lý của các Bộ thể hiện
ở việc xây dựng và phê duyệt
các tiêu chuẩn quốc gia cũng như xây
dựng và ban hành các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Hiệu quả quản lý nhà
nước ở từng lĩnh vực chuyên ngành phụ thuộc vào việc thực hiện thẩm quyền này.
Việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật gắn với trách nhiệm quản lý nhà nước của các
Bộ, ngành, địa phương sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả và vai trò quản
lý nhà nước của các cơ quan này đối với các lĩnh vực chuyên ngành được phân
công.
III. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT TIÊU CHUẨN VÀ QUY CHUẨN KỸ THUẬT
1. Cấu trúc của Luật:
Luật Tiêu chuẩn và Quy
chuẩn kỹ thuật gồm 7 chương, 71 điều.
Chương I. Những quy định
chung (gồm 9 điều, từ Điều 1 đến Điều 9);
Chương II. Xây dựng, công
bố và áp dụng tiêu chuẩn (gồm 16 điều, từ Điều 10 đến Điều 25);
Chương III. Xây dựng, ban
hành và áp dụng quy chuẩn kỹ thuật (gồm 14 điều, từ Điều 26 đến Điều 39);
Chương IV. Đánh giá sự phù
hợp với tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật (gồm 5 mục, 18 điều, từ Điều 40 đến Điều
57);
Chương V. Trách nhiệm của
cá cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và lĩnh vực
quy chuẩn kỹ thuật (gồm 6 điều, từ Điều 58 đến Điều 63);
Chương VI. Thanh tra, xử lý
vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về hoạt động trong lĩnh vực
tiêu chuẩn và lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật (gồm 5 điều, từ Điều 64 đến Điều 68);
Chương VII. Điều khoản thi
hành (gồm 3 điều, từ Điều 69 đến Điều 71).
2. Nội
dung cơ bản của Luật
Chương
I. Những quy định chung
Chương này
quy định những vấn đề có tính nguyên tắc chung, chi phối toàn bộ nội dung của
Luật, bao gồm: phạm vi và đối tượng điều chỉnh; giải thích từ ngữ; áp dụng pháp
luật; đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và và đối tượng của
hoạt động trong lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật; nguyên tắc cơ bản của hoạt động
trong lĩnh vực tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; chính sách của Nhà nước về
phát triển hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật;
hợp tác quốc tế về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; những hành vi bị nghiêm
cấm trong lĩnh vực tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.
Về phạm vi điều chỉnh, Luật Tiêu chuẩn và
Quy chuẩn kỹ thuật quy định về hoạt động xây dựng, công bố và áp dụng tiêu
chuẩn; xây dựng, ban hành và áp dụng quy chuẩn kỹ thuật; đánh giá sự phù hợp
với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.
Đối tượng áp dụng của Luật là tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân
nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có hoạt động liên quan đến tiêu
chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật tại Việt Nam.
Những đối
tượng trên khi có hoạt động liên quan đến tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật tại
Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật.
Trong trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Luật này với quy định của
luật khác về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật thì áp dụng quy định của Luật
này; trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều
ước quốc tế đó.
Đối tượng
của hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và đối tượng của hoạt động trong lĩnh
vực quy chuẩn kỹ thuật bao gồm: sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi
trường; các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội. Chính phủ quy định
chi tiết về đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và đối tượng của
hoạt động trong lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật (Điều 5).
Để đảm bảo hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và lĩnh vực
quy chuẩn kỹ thuật, Điều 9 Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật đã quy định các hành vi bị nghiêm cấm, cụ thể:
- Lợi dụng hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và lĩnh vực
quy chuẩn kỹ thuật để cản trở, gây phiền hà, sách nhiễu đối với hoạt động sản
xuất, kinh doanh, thương mại của tổ chức, cá nhân.
- Thông tin, quảng cáo sai sự thật và các hành vi gian dối
khác trong hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật.
