Đề tài khóa luật tốt nghiệp: Luật thuế giá trị gia tăng và thực tiễn thi hành nhìn từ các hành vi vi pham
Đối với bất kỳ một quốc gia nào thì thuế cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng và chiếm phần lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước. Việc thực thi một số chính sách thuế có hiệu quả sẽ đảm bảo ổn định cho nguồn thu này và trong cấu trúc các khoản thu về thuế thì thuế GTGT đóng một vai trò quan trọng.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đối với
bất kỳ một quốc gia nào thì thuế cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng và
chiếm phần lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước. Việc thực thi một số chính
sách thuế có hiệu quả sẽ đảm bảo ổn định cho nguồn thu này và trong cấu trúc
các khoản thu về thuế thì thuế GTGT đóng một vai trò quan trọng. Ở Việt Nam
theo thống kê của Tổng cục thuế thì 92% ngân sách Nhà nước là thu từ thuế nên cần
phải có phương pháp tính hợp lý nhằm đảm bảo sự công bằng cho các đối tượng nộp
thuế kết hợp với việc hạch toán thuế tại các doanh nghiệp phải theo đúng chế độ
kế toán, tài chính và quy định của pháp luật.
Sau hơn 9 năm
thi hành Luật thuế GTGT, bên cạnh những thành tựu đạt được, còn tồn tại nhiều
vấn đề bất cập. Các vụ gian lận thuế GTGT ngày càng nhiều, các hình thức ngày
càng tinh vi hơn cho thấy vấn đề gian lận thuế GTGT đã trở nên vô cùng nguy
hiểm và đáng báo động bởi nó tạo ra sự bất công bằng cho các đối tượng nộp
thuế. Chỉ riêng trong hoàn thuế thì năm 1999 phát hiện 3 vụ gian lận thuế GTGT,
năm 2000 phát hiện 17 vụ, năm 2002 phát hiện 64 vụ và năm 2005 phát hiện 263
vụ, năm 2007 phát hiện 367 vụ nâng tổng
số tiền hoàn thuế GTGT bị chiếm đoạt lên hàng ngàn tỷ đồng từ năm 1999 các vụ
về mua bán hoá đơn hay làm sai lệch giá trên hoá đơn không hề có xu hướng giảm
sút.
Tình trạng này làm đau đầu các nhà quản lý nói riêng và xã hội nói chung, có
những kẻ đã lợi dụng những kẽ hở trong luật và trong quản lý của nhà nước ta để
bòn rút tiền từ ngân sách nhà nước và đút túi cá nhân mình.
Để góp phần
đảm bảo công bằng giữa các chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế thì việc nghiên cứu cơ
chế thi hành Luật thuế GTGT có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá thực trạng và
những giải pháp để hoàn thiện pháp Luật thuế GTGT. Xuất phát từ những điều đó
tôi đã mạnh dạn tham gia nghiên cứu đề tài “Luật thuế Giá trị gia tăng và
thực tiễn thi hành nhìn từ các hành vi vi phạm”.
2. Mục đích, lý do chọn đề tài:
Là một sinh viên Luật năm cuối, trong khung chương trình đào
tạo, tôi được học về Luật thuế GTGT. Qua quá trình học tôi nhận thấy bản thân
mình và các bạn sinh viên khác rất lúng túng trong việc hiểu về bản chất của
các hành vi vi phạm Luật thuế GTGT. Do đó, khi chuẩn bị chọn đề tài viết khóa
luận tốt nghiệp, với lòng ham mê học hỏi cùng với những thắc mắc muốn được giải
đáp tôi đã chọn đề tài nghiên cứu về Luật thuế GTGT và thực tiễn thi hành nhìn
từ những hành vi vi phạm.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Chỉ trong
một thời gian ngắn, mà vốn kiến thức và khả năng phân tích tổng hợp còn nhiều
hạn chế, do đó tôi chỉ xin trình bày trong khóa luận này những tìm hiểu của
riêng mình dựa trên quá trình nghiên cứu thực tiễn áp dụng những quy định của Luật
thuế GTGT nhìn từ những hành vi vi phạm, từ đó có thể góp phần kiện toàn về mặt
pháp lý quy định của Luật thuế GTGT.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong khóa
luận tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phân tích so sánh, thống
kê, tổng hợp. Với những kiến thức, những tài liệu tích lũy được trong quá trình
học tập tại Khoa Luật- ĐHQGHN; bằng khả năng tổng hợp; liên kết logic; đánh giá
vấn đề trên cơ sở lý luận biện chứng, tôi mạnh dạn đưa ra những quan điểm, ý
kiến của cá nhân mình.
5. Bố cục của khóa luận:
Chương I: Một
số vấn đề cơ bản về thuế GTGT và Luật thuế GTGT.
Chương II:
Thực tiễn thi hành luật thuế GTGT nhìn từ các hành vi vi phạm.
Chương III:
Định hướng hoàn thiện pháp luật và một số kiến nghị.
Do thời
gian có hạn, trình độ nghiên cứu và khả năng đánh giá, nhìn nhận vấn đề còn
nhiều hạn chế nên khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong
nhận được sự góp ý chân thành từ phía quý thầy cô và bạn bè để khóa luận được
hoàn thiện hơn.
Tác giả khóa luận
Nguyễn Bảo Ngọc
CHƯƠNG 1:
MỘT
SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ GTGT VÀ LUẬT THUẾ GTGT
1.1.
Những
vấn đề cơ bản về thuế GTGT:
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm thuế GTGT:
Thuế GTGT còn gọi là VAT là từ viết tắt của Value Added Tax.
Tại một số quốc gia như Australia, New Zealand, Canada, Singapor thì thuế này
được gọi là “Goods and Services Tax” viết tắt là GST nghĩa là thuế hàng hóa và
dịch vụ, còn tại Nhật Bản thì nó được biết đến dưới tên gọi: “thuế tiêu thụ”.
Do VAT có mục đích là một khoản thuế đối với việc tiêu thụ, cho nên hàng xuất
khẩu (theo định nghĩa này thì người tiêu dùng ở nước ngoài) thường không phải
chịu thuế VAT hoặc VAT đối với người xuất khẩu được hoàn lại.
VAT được một nhà kinh tế học người
Pháp là Maurice Lauré nghĩ ra vào năm 1954 khi là giám đốc cơ quan thuế của
Pháp dưới tên gọi là taxe sur la va le ur ajoutée (TVA trong tiếng Pháp) và áp
dụng nó lần đầu từ ngày 10/4/1954 đối với các doanh nghiệp lớn và mở rộng theo
thời gian với tất cả các bộ phận kinh tế. Theo đó người tiêu dùng cuối cùng của
sản phẩm hàng hóa, dịch vụ không thể hoàn lại được VAT khi mua hang nhưng các
doanh nghiệp thì có thể được hoàn lại VAT đối với các nguyên vật liệu và dịch
vụ mà họ mua để tạo ra sản phẩm hay dịch vụ tiếp theo để trực tiếp hay gián
tiếp bán cho người sử dụng cuối cùng. Theo cách này tổng số thuế phải thu trong
mỗi công đoạn trong dây chuyền kinh tế là một tỷ lệ cố định đối với phần giá
trị gia tăng được công đoạn kinh doanh thêm vào trong sản phẩm và phần lớn chi
phí trong thu thuế được sinh ra bởi việc kinh doanh chứ không phải bởi nhà
nước.
Khai sinh từ nước Pháp, thuế GTGT được
áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Ngày nay các quốc gia thuộc khối
liên minh Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh và một số quốc gia Châu Á trong đó
có Việt Nam đã chính thức áp dụng thuế GTGT. Các quốc gia khác cũng đang trong
thời kỳ nghiên cứu loại thuế này. Tính đến nay đã có 130 quốc gia áp dụng thuế
GTGT.
Ở nước ta để thay thế cho Luật thuế
doanh thu, Luật thuế GTGT được quốc hội khóa X thông qua ngày 10 tháng 5 năm
1997 đã có hiệu lực thi hành 01/01/1999; luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật thuế
GTGT được quốc hội khóa XI thông qua 17/06/2003 có hiệu lực thi hành ngày
01/01/2004; luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và
Luật thuế GTGT được quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2005 có hiệu lực thi
hành ngày 01/01/2006.
Theo quy định của Luật thuế GTGT thì
thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh trên khoản tăng thêm của hàng hóa dịch
vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp
vào NSNN theo mức độ tiêu thụ hàng hóa dịch vụ.
Là loại thuế gián thu nên thuế GTGT
không đánh trực tiếp vào thu nhập của người nộp thuế mà đánh gián tiếp thông
qua giá cả hàng hóa dịch vụ. Nhà nước sử dụng loại thuế này nhằm động viên một
bộ phận thu nhập của người tiêu dúng hàng hóa thông qua thu thuế đối với người
sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ. Tính chất gián thu thể hiện ở chỗ người
nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất với nhau (do số thuế được cộng vào
hàng hóa dịch vụ). Ưu điểm của thuế gián thu là hạn chế được sự phản ứng về
thuế từ người gánh chịu thuế nhưng nhược điểm của nó là không tạo ra sự bình
đẳng về điều tiết thu nhập của những đối tượng có thu nhập chênh lệch.
Thuế GTGT khác với thuế trên doanh số
bán hàng ở chỗ nó được áp dụng trên mọi lĩnh vực kinh doanh như là một phần của
đơn giá của mỗi mặt hàng bán ra phải chiu thuế mà người ta đã thực hiện nhưng
ngược lại người ta lại được hoàn thuế GTGT đối với các mặt hàng đã mua của
mình, vì thế thuế GTGT được áp dụng đối với phần giá trị thêm vào (gia tăng)
cho sản phẩm tại mỗi công đoạn sản xuất.
Thuế doanh thu thông thường chỉ tính
trên doanh số bán hàng cuối cùng cho người tiêu dùng: do có việc hoàn thuế nên
thuế GTGT có cùng một hiệu ứng kinh tế tổng thể trên các đơn giá bán hàng cuối
cùng. Khác biệt chính là người ta cần phải hạch toán bổ sung cho các công đoạn
trung gian trong chuỗi cung ứng hàng hóa dịch vụ.
1.1.2. Vai trò của thuế GTGT
Qua những
năm triển khai và thực hiện, Luật thuế GTGT đã đem lại một số thành tựu đáng
kể. Cụ thể là đã góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng lưu thông hàng
hoá và đẩy mạnh xuất khẩu. Thuế GTGT còn góp phần khuyến khích xuất khẩu và bảo
hộ sản xuất trong nước, sắp xếp lại cơ cấu kinh tế. Theo qui định của Luật thuế
GTGT hàng hoá xuất khẩu được hưởng thuế suất 0% tức là được hoàn toàn bộ số
thuế GTGT đã nộp ở đầu vào, việc hoàn thuế GTGT đầu vào thực chất là nhà nước
trợ giá cho hàng xuất khẩu nên đã giúp doanh nghiệp tập trung được nguồn hàng
để xuất khẩu và có điều kiện cạnh tranh với hàng hoá trên thị trường quốc tế.
Trong năm 1999 số tiền được hoàn tăng vốn cho các doanh nghiệp xuất khẩu khoảng
2.700 tỷ đồng; năm 2000 là 5.000 tỷ đồng. Vì vậy, trong điều kiện thị trường
xuất khẩu bị hạn chế, giá xuất khẩu giảm nhưng tổng giá trị xuất khẩu của nước
ta vẫn tăng so với năm 1998 là 23.18%; năm 2000 tăng 21.3%. Ngoài việc được
hoàn thuế GTGT, các dự án đầu tư có giá trị hàng hoá xuất khẩu đạt trên 30%
tổng giá trị hàng hoá còn được ưu đãi hưởng thuế suất thuế TNDN 25%;
nếu có giá trị hàng hoá xuất khẩu trên 50% tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu được
miễn thuế thu nhập bổ sung đã tạo điều kiện thuận lợi về vốn cho các doanh
nghiệp hoạt động xuất khẩu. Luật thuế GTGT khuyến khích việc sản xuất hàng hoá
xuất khẩu và xuất khẩu thay vì luật thuế cũ khuyến khích sản xuất hàng thay thế
hàng nhập khẩu, đặc biệt Luật thuế GTGT đã khuyến khích sản xuất, kinh doanh
những mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh: nông sản, lâm sản, hải sản, thủ công mỹ
nghệ.
Đặc biệt Luật thuế GTGT góp phần đến
công tác quản lý của doanh nghiệp tạo
điều kiện cho cơ quan Nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp, tăng cường công tác hạch toán, kế toán và thúc đẩy việc mua bán
hoá đơn GTGT ở các doanh nghiệp. Do yêu cầu của việc kê khai thuế GTGT, khấu
trừ thuế GTGT đầu vào, tính đúng thu nhập của doanh nghiệp nên những người làm
công tác quản lý kinh doanh đã bắt đầu trú trọng đến công tác mở sổ kế toán,
ghi chép, quản lý và sử dụng hoá đơn chứng từ. Thông qua việc chấp hành công
tác kế toán, hoá đơn chứng từ của các doanh nghiệp, qua việc kê khai thuế, hoàn
thuế, quyết toán thuế đã giúp cơ quan chức năng và cơ quan thuế từng bước nắm
được tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp.
Luật
thuế GTGT góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng lưu thông hàng hoá và
đẩy mạnh xuất khẩu. Việc thực hiện Luật thuế GTGT tạo điều kiện cho giá thành
các công trình đầu tư xây dựng cơ bản giảm khoảng 10% vì toàn bộ thuế GTGT của
các công trình đầu tư xây dựng cơ bản được hạch toán riêng không tính vào giá
thành công trình. Không phải khấu hao tài sản sau này mà được khấu trừ hoặc
hoàn thuế. Mặt khác khi nhập khẩu thiết bị máy móc, phương tiện vận tải chuyên
dụng, loại trong nước chưa sản xuất được để đầu tư TSCĐ theo dự án thì không
thuộc diện chịu thuế GTGT. Đặc biệt khi giảm 50% thuế suất đối với các sản phẩm
xây dựng cơ bản thì mức thuế còn phải nộp sau khi khấu trừ đầu vào bình quân
chỉ còn khoảng 1% so với 4% so với thuế doanh thu thể hiện khuyến khích đầu tư
mạnh.
Mặt khác, Luật thuế GTGT đã góp phần
khuyến khích xuất khẩu, bảo hộ sản xuất trong nước, sắp xếp cơ cấu lại nền kinh
tế. Theo quy định của Luật thuế GTGT, hàng hoá xuất khẩu được hưởng thuế suất
0% tức là toàn bộ thuế GTGT đã nộp ở đầu vào được hoàn lại, việc hoàn thuế đối
với hàng hoá xuất khẩu thực chất là nhà nước
trợ giá cho hàng hoá xuất khẩu nên đã giúp cho doanh nghiệp xuất khẩu
tập trung được nguồn hàng trong nước để xuất khẩu nên đã giúp doanh nghiệp xuất
khẩu tập trung được nguồn hàng trong nước để xuất khẩu và có điều cạnh tranh
được với hàng hoá trên thị trường quốc tế. Trong năm 1999 số tiền hoàn vốn tăng
cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Khoảng 2.700 tỷ đồng, năm 2000 là 5.000 tỷ
đồng. Vì vậy, trong điều kiện xuất khẩu bị hạn chế, giá xuất khẩu giảm nhưng
tổng giá trị xuất khẩu của nước ta vẫn tăng so với năm 1998 là 23,18%, năm 2000
tăng 21,3%. Trong đó có những mặt hàng được hoàn thuế đầu vào nhiều, xuất khẩu
tăng so với năm 1998 như: cao su 37,2%, cà phê 27,6% , gạo 21,4%, thuỷ sản
14,1%, giày dép 36,3%, dệt may 15,1%, thủ công mỹ nghệ 52%, điện tử 54% .
Ngoài việc
được hoàn thuế GTGT, các dự án đầu tư có giá trị hàng xuất khẩu đạt trên 30%
tổng giá trị hàng hoá còn được hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu
đãi 25%, nếu có giá trị hàng hoá xuất khẩu trên 50% tổng giá trị hàng hoá được
miễn thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung nên đã tạo điều kiện về vốn cho các
doanh nghiệp xuất khẩu hoạt động. Luật thuế GTGT khuyến khích việc sản xuất
hàng xuất khẩu thay thế nhập khẩu, đặc biệt Luật thuế GTGT đã khuyến khích việc
sản xuất kinh doanh những hàng mà Việt Nam có thế mạnh như nông sản, lâm sản,
hải sản, thủ công mỹ nghệ.
1.1.3. Lịch sử hình thành Luật thuế GTGT ở
Việt Nam:
1.1.3.1. Trước năm 1997
Lịch sử ra
đời và phát triển thuế ở mỗi quốc gia là không giống nhau nhưng nó luôn gắn
liền với sự ra đời và phát triển của đất nước. Để phục vụ cho quá trình phát
triển cách mạng Việt Nam
thì sự điều chỉnh pháp Luật thuế GTGT ở nước ta cũng qua các giai đoạn khác
nhau, mỗi giai đoạn đều phục vụ cho quan điểm sử dụng thuế khoá ở giai đoạn đó.
Chính những quan điểm này đã định hướng sâu sắc đến quá trình điều chỉnh pháp luật
thuế ở nước ta.
Giai đoạn 1945-1954: Xuất phát từ quan
điểm tạo lòng tin của nhân dân vào chính quyền mới những vẫn phải đảm bảo nguồn
thu cho ngân sách nhà nước, nhà nước đã xoá mọi thứ thuế bất công vô lý của
Pháp, sửa đổi một số thuế cũ và ban hành một số thuế khác. Đặc biệt khi cuộc
kháng chiến chống Pháp chuyển sang giai đoạn phản công, yêu cầu phải củng cố
hậu phương và chi viện tích cực cho tiền tuyến, nhà nước đã các bỏ các thứ thuế
ban hành tạm thời, banh hành 7 chế độ thuế áp dụng thống nhất cho cả nước gồm:
chế độ thuế nông nghiệp, chế độ thuế công thương nghiệp, chế độ thuế hàng hoá,
chế độ thuế phát sinh, chế độ thuế trước bạ, chế độ thuế tem; chế độ thuế xuất
nhập khẩu. Bảy chế độ thuế đó là nền móng đầu tiên của hệ thống pháp luật thuế
nước ta được thực thi trong suốt thời kỳ cuối của cuộc kháng chiến 1951-1954 và
được kế thừa sử dụng cho các giai đoạn sau.
Giai đoạn 1954-1975: trong giai đoạn
này thuế được sử dụng, thực hiện nhiệm vụ khác nhau cụ thể:
Từ 1954-1959 nhà nước sử dụng thuế để
khôi phục kinh tế và để cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc bằng cách sưả đổi
các chính sách thuế theo tinh thần phân biệt đối xử về thuế vì vậy, chế độ thuế
nông nghiệp và chế độ lợi tức doanh nghiệp được sửa đổi một cách cơ bản góp
phần tích cực vận động cá thể vào hợp tác xã, khuyến khích mô hình kinh tế hợp
tác xã ra đời và phát triển.
Từ 1960-1975 nhà nước tiếp tục thay
đổi hệ thống pháp luật thuế trong đó chủ yếu sửa đổi chế độ thuế nông nghiệp,
chế độ thuế môn bài, chế độ thuế doanh thu, chế độ thuế lợi tức doanh nghiệp và
cho thực hiện thí điểm hai chế độ thu mới không mang tính chất thuế, chế độ thu
quốc doanh, chế độ phân phối trích nộp lợi nhuận và dần tách khu vực kinh tế
quốc doanh ra khỏi sự điều chỉnh của thuế.
Hai giai đoạn này hệ thống pháp luật
thuế không được xây dựng mà chỉ trên tinh thần sửa đổi, bổ sung nên hệ thống
pháp luật thuế không ổn định, các chế độ thuế mang tính chắp vá, hiệu lực pháp
lý thấp.
Giai đoạn 1975-1989: Xuất phát từ tình
hình đất nước có nhiều biến đổi nên chế độ thuế trong giai đoạn này cũng được
sửa đổi liên tục trong những năm đầu ở miền Nam tạm thời sửa đổi một số chế độ
thuế của chính quyền Thiệu, sửa đổi một số chế độ thuế ở miền Bắc để áp dụng
cho miền Nam.
Năm 1980 hai miền Nam, Bắc thực
hiện hệ thống thuế thống nhất dựa trên hệ thống thuế đã áp dụng ở miền Bắc có
sửa đổi cho phù hợp với cả hai miền.Tháng 2/1983 nhà nước ban hành pháp
lệnh thuế nông nghiệp thay cho điều lệ
thuế nông nghiệp và được sửa đổi vào năm 1983. Cũng trong năm 1983 pháp lệnh
thuế công thương nghiệp cũng được ban hành thay cho điều lệ thuế công thương
nghiệp và được sửa đổi bổ sung vào năm 1987. Tháng 7/1987 Quốc hội ban hành
luật thuế xuất nhập khẩu.
Năm 1990 với sự thay đổi lớn, căn bản
của đường lối phát triển kinh tế trong giai đoạn này đã kéo theo sự thay đổi
căn bản trong quan điểm sử dụng thuế. Thuế được coi là công cụ tạo nguồn thu
chủ yếu cho ngân sách Nhà nước, trở thành công cụ quản lý kinh tế của Nhà nước,
thuế phải có tính pháp lý cao, phải đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần
kinh tế. Để thực hiện được mục đích này hàng loạt các văn bản pháp luật thuế đã
được ban hành vào đầu những năm 90 nhằm động viên một phần thu nhập của các cá
nhân thông qua các sắc thuế trực thu và gián thu.