- Lợi dụng hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và lĩnh vực
quy chuẩn kỹ thuật để gây phương hại đến lợi ích quốc gia, quốc phòng, an ninh,
trật tự, an toàn xã hội.
Chương
II. Xây dựng, công bố và áp
dụng tiêu chuẩn.
Chương này
quy định hệ thống tiêu chuẩn và ký hiệu tiêu chuẩn; trách nhiệm xây dựng, thẩm
định, công bố tiêu chuẩn; loại tiêu chuẩn; căn cứ xây dựng tiêu chuẩn; quy
hoạch, kế hoạch xây dựng tiêu chuẩn quốc gia; quyền của các tổ chức, cá nhân
tham gia xây dựng tiêu chuẩn quốc gia; ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia; trình
tự, thủ tục xây dựng, thẩm định, công bố tiêu chuẩn quốc gia; nội dung thẩm
định dự thảo tiêu chuẩn quốc gia; rà soát, sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ
tiêu chuẩn quốc gia; xây dựng, công bố tiêu chuẩn cơ sở; xuất bản và phát hành
tiêu chuẩn; thông báo, phổ biến tiêu chuẩn quốc gia; nguyên tắc áp dụng tiêu
chuẩn; phương thức áp dụng tiêu chuẩn; nguồn kinh phí xây dựng tiêu chuẩn.
Hệ thống tiêu chuẩn và ký hiệu tiêu chuẩn của Việt Nam bao gồm:
- Tiêu chuẩn quốc gia, ký
hiệu là TCVN;
- Tiêu chuẩn cơ sở, ký hiệu
là TCCS.
Hệ thống tiêu chuẩn được đơn giản hoá chỉ còn 2 cấp quốc gia và cơ sở.
Hệ thống này sẽ thay thế và giải quyết được các mâu thuẫn, chồng chéo của hệ
thống tiêu chuẩn 3 cấp (quốc gia – ngành – cơ sở) tồn tại từ trước tới nay. Lộ
trình chuyển đổi tiêu chuẩn ngành thành tiêu chuẩn quốc gia sẽ được Chính phủ
quy định cụ thể.
Thẩm quyền công bố tiêu chuẩn quốc gia và cơ quan quản lý nhà nước về
tiêu chuẩn được thống nhất về một đầu mối là Bộ Khoa học và Công nghệ để giảm
thiểu sự cồng kềnh, chồng chéo và nâng cao hiệu quả của toàn bộ hệ thống, phù
hợp với thông lệ quốc tế, cụ thể như sau:
- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ tổ chức xây dựng dự thảo tiêu
chuẩn quốc gia và đề nghị thẩm định, công bố tiêu chuẩn quốc gia.
- Bộ trưởng Bộ Khoa học và
Công nghệ tổ chức thẩm định dự thảo tiêu chuẩn quốc gia và công bố tiêu chuẩn
quốc gia.
- Các tổ chức xây dựng và
công bố tiêu chuẩn cơ sở bao gồm: tổ chức kinh tế; cơ quan nhà nước;
đơn vị sự nghiệp; tổ chức xã hội - nghề nghiệp (Điều 11).
Điều 12 quy định các loại tiêu chuẩn gồm: tiêu chuẩn cơ
bản; tiêu chuẩn thuật ngữ; tiêu chuẩn yêu cầu kỹ thuật; tiêu chuẩn phương pháp
thử; tiêu chuẩn ghi nhãn, bao gói, vận chuyển và bảo quản.
Tiêu chuẩn được xây
dựng dựa trên một hoặc những căn cứ sau:
- Tiêu chuẩn quốc tế, tiêu
chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài;
- Kết quả nghiên cứu khoa
học và công nghệ, tiến bộ kỹ thuật;
- Kinh nghiệm thực tiễn;
- Kết quả đánh giá, khảo
nghiệm, thử nghiệm, kiểm tra, giám định (Điều 13).