1.1.3.2. Từ năm 1999 đến nay:
Hệ thống pháp luật thuế mới ra đời đã
thể hiện và đáp ứng được quan điểm sử dụng thuế song cũng còn nhiều tồn tại cần
được xem xét hoàn thiện để phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội mới. Thực tế đó
đã đặt ra yêu cầu cải cách thuế giai đoạn 2; bắt đầu từ năm 1996 và dự kiến kết
thúc vào năm 2005, thời điểm Việt Nam chính thức ra nhập vào khu mậu dịch tự do
ASEAN. Việc xây dựng, ban hành Luật thuế GTGT thay cho luật thuế doanh thu được
coi là một trong những sự kiện quan trọng của cải cách thuế trong giai đoạn này
và sẽ kết thúc bằng việc xây dựng một hệ thống thuế có khả năng hội nhập cao.
Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật
thuế GTGT
Ngày 3/9/2002
chính phủ ban hành nghị định số 76/2002/NĐ-CP về việc sửa đổi bổ sung một số
điều của nghị định 79/2002/NĐ-CP ngày 29/12/2002 quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT.
Theo sửa đổi
một số quy định về đối tượng không chịu thuế GTGT đối với một số loại hàng hoá
nhập khẩu trong các trường hợp như: viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại,
quà tặng của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội và một số tổ chức
khác. Hơn nữa, nghị định còn bổ sung sửa đổi một số quy định về mức thuế 0%
thuế GTGT đối với một số hàng hóa xuất nhập khẩu, bao gồm hàng hoá chịu thuế
tiêu thụ đặc biệt xuất khẩu, hàng hoá gia công xuất khẩu, sửa chữa máy móc,
thiết bị, phương tiện vận tải cho nước ngoài, phần mềm máy tính xuất khẩu, dịch
vụ xuất khẩu lao động, hoạt động xây dựng, xuất khẩu ra nước ngoài, xuất khẩu
vào các khu chế xuất.và một số quy định về khấu trừ thuế GTGT đầu vào, hoàn
thuế GTGT.
Ngày 18/9/2002 Bộ tài chính ban hành
thông tư số 82/2002/TT-BTC về việc hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số nội dung
của thông tư số 122/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000 hướng dẫn thi hành nghị định
79/2000/NĐ-CP ngày 29/1/2000 của chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế
GTGT. Thông tư số
120/2003/TT-BTC ngày 12 thỏng 12 năm 2003 của Bộ Tài chính
hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2003 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng.
Ngày 12/12/2003 Thông tư 84 /2004/TT-BTC ra đời sửa đổi,
bổ sung Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 hướng dẫn thi hành Nghị
định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành
Luật thuế giá trị gia tăng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế
giá trị gia tăng.
Ngày 18/9/2002 Bộ trưởng Bộ tài chính ban hành quyết định
số 110/2002/QĐ-BTC về việc sửa đổi, bổ sung, quản lý, sử dụng hoá đơn bán hàng,
ban hành kèm theo quyết định số 885/1998/QĐ-BTC ngày 16/7/98 của Bộ trưởng Bộ
tài chính.
Theo đó
thay thế nội dung, thủ tục mua hoá đơn đối với tổ chức, cá nhân mua hoá đơn lần
đầu và thủ tục mua hoá đơn lần sau. Cơ quan thuế có quyền từ chối việc bán hoá
đơn hoặc ra quyết định đình chỉ việc sử dụng hoá đơn đối với các tổ chức, cá
nhân có hành vi vi phạm về sử dụng hoá đơn, chứng từ cụ thể: tạm dừng việc bán
hoá đơn với các tổ chức, cá nhân mua hoá đơn không đủ thủ tục, điều kiện kèm
theo quy định, không kê khai thuế hoặc kê khai thuế nhưng không có doanh thu
sau 1 tháng mua hoá đơn, không thực hiện báo cáo sử dụng hoá đơn theo quy định.
Đình chỉ việc sử dụng hoá đơn với tổ chức, cá nhân có hành vi bán khống hoá đơn
(hoá đơn trùng) hoặc lập hoá đơn nhưng không có hàng hoá, dịch vụ, tiếp tục có
hành vi tẩy xoá hoá đơn, ghi hoá đơn có giá trị hàng hoá, dịch vụ cao hơn giá
trị thực của hàng hoá, dịch vụ; ghi hoá đơn bán hàng, dịch vụ trên hoá đơn giao
cho người mua khác với hoá đơn lưu tại cơ sở kinh doanh.
Ngày 10/10/2002 Bộ tài chính thông tư số 90/2002/TT-BTC
hướng dẫn về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thuế GTGT đối với hàng hoá bán
cho thương nhân nước ngoài nhưng giao hàng cho doanh nghiệp khác tại Việt Nam
theo chỉ định của thương nhân nước ngoài để làm nguyên liệu sản xuất, gia công
hàng xuất khẩu.
Thông tư này áp dụng đối với hàng hoá do doanh nghiệp tại
Việt Nam (bao gồm các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài) sản xuất bán cho thương nhân nước ngoài theo hợp đồng mua bán ngoại
thương, được thương nhân nước ngoài thanh toán tiền mua hàng bằng ngoại tệ
nhưng hàng giao cho doanh nghiệp khác tại Việt Nam theo sự chỉ định của thương
nhân nước ngoài để tiếp tục sản xuất gia công hàng xuất khẩu.
Điều kiện áp dụng chính sách thuế hướng dẫn tới thông tư
này bao gồm: hàng hoá xuất khẩu tại chỗ, nhập khẩu tại chỗ trên cơ sở thực hiện
hợp đồng mua bán ngoại thương ký với thương nhân nước ngoài trong đó ghi rõ mặt
hàng, tên và số lượng, địa chỉ của doanh nghiệp nhận hàng tại Việt Nam, thương
nhân nước ngoài phải thực hiện thanh toán tiền đối với hàng xuất khẩu tại chỗ
bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi qua ngân hàng, doanh nghiệp phải mở tờ khai hải
quan hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ.
Hàng hoá xuất
khẩu tại chỗ được hưởng thuế suất 0%. Tuy nhiên, doanh nghiệp xuất khẩu tại chỗ
phải xuất trình với cơ quan thuế địa phương đầy đủ các hồ sơ bao gồm: hợp đồng
mua bán ký giữa doanh nghiệp xuất khẩu tại chỗ khi giao hàng, hợp đồng mua bán
ký giữa doanh nghiệp xuất khẩu tại chỗ với thương nhân nước ngoài, chứng từ
thanh toán tiền hàng xuất khẩu tại chỗ với thương nhân nước ngoài qua ngân hàng
bằng ngoại tệ từ đó chuyển đổi, tờ khai hàng hoá xuất nhập khẩu tại chỗ. Trường
hợp cơ sở sản xuất tại chỗ không có đủ thủ tục hồ sơ trên thì không được áp
dụng thuế suất 0%, cơ sở xuất khẩu tại chỗ phải thực hiện nộp thuế GTGT theo
quy định của luật thuế GTGT như hàng hoá tiêu thụ nội địa.
Ngoài ra thông
tư còn hướng dẫn cụ thể việc xử lý vi phạm đối với các trường hợp doanh nghiệp
nhập khẩu tại chỗ không sử dụng hàng hoá đã nhập khẩu tại chổ để làm nguyên
liệu sản xuất hàng xuất khẩu mà đem bán hoặc sử dụng không đúng mục đích.
Chính phủ vừa
ban hành nghị định 158/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành luật thuế GTGT văn
bản hướng dẫn các đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản
xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam với các mức thuế suất 0%, 5% và 10%
đồng thời các đối tượng nộp thuế phải kê khai thuế GTGT theo đúng quy định của
pháp luật.
Các mức thuế
suất 0% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu, kể cả hàng gia công xuất
khẩu, hàng hoá, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế GTGT xuất khẩu.
Mức thuế suất
5% áp dụng với các hàng hoá, dịch vụ: nước sạch phục vụ sản xuất, sinh hoạt,
phân bón, quặng để sản xuất phân bón, máy móc và dụng cụ chuyên dùng cho y tế,
bông và băng vệ sinh y tế, giáo cụ dùng giảng dạy và học tập, đồ chơi trẻ em,
sản phẩm trồng trọt chăn nuôi, thuỷ sản, hải sản đánh bắt chưa qua chế biến,
thực phẩm tươi sống, lương thực, lâm sản.
Mức thuế suất
10% áp dụng với hàng hoá, dịch vụ: dầu mỏ, khí đốt, quặng điện, thương phẩm,
điện tử, sản phẩm hoá chất, sản phẩm may mặc, thêu ren, giày, sữa, bánh kẹo,
nước giải khát, sản phẩm gốm sứ, thuỷ tinh, dịch vụ tư vấn pháp luật, các dịch
vụ tư vấn khác, khách sạn, dịch vụ ăn uống.
Việc kê khai
nộp thuế GTGT hợp pháp: cơ sở kinh doanh và người nhập khẩu phải kê khai thuế
GTGT theo quy định sau: cơ sở kinh doanh phải kê khai nộp thuế từng tháng và
nộp tờ kê khai kèm theo bản kê khai hàng hoá, dịch vụ mua vào, bán ra làm căn
cứ xác định số thuế phải nộp của tháng cho cơ quan thuế trong 10 ngày đầu của
tháng tiếp theo.
Trong trường
hợp không phát sinh số bán hàng hoá, dịch vụ thuế đầu vào, thuế đầu ra cơ sở
kinh doanh vẫn phải nộp tờ kê khai thuế cho cơ quan thuế. Cơ sở phải kê khai đầy
đủ đúng mẫu tờ khai thuế và phải chịu trách nhiệm pháp lý về tính chính xác của
việc kê khai. Thời điểm tính thuế GTGT đầu ra phát sinh là thời điểm cơ sở kinh
doanh đã chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá, dịch vụ cho người mua không phân
biệt người mua đã trả tiền hay chưa. Khi bán hàng hoá cơ sở kinh doanh phải lập
hoá đơn theo cơ sở của pháp luật.
Tổ chức, cá
nhân ở nước ngoài không có văn phòng hay trụ sở điều hành ở Việt Nam có cung
ứng hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam phải kê
khai, nộp thuế GTGT thay cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài.
Cơ sở kinh
doanh nhiều loại hàng hoá, dịch vụ có mức thuế suất GTGT khác nhau phải kê khai
thuế GTGT theo mức thuế suất quy định đối với từng loại hàng hoá, dịch vụ. Nếu
cơ sở kinh doanh không xác định được theo tổng mức thuế suất thì phải tính theo
mức thuế suất cao nhất của hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở có sản xuất, kinh doanh.
Cơ sở kinh doanh có trách nhiệm nộp thuế đầy đủ, đúng thời hạn vào ngân sách
nhà nước. Thuế nộp vào ngân sách nhà nước bằng đồng Việt Nam.
1.2.
Nội
dung của luật thuế GTGT:
1.2.1. Đối tượng nộp thuế:
Đối tượng nộp thuế bao gồm: Tổ
chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế (gọi chung là cơ
sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác nhập khẩu hàng hoá chịu thuế (gọi chung
là người nhập khẩu) là đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng (Điều 3- Luật thuế
GTGT).
Qua quy định của Luật về đối tượng nộp
thuế có thể thấy, Luật thuế GTGT là sắc thuế có phạm vi điều chỉnh rộng nhất
trong tất cả các Luật thuế hiện hành của Nhà nước ta. Thuế GTGT động viên sự
đóng góp của tất cả mọi người dân thông qua hành vi tiêu dùng của họ. Với phạm
vi điều chỉnh rộng như vậy, thuế GTGT hiện nay là một trong những sắc thuế quan
trọng trong hệ thống thu thuế của Nhà nước ta và cũng như thuế doanh thu trước
đây, thuế GTGT luôn có tỷ trọng cao trong cơ cấu thu của ngân sách Nhà nước.
1.2.2. Đối tượng chịu thuế
Đối tượng chịu thuế bao gồm hàng
hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng
chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng quy định tại Điều 4 của luật này
(Điều 2 Luật thuế GTGT).
Điều đó có nghĩa là đối tượng chịu
thuế GTGT quy định đối tượng chịu thuế gồm toàn bộ hàng hóa, dịch vụ được mua
bán, tiêu dùng trên thị trường: hàng hóa, dịch vụ được sản xuất và tiêu dùng
trong nước.
Tuy nhiên, do tính chất của sản xuất
và tiêu dùng ở nước ta hiện nay, mặt khác để nâng đỡ và khuyến khích phát triển
đối với một số ngành, lĩnh vực, Luật thuế GTGT có quy định một số loại hàng
hóa, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT. Thuộc diện này bao gồm có 4 nhóm
như sau:
Các sản phẩm, dịch vụ của một số
ngành, lĩnh vực mà hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành này còn gặp
nhiều khó khăn, cần có sự nâng đỡ của Nhà nước để khuyến khích phát triển như:
sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản chưa qua chế biến...
Nhóm các sản phẩm và dịch vụ không
mang tính kinh doanh, hoặc các dịch vụ công cộng bảo đảm cung cấp các dịch vụ
tối thiểu cho tiêu dùng như: bảo hiểm học sinh, bảo hiểm vật nuôi cây trồng
không nhằm mục đích kinh doanh, hoạt động triển lãm, phát song truyền thanh
truyền hình, dạy học dạy nghề...
Hàng hóa nhập khẩu trong các trường
hợp viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại, quà tặng cho các cơ quan Nhà
nước, hàng mang theo người theo tiêu chuẩn hành lý miễn thuế...
Hàng hóa chuyển khẩu, quá cảnh, mượn
đường qua Việt Nam, hàng tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập, nguyên vật
liệu nhập khẩu để sản xuất gia công với nước ngoài, hàng xuất khẩu là tài
nguyên khoáng sản chưa chế biến thành phẩm.
1.2.3. Căn cứ tính thuế:
Căn cứ tính thuế GTGT được xác định
dựa trên giá tính thuế và thuế suất thuế GTGT;
Về giá tính
thuế GTGT, về lý thuyết có hai cách xác định:
Giá tính thuế là giá đã bao gồm thuế
GTGT, có nghĩa là thuế được tính trên giá bán đã bao gồm thuế.
Giá tính thuế là giá chưa bao gồm thuế
GTGT. Cách tính này làm cho bên mua và bên bán thấy rõ ràng hơn là giá chưa có
thuế và thuế GTGT.
Giá tính thuế GTGT được xác định tùy thuộc vào loại hàng hóa và dịch vụ. Cụ thể là:
·
Đối
với hàng hoá, dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT.
·
Đối
với hàng hoá nhập khẩu là giá tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu.
·
Đối
với hàng hoá, dịch vụ dùng để trao đổi, sử dụng nội bộ, biếu tặng là giá tính
thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát
sinh các hoạt động này.
·
Đối
với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền thuế thu từng kỳ.
·
Đối
với hàng hoá bán theo phương thức trả góp là giá bán của hàng hóa tính theo giá
bán trả 1 lần không tính theo số tiền trả từng kỳ.
·
Đối
với gia công hàng hoá là giá gia công.
·
Đối
với hàng hoá, dịch vụ khác là giá do chính phủ quy định
Về thuế suất
là đại lượng xác định mức độ, phạm vi, nghĩa vụ nộp thuế trên một đơn vị của
đối tượng chịu thuế. Hay nói cách khác, thuế suất là định mức thu thuế trên một
đơn vị của đối tượng chịu thuế. Thuế suất biểu hiện chính sách điều chỉnh kinh
tế xã hội của Nhà nước, tức là thể hiện quan điểm động viên của Nhà nước với
từng hoạt động sản xuất kinh doanh. Thuế suất thuế GTGT là loại thuế suất theo giá
trị tức là thuế suất quy định tỷ lệ % huy động trên một đơn vị giá trị đối
tượng nộp thuế.
Mức thuế suất thuế
GTGT theo Luật thuế GTGT là:
-
Đối
với hàng hoá xuất khẩu mức thuế suất là 0%
-
Đối
với hàng hoá, dịch vụ: nước sạch, nước sinh hoạt, phân bón, thuốc khám bệnh, đồ
chơi trẻ em, sách khoa học…. mức thuế suất là 5%
-
Mức
thuế suất thông thường giao động từ 10 – 20%
-
Nhóm
thuế suất ưu đãi giao động từ 5%- 7%
-
Nhóm
thuế suất đặc biệt ưu đãi: dưới 5% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ đặc biệt
ưu đãi.
-
Nhóm
thuế suất điều tiết trên 20%.
Như vậy, hàng
hoá xuất khẩu tại chỗ được hưởng thuế suất 0%. Tuy nhiên, doanh nghiệp xuất
khẩu tại chỗ phải xuất trình với cơ quan thuế địa phương đầy đủ các hồ sơ bao
gồm: hợp đồng mua bán ký giữa doanh nghiệp xuất khẩu tại chỗ khi giao hàng, hợp
đồng mua bán ký giữa doanh nghiệp xuất khẩu tại chỗ với thương nhân nước ngoài,
chứng từ thanh toán tiền hàng xuất khẩu tại chỗ với thương nhân nước ngoài qua
ngân hàng bằng ngoại tệ từ đó chuyển đổi, tờ khai hàng hoá xuất nhập khẩu tại
chỗ. Trường hợp cơ sở sản xuất tại chỗ không có đủ thủ tục hồ sơ trên thì không
được áp dụng thuế suất 0%, cơ sở xuất khẩu tại chỗ phải thực hiện nộp thuế GTGT
theo quy định của Luật thuế GTGT như hàng hoá tiêu thụ nội địa. Các mức thuế
suất 0% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu, kể cả hàng gia công xuất
khẩu, hàng hoá, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế GTGT xuất khẩu.
Mức thuế suất
5% áp dụng với các hàng hoá, dịch vụ: nước sạch phục vụ sản xuất, sinh hoạt,
phân bón, quặng để sản xuất phân bón, máy móc và dụng cụ chuyên dùng cho y tế,
bông và băng vệ sinh y tế, giáo cụ dùng giảng dạy và học tập, đồ chơi trẻ em,
sản phẩm trồng trọt chăn nuôi, thuỷ sản, hải sản đánh bắt chưa qua chế biến,
thực phẩm tươi sống, lương thực, lâm sản.
Mức thuế suất
10% áp dụng với hàng hoá, dịch vụ: dầu mỏ, khí đốt, quặng điện, thương phẩm,
điện tử, sản phẩm hoá chất, sản phẩm may mặc, thêu ren, giày, sữa, bánh kẹo,
nước giải khát, sản phẩm gốm sứ, thuỷ tinh, dịch vụ tư vấn pháp luật, các dịch
vụ tư vấn khác, khách sạn, dịch vụ ăn uống.
Mức thuế suất
20% áp dụng đối với một số sản phẩm kinh doanh thu lãi cao cần phải điều tiết,
gồm: vàng, bạc, đá quý...
Thuế suất là
đại lượng xác định mức độ, phạm vi, nghĩa vụ nộp thuế trên một đơn vị của đối
tượng chịu thuế. Hay nói cách khác, thuế suất là định mức thu thuế trên một đơn
vị của đối tượng chịu thuế. Thuế suất biểu hiện chính sách điều chỉnh kinh tế
xã hội của Nhà nước, tức là thể hiện quan điểm động viên của Nhà nước với từng
hoạt động sản xuất kinh doanh. Thuế suất thuế GTGT là loại thuế suất theo giá
trị tức là thuế suất quy định tỷ lệ % huy động trên một đơn vị giá trị đối
tượng nộp thuế.
Với mục tiêu
khi ban hành là Luật thuế GTGT là mức động viên vào ngân sách Nhà nước tương
đương với mức động viên của thuế doanh thu. Do vậy thuế suất GTGT được thiết kế
vừa phải, để các doanh nghiệp không phải nộp thuế nặng hơn so với thuế doanh
thu. Xu hướng chung ở các nước trên thế giới có áp dụng thuế GTGT là không quy
định nhiều thuế suất, thậm chí có nhiều nước chỉ quy định một mức thuế suất
GTGT cho tất cả hàng hóa và dịch vụ.
1.2.4. Cách tính thuế:
Thuế GTGT phải nộp được tính theo
phương pháp khấu trừ thuế hoặc phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia
tăng.
1.2.4.1.
Phương
pháp khấu trừ thuế:
Số thuế phải nộp bằng thuế GTGT đầu ra
trừ thuế GTGT đầu vào.
Thuế GTGT đầu
ra bằng giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ bán ra nhân với thuế suất.
Thuế GTGT đầu
vào bằng tổng số thuế GTGT đã thanh toán được ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng
hóa, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT hàng hoá nhập khẩu.
1.2.4.2.
Phương
pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng
Số thuế phải nộp bằng GTGT của hàng
hoá, dịch vụ nhân với thuế suất thuế GTGT. Giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch
vụ bằng giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ bán ra trừ giá thanh toán của hàng
hóa, dịch vụ mua vào.