Điều 21 của Luật quy định trách nhiệm cụ thể của các cơ quan, tổ chức
trong việc xuất bản và phát hành tiêu chuẩn :
- Bộ Khoa học và Công
nghệ giữ quyền xuất bản và phát hành tiêu chuẩn quốc gia.
- Cơ quan đại diện của Việt
Nam tham gia tổ chức quốc tế, tổ chức khu vực về tiêu chuẩn thực hiện việc xuất
bản, phát hành tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực theo quy định của tổ chức
đó.
Việc xuất bản, phát hành
tiêu chuẩn của tổ chức quốc tế, tổ chức khu vực mà Việt Nam không là thành viên
và tiêu chuẩn nước ngoài được thực hiện theo thoả thuận với tổ chức ban hành
tiêu chuẩn đó.
- Tổ chức công bố tiêu
chuẩn cơ sở giữ quyền xuất bản và phát hành tiêu chuẩn cơ sở.
Bộ Khoa học và Công nghệ có
trách nhiệm thông báo công khai việc công bố tiêu chuẩn quốc gia và việc sửa
đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ tiêu chuẩn quốc gia trong thời hạn ít nhất là ba
mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định; chủ trì, phối hợp với bộ, cơ quan ngang
bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tổ chức phổ biến, hướng dẫn áp dụng tiêu chuẩn quốc
gia; định kỳ hàng năm phát hành danh mục tiêu chuẩn quốc gia (Điều 22).
Điều 23 quy định rõ tiêu
chuẩn được áp dụng trên nguyên tắc tự nguyện. Tiêu chuẩn được sử dụng làm cơ sở
cho hoạt động đánh giá sự phù hợp (Điều 24).
Chương
III. Xây dựng, ban hành và
áp dụng quy chuẩn kỹ thuật.
Chương này
quy định về hệ thống quy chuẩn kỹ thuật và ký hiệu quy chuẩn kỹ thuật; trách
nhiệm xây dựng, thẩm định, ban hành quy chuẩn kỹ thuật; loại quy chuẩn kỹ
thuật; quy hoạch, kế hoạch xây dựng quy chuẩn kỹ thuật; căn cứ xây dựng quy
chuẩn kỹ thuật; quyền của tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng quy chuẩn kỹ
thuật; trình tự, thủ tục xây dựng, thẩm định, ban hành quy chuẩn kỹ thuật; nội
dung thẩm định dự thảo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia; hiệu lực thi hành quy chuẩn
kỹ thuật; rà soát, sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ quy chuẩn kỹ thuật; thông
báo, phổ biến, đăng ký, xuất bản, phát hành quy chuẩn kỹ thuật; trách nhiệm áp
dụng quy chuẩn kỹ thuật; nguyên tắc, phương thức áp dụng quy chuẩn kỹ thuật;
nguồn kinh phí xây dựng quy chuẩn kỹ thuật.
Hệ thống
quy chuẩn kỹ thuật và ký hiệu quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam bao gồm:
- Quy chuẩn kỹ thuật quốc
gia, ký hiệu là QCVN;
- Quy chuẩn kỹ thuật địa
phương, ký hiệu là QCĐP.
Thẩm quyền ban hành
quy chuẩn kỹ thuật quốc gia được giao cho các bộ (cơ quan ngang bộ) quản lý
chuyên ngành. Luật cũng cho phép Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương trong một số trường hợp đặc
biệt. Việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật gắn với trách nhiệm quản lý nhà nước của
các bộ, ngànhy, địa phương sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả và vai trò
quản lý nhà nước của các cơ quan này đối với các lĩnh vực chuyên ngành được
phân công. Điều 27 quy định về trách
nhiệm xây dựng, thẩm định, ban hành quy chuẩn kỹ thuật, cụ thể như sau:
- Đối với quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia:
+ Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ tổ chức xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia trong phạm vi ngành, lĩnh vực được phân công quản lý;
+ Bộ trưởng Bộ Khoa học và
Công nghệ tổ chức thẩm định dự thảo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia;
+ Chính phủ quy định việc
xây dựng, thẩm định, ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia mang tính liên ngành
và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực quy
chuẩn kỹ thuật thuộc trách nhiệm quản lý của cơ quan thuộc Chính phủ.