Phương pháp
tính trực tiếp chỉ áp dụng đối với các đối tượng sau:
-
Cá
nhân sản xuất kinh doanh và tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh ở Việt Nam không theo bước đầu tư nước ngoài tới Việt Nam chưa thực
hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hoá đơn, chứng từ để làm căn cứ tính thuế
theo phương pháp khấu trừ.
-
Cơ
sở kinh doanh mua bán vàng bạc, đá quý.
1.2.5. Quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế
trong cơ chế thi hành Luật thuế GTGT:
1.2.5.1.
Đăng
ký thuế và cấp mã số thuế
Sự kiện
pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ đăng ký thuế GTGT là sự ra đời, thay đổi hoặc
chấm dứt của chủ thể kinh doanh. Thời điểm phát sinh nghĩa vụ này được xác định
kể từ ngày đối tượng nộp thuế được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Thời
điểm cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là thời điểm để tính thời hạn thực
hiện nghĩa vụ thuế. Việc đăng ký thuế phải tuân thủ theo những trình tự thủ tục
nhất định gọi là quy trình đăng ký thuế. Kết quả của đăng ký thuế là mỗi đối
tượng nộp thuế được cấp một mã số thuế. Mã số thuế là cơ sở pháp lý để nhận
diện người nộp thuế, là điều kiện thiết yếu về phương diện pháp lý để quản lý
và thực hiện thuế GTGT. Đối với đối tượng nộp thuế phải sử dụng mã số thuế để
thực hiện nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ khác có liên quan đến thuế vì vậy phải
ghi mã số thuế trên mọi giấy tờ giao dịch, hợp đồng kinh tế, chứng từ nộp thuế.
Các đơn vị được sử dụng hoá đơn tự in phải in sẵn mã số của mình vào từng tờ
hoá đơn.
Đối với cơ quan thuế phải có trách
nhiệm sử dụng mã số thuế của đối tượng nộp thuế để quản lý đối tượng nộp thuế,
theo dõi số liệu nộp thuế và ghi mã số đối tượng nộp thuế trên mọi giấy tờ giao
dịch với đối tượng nộp thuế như: thông báo nộp thuế, thông báo phạt, lệnh thu,
các quyết định phạt hành chính thuế, biên bản kiểm tra về thuế.
1.2.5.2.
Kê
khai thuế GTGT
Mỗi chủ thể
khi tham gia đăng ký nộp thuế GTGT với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được
cấp mã số thuế thì đều phải thực hiện việc kê khai thuế theo quy định của pháp
luật.
Kê khai thuế là việc khai báo tất cả
những nghiệp vụ chịu thuế phát sinh trong kỳ (tháng, quý hoặc năm), số thuế
GTGT đã trả khi mua hàng, số thuế GTGT thu được khi bán hàng, số thuế GTGT đã
nộp, số thuế GTGT phải nộp trong kỳ cho cơ quan thuế.
Việc kê khai thuế được tiến hành theo
mẫu tờ khai thuế. Người có nghĩa vụ kê khai thuế căn cứ vào các dữ liệu trên tờ
khai thuế thực hiện hành vi kê khai, chịu trách nhiệm về tính chính xác của
việc kê khai và nộp tờ khai cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau khi lập
xong tờ khai thuế phải nộp tờ khai cho cơ quan thuế. Sau khi tính số thuế phải
nộp cho đối tượng nộp thuế, cơ quan thuế mới ra thông báo nộp thuế gửi cho các
đối tượng nộp thuế. Việc kiểm tra tính đúng đắn của kê khai thuế xảy ra trước
thời điểm nộp thuế. Việc sai sót trong việc tính số thuế phải nộp thuộc trách
nhiệm của cơ quan thuế.
1.2.5.3.
Nộp
thuế GTGT
Nộp thuế GTGT là việc người cung cấp hàng hoá, dịch vụ chuyển
thuế đã thu hộ Nhà nước do người tiêu dùng trả thông qua cơ chế giá khi mua
hàng hoá, dịch vụ thuộc diện chịu thuế GTGT vào kho bạc Nhà nước. Đây là nghĩa
vụ cơ bản nhất của mỗi đối tượng nộp thuế. Để thực hiện nghĩa vụ này một cách
có hiệu quả cần điều chỉnh những vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, về hình thức
nộp thuế, có thể nộp trực tiếp cho cơ quan thuế hoặc có thể nộp thuế qua Ngân
hàng, qua kho bạc.
Thứ hai, về cơ chế nộp
thuế. Hiện nay trong thực tiễn tiến hành thu thuế tồn tại hai cơ chế:
·
Cơ
chế đối tượng nộp thuế tự tính nộp thuế: cơ chế này nâng cao tính tự chịu trách
nhiệm trước pháp luật của đối tượng nộp thuế, giảm khối lượng công việc cho cơ
quan quản lý thuế cũng như chi phí quản lý hành chính thuế, phân định rạch ròi
trách nhiệm của cơ quan thuế, của đối tượng nộp thuế.
·
Cơ
chế nộp thuế theo thông báo của cơ quan thuế: tức nộp thuế theo sự tính toán
của cơ quan thuế và được thực hiện bởi một quyết định quản lý hành chính của
Nhà nước.
Thứ ba, phạm vi thực
hiện nghĩa vụ nộp thuế GTGT. Đối với những tổ chức, cá nhân kinh doanh bất hợp
pháp (không có đăng ký kinh doanh) có nghĩa vụ nộp thuế hay không?
Xét trên phương diện lý luận thì nghĩa
vụ nộp thuế GTGT của các chủ thể chỉ phát sinh trên cơ sở các hành vi và hoạt
động hợp pháp của các chủ thể vì vậy nếu đánh thuế vào những hoạt động kinh
doanh không hợp pháp thì vô hình chung có một dòng tiền bất hợp pháp được
chuyển vào ngân sách Nhà nước, được sự bảo trợ của Nhà nước và dòng tiền đó trở
thành hợp pháp.
1.2.5.4.
Quyết
toán thuế
Với cơ chế tự đăng ký, tự kê khai, tự tính và nộp thuế việc
quyết toán thuế hàng năm của cơ sở kinh doanh với cơ quan thuế là hết sức cần
thiết. Thuế GTGT là thuế gián thu được đánh trên tất cả các khâu từ sản xuất
đến tiêu dùng theo phương pháp khấu trừ thì nghĩa vụ quyết toán thuế phải được
tính toán một cách chặt chẽ nhằm xác định đủ, chính xác số thuế nộp vào ngân
sách nhà nước một cách kịp thời, tránh hiện tượng chiếm giữ số thuế GTGT thu
được phục vụ lợi ích riêng của doanh nghiệp.
1.2.6. Khấu trừ và hoàn thuế GTGT
1.2.6.1.
Khấu
trừ thuế GTGT
Thuế GTGT mang bản chất liên hoàn vì vậy thuế GTGT đã được
nộp ở giai đoạn trước sẽ được khấu trừ ở giai đoạn sau thông qua cơ chế giá cả
khi thực hiện hành vi mua bán trao đổi sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ. Việc khấu
trừ thuế đã nộp ở giai đoạn trước gọi là khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
Thuế GTGT đầu vào là tổng số thuế GTGT
trên hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT của hàng
hoá nhập khẩu. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì khấu trừ thuế được
thực hiện theo những nguyên tắc nhất định:
-
Chỉ
khấu trừ thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng vào sản xuất kinh doanh hàng
hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT, cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế đầu vào
được khấu trừ và không được khấu trừ, trường hợp không hạch toán riêng thì số
thuế đầu vào được khấu trừ theo phương pháp phân bổ dựa trên tỷ lệ doanh số
chịu thuế so với tổng doanh số bán ra tại doanh nghiệp.
-
Thuế
đầu vào của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong tháng nào thì được kê khai khấu
trừ trong tháng đó không phân biệt đã được xuất dùng hay chưa.
-
Cơ
sở mua vật tư hàng hoá không có hoá đơn chứng từ hoặc có hoá đơn nhưng không
ghi riêng số thuế GTGT ngoài giá bán thì không được khấu trừ, trừ một số trường
hợp có quy định riêng.
-
Thuế
đầu vào của TSCĐ được kê khai khấu trừ như đối với vật tư, hàng hoá khác. Nếu
số thuế khấu trừ phát sinh lớn cơ sở được tính khấu trừ dần. Sau 3 tháng mà số
thuế khấu trừ vẫn còn thì doanh nghiệp có thể đề nghị cơ quan thuế xét hoàn
thuế.
1.2.6.2.
Hoàn
thuế GTGT
Do thuế GTGT “thu hộ” của doanh nghiệp bán hàng là thuế GTGT
“trả hộ” của doanh nghiệp mua hàng nên việc hoàn thuế GTGT của một doanh nghiệp
có liên quan đến việc nộp thuế của doanh nghiệp khác. Vì vậy, có thể nói việc
hoàn thuế GTGT diễn ra trên phạm vi rộng, bao hàm nhiều mối quan hệ phức tạp và
có sự liên hoàn giữa các đối tượng nộp thuế. Chính tính phức tạp của vấn đề
cùng với sự mới mẻ của nghiệp vụ hoàn thuế GTGT cộng thêm sự chắp vá của các
văn bản pháp luật về hoàn thuế GTGT khiến cho vấn đề hoàn thuế GTGT là một vấn
đề nổi cộm lớn trong quá trình thực hiện luật thuế GTGT hiện nay.
Theo quy định của điều 16 luật thuế
GTGT thì đối tượng được xét hoàn thuế GTGT trong các trường hợp sau:
-
Cơ
sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế được xét
hoàn thuế trong các trường hợp.
-
Cơ
sở kinh doanh 3 tháng liên tục trở lên có số luỹ kế số thuế đầu vào được khấu
trừ lớn hơn số thuế đầu ra. Số thuế được hoàn là số thuế đầu vào chưa được khấu
trừ hết của thời gian xin hoàn thuế.
Ví
dụ: Doanh nghiệp A kê khai thuế GTGT có số thuế GTGT đầu ra, đầu vào
(trong tháng) như sau:
ĐVT: triệu đồng
|
Tháng
kê
khai thuế
|
Thuế
đầu vào được khấu trừ
|
Thuế
đầu ra phát sinh
|
Thuế
phải nộp
|
Luỹ
kế số thuế đầu vào
(chưa khấu trừ)
|
|
Tháng 12/2007
|
200
|
100
|
-100
|
-100
|
|
Tháng 1/2008
|
300
|
350
|
+50
|
-50
|
|
Tháng 2/2008
|
300
|
200
|
-100
|
-150
|
Doanh nghiệp A
có luỹ kế 3 tháng liên tục số thuế đầu vào lớn hơn đầu ra. Doanh nghiệp A thuộc
đối tượng được hoàn thuế GTGT với số thuế là 150 triệu đồng.
Cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng
hoá xuất khẩu nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ từ 200 triệu trở
lên thì được xét duyệt hoàn thuế theo tháng, hoặc chuyến hàng.