- Đối với quy chuẩn kỹ
thuật địa phương:
+ Uỷ ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa
phương để áp dụng trong phạm vi quản lý của địa phương đối với sản phẩm, hàng
hoá, dịch vụ, quá trình đặc thù của địa phương và yêu cầu cụ thể về môi trường
cho phù hợp với đặc điểm về địa lý, khí hậu, thuỷ văn, trình độ phát triển kinh
tế - xã hội của địa phương;
+ Quy chuẩn kỹ thuật địa
phương được ban hành sau khi được sự đồng ý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.
Quy chuẩn kỹ thuật bao
gồm các loại sau: quy chuẩn kỹ thuật chung; quy chuẩn kỹ thuật an toàn; quy
chuẩn kỹ thuật môi trường; quy chuẩn kỹ thuật quá trình; quy chuẩn kỹ thuật
dịch vụ (Điều 28).
Điều 36 quy định về trách nhiệm thông báo, phổ biến, đăng ký, xuất
bản, phát hành quy chuẩn kỹ thuật, cụ thể :
- Cơ quan ban hành quy
chuẩn kỹ thuật có trách nhiệm thông báo công khai việc ban hành quy chuẩn kỹ
thuật và việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ quy chuẩn kỹ thuật trong thời
hạn ít nhất là ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định; tổ chức phổ biến, hướng
dẫn và triển khai áp dụng quy chuẩn kỹ thuật; gửi văn bản quy chuẩn kỹ thuật đến Bộ Khoa học và Công nghệ để đăng ký; xuất
bản, phát hành quy chuẩn kỹ thuật.
- Bộ Khoa học và Công nghệ
phát hành định kỳ hằng năm danh mục quy chuẩn kỹ thuật.
Điều 38 của Luật quy định
quy chuẩn kỹ thuật được áp dụng bắt buộc và được sử dụng làm cơ sở cho hoạt động
đánh giá sự phù hợp.
Chương IV. Đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ
thuật.
Chương này quy định về yêu cầu cơ bản đối với đánh giá sự
phù hợp; hình thức đánh giá sự phù hợp; yêu cầu đối với tiêu chuẩn và quy chuẩn
kỹ thuật dùng để đánh giá sự phù hợp; dấu hợp chuẩn, dấu hợp quy; chứng nhận
hợp chuẩn; công bố hợp chuẩn; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đề nghị
chứng nhận hợp chuẩn; chứng nhận hợp quy; công bố hợp quy; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân
đề nghị chứng nhận hợp quy; các tổ chức chứng nhận phù hợp; điều kiện hoạt động
của tổ chức chứng nhận phù hợp; quyền và nghĩa vụ của tổ chức chứng nhận sự phù
hợp; hoạt động công nhận; tổ chức công nhận; quyền và nghĩa vụ của tổ chức công
nhận; quyền và nghĩa vụ của tổ chức được công nhận; thoả thuận thừa nhận lẫn
nhau.
Mục 1. Quy định chung về
đánh giá sự phù hợp:
Điều 40 Luật Tiêu chuẩn và
Quy chuẩn kỹ thuật quy định yêu cầu cơ
bản đối với đánh giá sự phù hợp gồm:
- Bảo đảm thông tin công
khai, minh bạch cho các bên có liên quan về trình tự, thủ tục đánh giá sự phù
hợp;
- Bảo mật thông tin, số
liệu của tổ chức được đánh giá sự phù hợp;
- Không phân biệt đối xử
đối với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hoặc nguồn gốc xuất xứ của sản
phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình.
- Trình tự, thủ tục đánh
giá sự phù hợp phải hài hoà với quy định của tổ chức quốc tế có liên quan.