-
Đối
với hàng uỷ thác xuất khẩu, gia công chế biến xuất khẩu qua một cơ sở khác ký hợp
đồng gia công xuất khẩu, gia công chuyển tiếp xuất khẩu, đối tượng hoàn thuế là
cơ sở hàng hoá đi uỷ thác xuất khẩu, cơ sở trực tiếp gia công hàng hoá xuất
khẩu.
-
Đối
với cơ sở kinh doanh mới thành lập, đầu tư mới đã đăng ký nộp thuế theo phương
pháp khấu trừ thuế nhưng chưa có phát sinh doanh thu bán hàng để tính thuế GTGT
đầu ra, nếu thời gian đầu tư từ một năm trở lên được xét hoàn thuế đầu vào theo
từng năm. Số thuế GTGT đầu vào của tài sản đầu tư được hoàn có giá trị lớn từ
200 triệu trở lên thì được xét hoàn thuế từng quý.
-
Cơ
sở kinh doanh quyết toán thuế khi sát nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể, phá
sản có thuế GTGT nộp thừa, cơ sở có quyền đề nghị cơ quan hoàn thuế hoàn lại số
thuế nộp thừa.
-
Đối
với các dự án sử dụng vốn ODA chủ dự án ODA không hoàn lại mua hàng hoá, dịch
vụ từ các nhà cung cấp trong nước có thuế GTGT để sử dụng cho dự án này. Nhà
thấu chính thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp trừ thuế sử dụng vốn
ODA không ….. cung cấp các hàng hoá, dịch vụ cho các dự án sử dụng vốn ODA
không hoàn lại không phải tính thuế GTGT đầu ra nhưng được tính khấu trừ hoặc
hoàn thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ mua trong nước có thuế GTGT.
-
Tổ
chức Việt Nam sử dụng tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại của tổ
chức cá nhân nước ngoài để mua hàng hoá tại Việt Nam thì được hoàn lại tiền
thuế GTGT đã ghi trên hoá đơn GTGT khi mua hàng.
1.2.7. Hóa đơn, chứng từ:
Trong điều
kiện thực hiện thuế GTGT, hoá đơn, chứng từ là cơ sở để kiểm tra thuế GTGT, là
căn cứ để xác định thuế GTGT đầu vào và đầu ra để xác định số thuế GTGT được
khấu trừ, miễn giảm, phải nộp hay được hoàn lại trong kỳ. Điều này đòi hỏi các
doanh nghiệp phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ hoá đơn, chứng từ ở cả khâu mua
và khâu bán vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu của Nhà nước và quyền lợi
của doanh nghiệp. Do đó, việc kiểm soát và tự kiểm soát ở khâu lập chứng từ,
hoá đơn hay tiếp nhận chứng từ hoá đơn có ý nghĩa quyết định với cơ quan quản
lý chức năng trong việc tính toán số thuế phải nộp nói riêng và quản lý nguồn
thu cho ngân sách Nhà nước nói chung. Trong điều kiện kinh tế thị trường ngay
càng phát triển với các nghiệp vụ kinh tế phát sinh phong phú, đa dạng thì vấn
đề chứng từ, hoá đơn ngày càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Vì vậy, hoá đơn,
chứng từ là một nội dung hết sức quan trọng được quy định trong pháp Luật thuế
GTGT.
Ngày 18/9/2002 Bộ trưởng Bộ tài chính
ban hành quyết định số 110/2002/QĐ-BTC về việc sửa đổi, bổ sung, quản lý, sử
dụng hoá đơn bán hàng, ban hành kèm theo quyết định số 885/1998/QĐ-BTC ngày
16/7/98 của Bộ trưởng Bộ tài chính.
Theo đó thay thế nội dung, thủ tục mua
hoá đơn đối với tổ chức, cá nhân mua hoá đơn lần đầu và thủ tục mua hoá đơn lần
sau. Cơ quan thuế có quyền từ chối việc bán hoá đơn hoặc ra quyết định đình chỉ
việc sử dụng hoá đơn đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm về sử dụng
hoá đơn, chứng từ cụ thể: tạm dừng việc bán hoá đơn với các tổ chức, cá nhân
mua hoá đơn không đủ thủ tục, điều kiện kèm theo quy định, không kê khai thuế
hoặc kê khai thuế nhưng không có doanh thu sau 1 tháng mua hoá đơn, không thực
hiện báo cáo sử dụng hoá đơn theo quy định. Đình chỉ việc sử dụng hoá đơn với
tổ chức, cá nhân có hành vi bán khống hoá đơn (hoá đơn trùng) hoặc lập hoá đơn
nhưng không có hàng hoá, dịch vụ, tiếp tục có hành vi tẩy xoá hoá đơn, ghi hoá
đơn có giá trị hàng hoá, dịch vụ cao hơn giá trị thực của hàng hoá, dịch vụ;
ghi hoá đơn bán hàng, dịch vụ trên hoá đơn giao cho người mua khác với hoá đơn
lưu tại cơ sở kinh doanh.
1.3.
Một
số nhận xét về thực trạng thi hành luật thuế GTGT:
1.3.1. Những ưu điểm:
Thực tế
triển khai Luật thuế GTGT ở nước ta trong nhứng năm vừa qua cho thấy Pháp Luật
thuế GTGT ở nước ta đã đáp ứng về cơ bản những yêu cầu về lý luận của pháp luật
thuế GTGT cả về cấu trúc bên trong lẫn hình thức biểu hiện bên ngoài, cụ thể có
đầy đủ các bộ phận hợp thành của Pháp Luật thuế GTGT và các nhóm quy phạm pháp
luật được biểu hiện dưới hình thức: luật, nghị quyết, nghị định, thông tư, công
văn của nhà nước có thẩm quyền.
Các quy định của Luật thuế GTGT phản
ánh đúng những nội dung, yêu cầu của chính sách kinh tế, tài chính nói chung và
chính sách thuế nói riêng cũng như thể hiện được mục tiêu, định hướng cơ bản
trong chủ trương, đường lối phát triển kinh tế của Đảng. Pháp luật thuế GTGT cơ
bản đã phản ánh được bản chất của thuế GTGT cũng như cơ chế vận hành của thuế
GTGT.
Chính vì những lý do đó mà sau những
năm triển khai thực hiện Luật thuế GTGT đã được một số thành tựu đáng kể mà
thành tựu bao trùm nhất là đạt được mục tiêu, yêu cầu đặt ra trong Luật thuế
GTGT.
Việc thực hiện Luật thuế GTGT tạo điều
kiện cho giá thành các công trình đầu tư xây dựng cơ bản được giảm khoảng 10%
vì toàn bộ thuế GTGT của các công trình xây dựng cơ bản được hạch toán riêng
không tính vào giá thành công trình không phải khấu hao tài sản sau này mà được
khấu trừ hoặc hoàn thuế. Mặt khác, khi nhập khẩu thiết bị, máy móc phương tiện
vận tải chuyên dùng, loại trong nước chưa sản xuất được để đầu tư thành tài sản
cố định theo dự án thì không thuộc dạng chịu thuế GTGT. Đặc biệt, kể từ khi
thực hiện giảm 50% thuế suất đối với các sản phẩm xây dựng cơ bản thì mức thuế
còn phải nộp sau khi khấu trừ đầu vào bình quân chỉ còn khoảng 1% so với 4% khi
thực hiện nộp thuế doanh thu thể hiện khuyến khích đầu tư rất mạnh.
Mặt khác, Luật
thuế GTGT đã góp phần khuyến khích xuất khẩu, bảo đảm sản xuất trong nước, sắp
xếp lại cơ cấu nền kinh tế. Theo quy định của Luật thuế GTGT hàng hoá xuất khẩu
được hưởng thuế suất 0% tức là được hoàn toàn bộ số thuế GTGT đã nộp ở đầu vào,
việc hoàn thuế GTGT đầu vào thực chất là nhà nước trợ giá cho hàng hoá xuất
khẩu nên đã giúp doanh nghiệp xuất khẩu tập trung được nguồn hàng trong nước để
xuất khẩu và có điều kiện cạnh tranh được với hàng hoá trên thị trường quốc tế.
Việc triển khai Luật thuế GTGT không
gây biến động lớn về giá. Theo tài liệu của Tổng cục thống kê thì chỉ số giá
tiêu dùng cả năm 1999 chỉ tăng 0,1% so với tháng 12 năm 1998, năm 2000 tăng
khoảng 1%. Trong đó giá lương thực giảm 1,9%, giá thực phẩm giảm 7,8%. Giá các
hàng công nghệ phẩm và dịch vụ trong năm trừ lương thực và thực phẩm tăng 3% là
mức bình thường của nền kinh tế khu vực và thế giới.
Ngoài ra, Luật
thuế GTGT đã bắt đầu tác động đến công tác quản lý của doanh nghiệp, tạo điều
kiện cho cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt đọng sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp, tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy
việc mua bán hàng hoá có hoá đơn ở các doanh nghiệp. Do yêu cầu của việc kê
khai thuế GTGT, khấu trừ thuế GTGT đầu vào, tính đúng thu nhập của doanh nghiệp
nên những người làm công tác kinh doanh đã bắt đầu chú ý đến công tác mở sổ kế
toán, ghi chép, quản lý và sử dụng hoá đơn, chứng từ. Sự chuyển biến này thể
hiện rõ nhất trong các doanh nghiệp tư nhân, các công ty trách nhiệm hữu hạn,
công ty cổ phần. Thông qua việc chấp hành công tác kế toán, hoá đơn, chứng từ
của các doanh nghiệp qua việc kê khai thuế, hoàn thuế, quyết toán thuế giúp cho
cơ quan chức năng của Nhà nước và cơ quan thuế từng bước nắm được sát hơn tình
hình sản xuất kinh doanh cũng như tăng cường kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp.
Đồng thời,
việc triển khai thực hiện Luật thuế GTGT bảo đảm động viên số thu cho nguồn
ngân sách Nhà nước. Không giảm hơn so với thuế doanh thu. Năm 1999 tổng thu
ngân sách Nhà nước đạt 102,1% so với dự toán năm Quốc hội giao, năm 2000 đạt
117,4%. Trong đó thuế GTGT chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu, riêng số thu
thuế GTGT năm 1999 là 16.590 tỷ đồng, sau khi trừ đi số thuế phải hoàn còn lại
tương đương với thuế doanh thu trước đây.
Qua những con
số ở trên, chúng ta có thể ít nhiều khẳng định rằng việc đưa thuế GTGT vào áp
dụng ở Việt Nam
là định hướng đúng đắn của Đảng và nhà nước, là bước đột phá lớn trong công
cuộc cải cách tài chính công. Luật thuế GTGT được thực hiện ở Việt Nam đã có những
tác động lớn đến đời sống kinh tế xã hội
nước ta, góp phần hoàn thiện luật thuế ở nước ta phù hợp với kinh tế thị
trường, tạo điều kiện mở rộng hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế
giới.
1.3.2. Những vấn đề tồn tại:
Bên cạnh những
mặt đã đạt được thì pháp Luật thuế GTGT ở nước ta cũng có những mặt “chưa được”.
Luật thuế GTGT ở nước ta hiện nay chưa đủ mạnh để điều chỉnh các quan hệ phát
sinh trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT. Thể hiện ở những mặt sau:
Một là, đối
tượng chịu thuế GTGT chưa phản ánh đúng bản chất của sư vật hiện tượng, việc
thuế GTGT phân ra đối tượng chịu thuế và đối tượng không chịu thuế cưa chính
xác về mặt khoa học, cùng với việc quy định trực tiếp hàng hoá, dịch vụ không
thuộc diện chụi thuế GTGT nên đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong qúa trình thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT.
Phạm vi đối
tượng nộp thuế GTGT được xác định trong luật là quá rộng, trong đó chủ thể là
hộ kinh doanh cá thể chiếm một tỷ lệ lớn nhưng chưa có thói quen lập và sử dụng
hoá đơn. Khi thực hiện các cung ứng chịu thuế nên gây nhiều khó khăn phức tạp trong
quản lý hành chính thuế.
Hai là, căn cứ
tính thuế là giá tính thuế và thuế suất, song thực tiễn thực thi nghĩa vụ thuế
GTGT, giá tính thuế được phản ánh trên hoá đơn chứng tù còn có sự khác biệt so
với giá thực, đặc biệt giá tính thuế của hàng tiêu dùng, nhưng không có đủ cơ
sở pháp lý để chứng minh vì vậy trong nhiều trường hợp phạm vi mức độ của thuế
GTGT không được xác định đúng. Lại cộng thêm tiêu chí phân định danh mục hàng
hoá, dịch vụ dựa trên tính năng công dụng và mục đích sử dụng hàng hoá, dịch vụ
để xác định mức thuế suất, nên trong nhiều trường hợp cùng một mặt hàng có thể
bị áp dụng các mức thuế khác nhau.
Ba là việc quy
định hai phương pháp tính thuế những tưởng phù hợp với điều kiện thực tế của
Việt nam song thực tiễn thực thi nghĩa vụ thuế GTGT đã đưa đến nhiều bất ổn và
không thực tế, nhất là giá tính thuế của hai phương pháp này khác nhau.
Bốn là quy
định khấu trừ khống là thiếu cơ sở khoa học, khó khăn trong quản lý hành chính
thuế và mục đích của việc khấu trừ khống cũng không thực hiện được. Các quy
định về khấu trừ đối với tài sản cố định còn nhiều bất hợp lý dẫn đến hai xu
thế, có thể quyền khấu trừ không được bảo đảm hoặc có thể bị lạm dụng, mà cả
hai nguyên tắc này đều không đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong quá trình thực
hiện.
Năm là xác
định diện hoàn thuế quá rộng, cộng thêm cơ chế “tiền thoái hậu kiểm” cùng với
thủ tục thành lập doanh nghiệp quy định trong luật doanh nghiệp không chặt chẽ,
nên tiền của Nhà nước thất thoát bằng con đường này là khá lớn.
Sáu là cơ chế
thực hiện nghĩavụ thuế GTGT còn đan xen nhiều yếu tố của cơ chế quản lý hành
chính bao cấp nên nghĩa vụ thuế GTGT chưa được đảm bảo một cách công bằng thoả
đáng. Giá trị pháp lý của mã số thuế, tờ khai thuế, thông báo nộp thuế, quyết
toán thuế chưa được xác định trong pháp luật thuế GTGT, dẫn đến sự tuỳ tiện
trong quá trình thực hiện.
Bảy là hoá
đơn, chứng từ còn thiếu nhiều dữ kiện quan trọng để xác định trách nhiệm pháp
lý của các bên, giá trị pháp lý của chúng chưa được xác định rõ ràng, cơ chế
quản lý lỏng lẻo, việc lập và sử dụng hoá đơn, chứng từ khi mua hàng hoá, dịch
vụ chưa trở thành thói quen nên hiện tượng gian lận hoá đơn để chiếm dụng tiền
của ngân sách Nhà nước bằng con đường khấu trừ thuế hoặc hoàn thuế GTGT đã phát
triển tới mức báo động và không chỉ dừng lại ở sự đơn lẻ của từng doanh nghiệp
mmà có sự móc nối giữa các doanh nghiệp.
Những bất cập
trên đã đặt ra sự tất yếu phải hoàn thiện Luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực
hiện đồng thời cũng là cơ sở thực tiễn cho việc đề ra các giải pháp hoàn thiện Luật
thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện.
CHƯƠNG 2:
THỰC
TRẠNG THI HÀNH LUẬT THUẾ GTGT Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ CÁC HÀNH VI VI PHẠM.
2.1.
Thực
trạng thi hành Luật thuế GTGT ở nước ta trong thời gian qua:
Pháp luật
thuế GTGT là một luật thuế hoàn toàn mới mẻ trong lịch sử pháp luật tài chính
nước ta và trong nhận thức của tầng lớp dân cư. Vì vậy, việc thực hiện các luật
thuế mới nói chung và Luật thuế GTGT nói riêng sẽ có tác động đến nhiều mặt của
đời sống kinh tế xã hội của đất nước và những khó khăn bước đầu là không tránh
khỏi.
Sau những năm thực hiện Luật thuế GTGT
ở nước ta đã cơ bản đáp ứng được những yêu cầu về lý luận của pháp luật thuế
GTGT cả về cấu trúc bên trong lẫn những biểu hiện bên ngoài. Các quy định của
pháp luật thuế GTGT phản ánh đúng những nội dung, yêu cầu của chính sách kinh
tế, tài chính nói chung và chính sách thuế nói riêng cũng như thể hiện được mục
tiêu, định hướng cơ bản trong chủ trương đường lối phát triển kinh tế của Đảng.
Pháp luật thuế GTGT cơ bản đã phản ánh được bản chất của thuế GTGT cũng như cơ
chế vận hành của thuế GTGT. Các quy định của pháp luật thuế GTGT luôn tính đến
các giải pháp qua đó nhằm áp dụng tốt nhất thuế GTGT trong điều kiện thực tế ở
Việt Nam như quy định 2 phương pháp tính thuế, quy định khấu trừ khống, mở rộng
diện miễn giảm thuế…
Vì vậy, sau 9
năm thực hiện Luật thuế GTGT đã đạt được những thành tựu đáng kể mà thành tựu
bao trùm nhất là đạt được những mục tiêu yêu cầu đặt ra trong Luật thuế GTGT. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được
thì pháp luật điều chỉnh Luật thuế GTGT ở nước ta còn có những điểm “chưa được”
gây ra các phát sinh tiêu cực trong quá trình thực hiện Luật thuế GTGT, hay
những vấn đề khó khăn trong áp dụng Luật thuế GTGT.
Thứ nhất, thuế GTGT không đánh vào bản thân hàng hoá, dịch vụ mà đánh vào
hành vi tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ nên thuế GTGT thuộc loại thuế tiêu dùng mà hàng hoá tiêu
dùng được biểu hiện thông qua việc trao đổi mua bán, vì vậy nếu hàng hoá, dịch
vụ nằm trong kho hoặc chưa đưa vào lưu thông tức là chưa thông qua việc trao
đổi mua bán thì chưa bị đánh thuế GTGT.
Thứ hai, cơ sở để tính
thuế GTGT là giá tính thuế mà giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chỉ được xác
định khi thông qua quan hệ trao đổi mua bán. Nếu hàng hoá, dịch vụ cứ nằm im
trong kho thì rõ ràng không thể biết đúng giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ
đó là bao nhiêu mà chỉ có thể biết được giá thành của hàng hoá, dịch vụ đó.
Thứ ba, việc quy định trực
tiếp đối tượng chịu thuế là hàng hoá, dịch vụ nên xử lý các vấn đề tiếp theo
như kỳ nộp thuế, hạch toán kế toán, kiểm tra thanh tra, giải quyết vấn đề tranh
chấp thuế, nợ thuế, trốn thuế, hoặc nộp thuế sẽ gặp nhiều khó khăn trong nhận
thức và sinh ra nhiều việc xác định mức độ, phạm vi của nghĩa vụ thuế.
Việc Luật thuế GTGT phân
ra đối tượng chịu thuế và không chịu thuế GTGT không chính xác về mặt khoa học.
Khi nói đến đối tượng chịu thuế là nói đến những hoạt động cung ứng hàng hoá,
dịch vụ chịu thuế GTGT. Còn những hàng hoá, dịch vụ được liệt kê ở điều 4 Luật
thuế GTGT không thuộc hình thức cung ứng này đều là những hình thức cung ứng
thuộc diện chịu thuế GTGT, nhưng được miễn trừ thuế. Luật thuế GTGT xác định
diện miễn trừ thuế rất rộng tuy nhiên sự ưu đãi này đưa đến nhiều bất ổn cho
các chủ thể thực hiện các nghiệp vụ này do bắt nguồn từ cơ chế khấu trừ, đặc
biệt trong trường hợp các ngành sử dụng nguyên vật liệu thuộc diện miễn trừ
thuế GTGT để sản xuất ra các sản phẩm chịu thuế GTGT hoặc ngược lại. Ví dụ khi
sản xuất bột canh hoặc mỳ ăn liền đều phải sử dụng nguyên liệu muối, nhưng muối
thuộc dạng miễn trừ thuế GTGT nên không có thuế GTGT phát sinh khi mua muối làm
nguyên liệu, trong khi đó sản phẩm tạo ra (bột canh) lại thuộc diện chịu thuế
GTGT vì vậy, khi bán những sản phẩm này doanh nghiệp phải lập hoá đơn, thu và
nộp trọn vẹn số thuế GTGT phát sinh cho kho bạc nhà nước mà không được khấu trừ
thuế GTGT đầu vào tương ứng (trong đó muối chiếm 80% giá thành sản xuất bột
canh). Do doanh nghiệp không được hưởng lợi tức khấu trừ nên khi áp dụng thuế
GTGT sẽ phải tăng giá bán hoặc giảm giá mua để đảm bảo nghĩa vụ nộp thuế và mức
doanh lợi hoạt động. Nếu giá mua đầu vào (muối) bị giảm thì có nghĩa là chính
người miễn thuế GTGT (người sản xuất muối) tưởng được ưu đãi nhưng thực chất có
khi còn bị thiệt hại hơn trước.
Ngoài ra, những ngôn ngữ được diễn đạt
trong luật có khi còn gây ra những cách hiểu khác nhau do vậy gây khó khăn cho
việc áp dụng luật.