Tiêu chuẩn và quy
chuẩn kỹ thuật dùng để đánh giá sự phù hợp phải quy định đặc tính kỹ thuật và
yêu cầu quản lý cụ thể có thể đánh giá được bằng các phương pháp và phương tiện
hiện có ở trong nước hoặc nước ngoài (Điều 42).
Mục 2. Đánh giá sự phù hợp
với tiêu chuẩn:
Chứng nhận hợp chuẩn là việc xác nhận đối tượng của hoạt động trong
lĩnh vực tiêu chuẩn phù hợp với tiêu chuẩn tương ứng.
Theo quy định của Điều 44,
chứng nhận hợp chuẩn được thực hiện theo thỏa thuận của tổ chức, cá nhân có nhu
cầu chứng nhận với tổ chức chứng nhận sự phù hợp quy định tại Điều 50 của Luật;
Tiêu chuẩn dùng để chứng nhận hợp chuẩn là tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc
tế, tiêu chuẩn khu vực hoặc tiêu chuẩn nước ngoài đáp ứng yêu cầu quy định tại
Điều 42 của Luật.
Tổ chức, cá nhân đề nghị chứng nhận hợp chuẩn có quyền và nghĩa vụ sau:
- Tổ chức, cá nhân đề nghị
chứng nhận hợp chuẩn có các quyền: lựa chọn tổ chức chứng nhận sự phù hợp; được
cấp giấy chứng nhận hợp chuẩn cho sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi
trường đã được chứng nhận hợp chuẩn; sử dụng dấu hợp chuẩn trên sản phẩm, hàng
hoá, bao gói của sản phẩm, hàng hoá, trong tài liệu về sản phẩm, hàng hoá đã
được chứng nhận hợp chuẩn; khiếu nại về kết quả chứng nhận hợp chuẩn, vi phạm
của tổ chức chứng nhận sự phù hợp đối với hợp đồng chứng nhận hợp chuẩn.
- Tổ chức, cá nhân đề nghị chứng nhận hợp chuẩn có các nghĩa vụ: bảo
đảm sự phù hợp của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường với tiêu
chuẩn dùng để chứng nhận hợp chuẩn; thể hiện đúng các thông tin đã ghi trong
giấy chứng nhận hợp chuẩn trên sản phẩm, hàng hoá, bao gói của sản phẩm, hàng
hóa, trong tài liệu về đối tượng đã được chứng nhận hợp chuẩn; thông báo cho tổ
chức chứng nhận sự phù hợp khi có sửa đổi, bổ sung tiêu chuẩn dùng để chứng
nhận hợp chuẩn; trả chi phí cho việc chứng nhận hợp chuẩn (Điều 46).
Mục 3. Đánh giá sự phù hợp
với quy chuẩn kỹ thuật:
Chứng
nhận hợp quy là việc xác nhận đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực quy chuẩn
kỹ thuật phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.
Điều 47 quy định: chứng
nhận hợp quy được thực hiện bắt buộc đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá
trình, môi trường thuộc đối tượng quy định trong các quy chuẩn kỹ thuật tương
ứng. Quy chuẩn kỹ thuật dùng để chứng nhận hợp quy là quy chuẩn kỹ thuật quốc
gia, quy chuẩn kỹ thuật địa phương đáp ứng yêu cầu quy định tại Điều 42 của
Luật. Bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 27 của Luật chỉ định tổ chức được
quyền chứng nhận sự phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật do mình ban hành trên cơ sở
xem xét, lựa chọn tổ chức chứng nhận sự phù hợp quy định tại Điều 50 của Luật
này.
Tổ chức chứng nhận sự phù
hợp được chỉ định thực hiện chứng nhận hợp quy theo phương thức do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quy định.
Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đề nghị chứng nhận hợp quy (Điều
49):
- Tổ chức, cá nhân đề nghị
chứng nhận hợp quy có các quyền: lựa chọn tổ chức chứng nhận sự phù hợp đã được
chỉ định theo quy định tại khoản 3 Điều 47 của Luật; được cấp giấy chứng nhận
hợp quy cho sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường đã được chứng
nhận hợp quy; sử dụng dấu hợp quy trên sản phẩm, hàng hoá, bao gói của sản
phẩm, hàng hoá, trong tài liệu về sản phẩm, hàng hoá đã được chứng nhận hợp
quy, công bố hợp quy; khiếu nại về kết quả chứng nhận hợp quy, vi phạm của tổ
chức chứng nhận sự phù hợp đối với hợp đồng chứng nhận hợp quy.
- Tổ chức, cá nhân đề nghị
chứng nhận hợp quy có các nghĩa vụ: bảo đảm sự phù hợp của sản phẩm, hàng hoá,
dịch vụ, quá trình, môi trường với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng; thể hiện đúng
các thông tin đã ghi trong giấy chứng nhận hợp quy, bản công bố hợp quy trên
sản phẩm, hàng hoá, bao gói của sản phẩm, hàng hoá, trong tài liệu về đối tượng
đã được chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy; cung
cấp tài liệu chứng minh việc bảo đảm sự phù hợp của sản phẩm, hàng hoá, dịch
vụ, quá trình, môi trường với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng theo yêu cầu của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức chứng nhận sự phù hợp; tạm dừng
việc cung cấp sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình không phù hợp với quy
chuẩn kỹ thuật tương ứng theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
trả chi phí cho việc chứng nhận hợp quy.
Mục 4. Tổ chức chứng nhận
sự phù hợp:
Theo quy định của Điều 50, các tổ chức chứng nhận sự phù hợp gồm: đơn vị sự nghiệp hoạt động dịch vụ kỹ thuật; doanh nghiệp;
chi nhánh của tổ chức chứng nhận nước ngoài tại Việt Nam.
Tổ chức chứng nhận sự phù
hợp có quyền cấp giấy chứng nhận hợp chuẩn hoặc giấy chứng nhận hợp quy cho sản
phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường phù hợp với tiêu chuẩn hoặc quy
chuẩn kỹ thuật; giao quyền sử dụng dấu hợp
chuẩn hoặc dấu hợp quy cho tổ chức, cá nhân có sản phẩm, hàng hoá đã được chứng
nhận hợp chuẩn hoặc chứng nhận hợp quy; thu hồi giấy chứng nhận hợp
chuẩn hoặc giấy chứng nhận hợp quy, quyền sử dụng dấu hợp chuẩn hoặc dấu hợp
quy đã cấp.
Đồng thời, tổ chức chứng
nhận sự phù hợp có các nghĩa vụ: thực hiện chứng nhận hợp chuẩn hoặc chứng nhận
hợp quy theo lĩnh vực đã đăng ký trên cơ sở hợp đồng ký kết với tổ chức, cá
nhân đề nghị chứng nhận; bảo đảm tính khách quan và công bằng trong hoạt động
chứng nhận hợp chuẩn hoặc chứng nhận hợp quy; không được thực hiện hoạt động tư
vấn cho tổ chức, cá nhân đề nghị chứng nhận; bảo mật các thông tin thu thập
được trong quá trình tiến hành hoạt động chứng nhận; giám sát đối tượng đã được chứng nhận nhằm bảo đảm duy trì sự phù hợp của đối tượng đã được chứng nhận với tiêu chuẩn
hoặc quy chuẩn kỹ thuật tương ứng; chịu trách nhiệm trước pháp luật về
hoạt động của mình; thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng
về việc thu hồi giấy chứng nhận và quyền sử dụng dấu hợp chuẩn, dấu hợp quy
(Điều 52).
Mục 5. Công nhận, thừa nhận
lẫn nhau:
Hoạt động công nhận được
tiến hành đối với các tổ chức : phòng
thử nghiệm; phòng hiệu chuẩn; tổ chức chứng nhận sự phù hợp; tổ chức giám định.
Căn cứ để tiến hành hoạt động công nhận là tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc
tế.
Hoạt động công nhận do
tổ chức công nhận là đơn vị sự nghiệp khoa học thực hiện nhằm đánh giá, công
nhận năng lực của các tổ chức nói trên.
Tổ chức được công nhận có
quyền được đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng kết quả hoạt động
đánh giá sự phù hợp về chứng nhận, thử nghiệm, hiệu chuẩn, giám định đã được
công nhận phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước; khiếu nại về kết quả công nhận, vi
phạm của tổ chức công nhận đối với cam kết thực hiện việc công nhận; tổ chức
chứng nhận sự phù hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 53 của Luật còn có các
quyền quy định tại khoản 1 Điều 52 của Luật.
Tổ chức được công nhận có
các nghĩa vụ: bảo đảm bộ máy tổ chức và năng lực đã được công nhận phù hợp với
yêu cầu của tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế tương ứng; duy trì hệ thống
quản lý phù hợp với yêu cầu của tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế tương
ứng; bảo đảm tính khách quan, công bằng
trong hoạt động đánh giá sự phù hợp; tổ
chức chứng nhận sự phù hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 53 của Luật
còn phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 52 của Luật; trả chi phí
cho việc công nhận (Điều 56).
Điều 57 Luật Tiêu
chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật quy định về thoả
thuận thừa nhận lẫn nhau, cụ thể:
- Thoả thuận thừa nhận lẫn
nhau bao gồm: việc Việt Nam và các quốc gia, vùng lãnh thổ thừa nhận kết quả
đánh giá sự phù hợp của nhau được thực hiện theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; việc tổ chức đánh giá sự phù hợp của
Việt Nam và tổ chức đánh giá sự phù hợp của các quốc gia, vùng lãnh thổ thừa
nhận kết quả đánh giá sự phù hợp của nhau được thực hiện trên cơ sở thoả thuận
giữa các bên.
- Bộ Khoa học và Công nghệ
chủ trì, phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan tổ chức thực hiện các
thoả thuận thừa nhận lẫn nhau.
Chương V. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt
động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật Chương này
quy định về trách nhiệm của Chính phủ, Bộ Khoa học và Công nghệ, các Bộ, cơ
quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và
các hội, hiệp hội hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và lĩnh vực quy chuẩn kỹ
thuật.
Chương VI. Thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo
và tranh chấp về hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật. Chương này quy định
về thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn
và lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật; quyền khiếu nại, tố cáo và việc giải quyết các
khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và lĩnh
vực quy chuẩn kỹ thuật.
Chương VII. Điều khoản thi hành quy định về điều khoản chuyển tiếp, hiệu lực thi hành và
hướng dẫn thi hành Luật.
IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Việc ban hành Luật Tiêu
chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc đổi mới
toàn diện tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động tiêu chuẩn và hoạt động quy
chuẩn kỹ thuật nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển kinh tế-xã
hội và hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là một bước cơ bản trong quá trình hoàn
thiện pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; góp phần bảo đảm và thúc
đẩy quá trình nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của từng doanh
nghiệp, từng ngành và của toàn bộ nền kinh tế, thực hiện nghiêm chỉnh các cam
kết quốc tế của Việt Nam.
Tiêu chuẩn là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng
làm chuẩn để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi
trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội nhằm nâng cao
chất lượng và hiệu quả của các đối tượng này. Tiêu chuẩn do một tổ chức công bố dưới dạng văn bản để tự nguyện áp
dụng.
Luật nhấn mạnh việc xã hội
hoá hoạt động tiêu chuẩn thông qua sự tham gia rộng rãi của các Bộ, ngành, tổ
chức, cá nhân, doanh nghiệp và các hội, hiệp hội trong quá trình xây dựng tiêu
chuẩn quốc gia; đề cao vai trò trách nhiệm của các Bộ trong việc xây dựng, phê
duyệt dự thảo tiêu chuẩn quốc gia thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành. Vì vậy,
cần đảm bảo sự thống nhất về kỹ thuật và nghiệp vụ xây dựng tiêu chuẩn để giảm
thiểu sự chồng chéo và nâng cao hiệu quả của hệ thống, phù hợp với xu hướng cải
cách hành chính và thông lệ quốc tế.
Với tinh thần đó, Luật quy
định việc thẩm định và công bố tiêu chuẩn quốc gia sẽ tập trung cho một cơ quan
đầu mối quản lý nhà nước về tiêu chuẩn là Bộ Khoa học và Công nghệ.
Quy chuẩn kỹ thuật là quy định về đặc tính, yêu cầu kỹ thuật và quản lý bắt
buộc áp dụng đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ,... nhằm đảm bảo các yêu cầu
về vệ sinh, an toàn, sức khỏe con người, động thực vật, bảo vệ môi trường, an
ninh quốc gia và các yêu cầu thiết yếu khác. Vai trò của các quy chuẩn kỹ thuật
ngày càng trở nên quan trọng và trở thành trọng tâm của hoạt động thực thi Luật
Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật trong thực tiễn sản xuất, đời sống. Đây chính
là công cụ quản lý nhà nước của các Bộ, ngành nhằm kịp thời đáp ứng yêu cầu
quản lý ngành, lĩnh vực, ngăn chặn các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ kém chất
lượng, ảnh hưởng đến môi trường, sức khoẻ, tính mạng con người; và đó cũng là
biện pháp kỹ thuật để bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích doanh nghiệp và người
tiêu dùng Việt Nam trước những nguy cơ tiềm ẩn.
Do vậy, các Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi ngành, lĩnh vực được phân công
sẽ chủ động tổ chức xây dựng, ban hành và áp dụng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
Đánh
giá sự phù hợp với tiêu chuẩn và quy
chuẩn kỹ thuật là biện pháp quan trọng nhằm áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ
thuật trong thực tiễn sản xuất, kinh doanh, góp phần đưa các quy định này đi
vào cuộc sống. Với tầm quan trọng của vấn đề này, Luật dành riêng một Chương
(Chương IV) quy định cụ thể về đánh giá sự phù hợp. Theo đó, cơ chế này được
thực hiện tự nguyện đối với tiêu chuẩn và bắt buộc áp dụng đối với quy chuẩn kỹ
thuật.
Để sớm đưa Luật Tiêu chuẩn
và Quy chuẩn kỹ thuật áp dụng vào cuộc sống, Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp
với các Bộ, ngành liên quan cần phải tiến hành một số công việc sau đây:
- Khẩn trương nghiên cứu,
xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật; ban hành các văn bản cấp Bộ
hướng dẫn việc xây dựng, công bố, áp dụng tiêu chuẩn, xây dựng, ban hành và áp
dụng quy chuẩn kỹ thuật và thủ tục đánh giá sự phù hợp.
- Tiến hành rà soát toàn bộ
hệ thống tiêu chuẩn quốc gia đã ban hành để huỷ bỏ những tiêu chuẩn đã lạc hậu,
sửa đổi, ban hành các tiêu chuẩn quốc gia mới phù hợp với các tiêu chuẩn quốc
tế; rà soát toàn bộ các tiêu chuẩn ngành để chuyển đổi thành quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia hoặc tiêu chuẩn quốc gia; tiến hành rà soát các quy trình, quy phạm,
quy định kỹ thuật để chuyển đổi thành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
- Các cơ quan quản lý nhà
nước ở Trung ương và địa phương, trước hết là Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp
với các cơ quan thông tấn, báo chí đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn
thực hiện Luật trong ngành, trong các doanh nghiệp và đông đảo nhân dân./.
BỘ TƯ PHÁP
- VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ - VỤ PHÁP CHẾ