Tuy nhiên, thực tế áp dụng Luật thuế
GTGT ở nước ta trong những năm vừa qua cho thấy bên cạnh những cái “được”, những cái “chưa được” còn tồn tại thực trạng
gian lận thuế GTGT ở nước ta ngày càng nhiều với quy mô ngày càng lớn, thủ đoạn
ngày càng tinh vi. Thực tế, của vấn đề này là xuất phát từ những cái “chưa
được” còn tồn tại trong Luật thuế GTGT và lợi dụng những kẽ hở trong quản lý.
Chỉ riêng gian lận trong việc hoàn thuế, năm 1999 có 4 vụ, năm 2000 phát hiện
17 vụ, năm 2001 phát hiện 64 vụ và chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2002 đã phát hiện
được 46 vụ nâng tổng số tiền hoàn thuế lên 500 tỷ đồng từ năm 1999. Ngoài ra,
tình trạng khai khống hoá đơn, mua bán hoá đơn, sửa đổi hoá đơn ngày càng tăng
nhanh làm thất thu nhiều tiền của ngân sách nhà nước. Như công ty Đông Nam đã
sửa đổi hoá đơn bán hàng chỉ riêng quý I/2001 đã “rút ruột” nhà nước 50 tỷ
đồng. Công ty Vạn Lợi ở Long Xuyên, An Giang đã dùng việc mua bán hoá đơn của Bộ
tài chính phát hành đã gây thiệt hại cho nhà nước 26,6 tỷ đồng sau 5 năm hoạt
động.
Những thực tế đã nêu ở trên xuất phát
từ những yếu tổ chưa chặt chẽ của Luật thuế GTGT, từ sự lỏng lẻo trong công tác
quản lý của các cán bộ có trách nhiệm và từ sự ý thức của người dân chưa cao do
họ chưa được giáo dục một cách đầy đủ về pháp luật và họ mong muốn làm giàu
bằng mọi giá. Vì vậy, sự điều chỉnh Luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện
là sự đòi hỏi cấp thiết trong giai đoạn này.
2.2.
Các
hành vi vi phạm Luật thuế GTGT:
Thực tiễn
áp dụng Luật thuế GTGT ở nước ta trong thời gian vừa qua cho thấy pháp luật
thuế GTGT còn có nhiều vấn đề lớn cần giải quyết. Chính những vấn đề này đã tạo
ra kẽ hở cho một số kẻ lợi dụng để vi phạm pháp luật. Trong điều kiện thực hiện
thuế GTGT, hoá đơn, chứng từ là cơ sở để kiểm tra thuế GTGT, là căn cứ xác định
thuế GTGT được khấu trừ, miễn giảm, phải nộp hay được hoàn lại trong kỳ. Điều
này đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ hoá đơn, chứng
từ ở cả khâu mua và khâu bán vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu của nhà
nước và tự kiểm soát ở khâu lập chứng từ đối với cơ quan chức năng trong việc
tính số thuế phải nộp nói riêng và đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước nói
chung.
2.2.1. Mua bán, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp:
2.2.1.1.
Sử
dụng hóa đơn giả:
Hiện nay,
việc quản lý, sử dụng hoá đơn bán hàng được ban hành kèm theo quyết định số 885
có nhiều nội dung không đáp ứng được công tác quản lý thuế, vì vậy, chế độ này
đã được sửa đổi, bổ sung và hiện nay chính phủ đã ra nghị định số 89/2002
ngày7/11/2002, quy định trình tự, thủ tục tự in hoá đơn. Hệ thống hoá đơn,
chứng từ hợp pháp ở nước ta hiện nay được hình thành từ hai nguồn:
-
Thứ
nhất, do Bộ tài chính phát hành
-
Thứ
hai, do các cơ sở kinh doanh tự in
Hoá đơn, chứng
từ là một căn cứ pháp lý vô cùng quan trọng trong sự vận hành của Luật thuế
GTGT. Nhưng thực tiễn áp dụng Luật thuế GTGT ở nước ta trong thời gian qua cho
thấy nạn hoá đơn giả phát triển tới mức báo động và được tồn tại dười nhiều
dạng khác nhau.
Dạng thứ nhât, là hóa đơn in giả hoàn
toàn. Nhìn bề ngoài thì loại hoá đơn này giống như hoá đơn GTGT do Bộ tài chính
phát hành và chỉ có thể phát hiện bằng máy soi nghiệp vụ còn người mua và người
bán hàng không dễ phát hiện. Có những trường hợp mua phải hàng lậu và được cấp
hoá đơn giả nhưng khi phát hiện thì người bán hàng đã biến mất nên vừa thiếu cơ
sở để áp dụng trách nhiệm pháp lý vừa không được quyền khấu trừ thuế.
Dạng thứ hai, là hoá đơn thật do Bộ
tài chính phát hành được bán cho một đơn vị nhất định nhưng tuồn ra thị trường
mua bán một cách bất hợp pháp. Thủ đoạn này có thể thực hiện bằng cách bán hàng
không cần hoá đơn cho khách hàng sau đó dùng liên trống (lẽ ra phải cấp cho
khách hàng) đem bán trên thị trường chợ đen hoặc bố cáo giải thể doanh nghiệp
nhưng không thanh toán nộp lại hoá đơn và đem bán, hoặc lợi dụng cơ chế thông
thoáng trong việc thành lập doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp, sau khi được
cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, cấp mã số thuế và mua bán
hoá đơn GTGT tại cơ quan thuế nhưng không tiến hành sản xuất kinh doanh mà sử
dụng hoá đơn đó để kinh doanh bằng cách mua bán vòng vèo để hợp thức hoá số
thuế đầu vào sau đó thực hiện khấu trừ thuế hoặc hoàn thuế.
Dạng thứ ba, cũng là dạng hoá đơn do
Bộ tài chính phát hành được sử dụng khi mua bán hàng hoá nhưng ghi giá thanh
toán không đồng nhất hoặc cố tình ghi sai mã số của người bán gây khó khăn cho
sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan thuế. Với thủ đoạn này số thuế đầu ra thu
được ở người bán thì ít mà số thuế đầu vào phải khấu trừ ở người mua nhiều.
Dạng thứ tư là cạo sửa hoá đơn mua
hàng ghi số tiền cao hơn số thực tế để khấu trừ, hoàn thuế, thanh toán, quyết
toán thuế.
Dạng thứ năm, lập hóa đơn khống, tức
thực tế không mua bán hàng hoá nhưng thông đồng với các đơn vị xuất khẩu để kê
khai hoàn thuế GTGT hàng xuất khẩu, hoặc mua bán hoá đơn hàng dùng để kê khai
khấu trừ khống thuế GTGT đầu vào.
Dạng thứ sáu, khi bán hàng hoá, dịch
vụ việc lập giao hoá đơn cho khách hàng còn tuỳ tiện, không giao hoặc đòi nâng
giá hàng khi giao hoặc giao hoá đơn không hợp pháp để trốn thuế. Đối với khách
hàng khi mua hàng cho tổ chức hoặc cá nhân tiêu dùng thường không quan tâm đến
việc đòi hoá đơn hợp pháp hoặc chủ động yêu cầu người bán lập hoá đơn với số
tiền cao hơn thực tế thanh toán hoặc tự lập hoá đơn thanh toán tiền mua hàng
cao hơn để tham ô công quỹ nhà nước.
2.2.1.2.
Hành
vi mua bán hóa đơn:
Hiện nay,
lượng hàng hoá trôi nổi, không có nguồn gốc hợp pháp lưu thông trên thị trường
nhiều, đặc biệt là các loại hàng hoá phục vụ thiết yếu đời sống của nhân dân.
Một số doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp ngành thương mại kinh doanh
xăng dầu và vật liệu xây dựng…khi bán hàng, tuỳ tiện trong việc ghi chép, quản
lý, sử dụng hoá đơn, chứng từ mua của hàng hoá đó, lập hoá đơn trên nhỏ, dưới
to, bán hàng không xuất hoá đơn, giao cho khách hàng, không lập bảng kê, không
ghi sổ kế toán, không kê khai tính thuế, và dùng khối lượng hàng hoá này để xé
rời liên 2, ghi hoá đơn khống cho đối tượng cần hoá đơn GTGT.
Tình trạng mua bán hoá
đơn do Bộ Tài Chính phát hành được bán cho một đơn vị nhất định nhưng được
mua bán trên thị trường một cách bất hợp pháp. Thủ đoạn này có thể được thực
hiện bằng cách bán hàng không cấp hoá đơn cho khách hàng sau đó dùng liên trống
đem ra bán trên thị trường hoặc trên chợ đen. Vào tháng 1/2002 hợp tác xã Vạn
Lợi, thành phố Long Xuyên, An Giang đã bị phát hiện bán hơn 1000 hoá đơn VAT
cho 16 tỉnh, Vạn Lợi đã gây thiệt hại cho Nhà nước 26,6 tỷ đồng. Năm 1996, thực
hiện luật thuế GTGT, Vạn Lợi được cục thuế cấp 25 cuốn sổ gồm 1250 tờ hoá đơn
VAT. Biết chủ trương của chính phủ cho khấu trừ thuế đầu vào cho các doanh
nghiệp kinh doanh lương thực, nông sản, thực phẩm, phó chủ nhiệm hợp tác xã đã
ký khống hoá đơn và các hợp đồng kinh tế rồi cho “tay chân” đi bán cho các đơn
vị có yêu cầu. Từ tháng 1 đến tháng 9/1999, đã bán trên 1000 hoá đơn với tổng
doanh số hơn 553 tỷ đồng: gây thiệt hại cho
Nhà nước gần 26,6 tỷ đồng. Qua việc mua bán hoá đơn họ đã bỏ túi kẻ
nhiều nhất hơn 2,8 tỷ đồng và kẻ ít nhất là 2,9 triệu đồng. Vào tháng 6/2003 cơ
quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Thái Bình vừa được chuyển hồ sơ, đề nghị
VKSND truy tố 6 nhóm tội phạm với tội danh mua bán hoá đơn GTGT. Trong đó có
chủ mưu Trần Văn Sở, nguyên cán bộ chi cục thuế thị xã Thái Bình cùng một số
cán bô thuế và Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh. Theo kết quả điều tra năm 2000-2002,
vợ chồng Sở đăng ký thành lập 34 công ty “ma”để mua bán hoá đơn VAT. Họ bán số
hoá đơn trị giá 140 tỷ đồng giúp nhiều doanh nghiệp khác được hoàn thuế 10 tỷ
đồng. Từ tháng 9/2000 đến tháng 9/2002, họ đã bán hơn 19,000 hoá đơn cho 700
đơn vị ở 22 tỉnh thành. Tổng số tiền ghi khống gần 1130 tỷ đồng.
2.2.1.3.
Khai
thấp giá trị thực của hàng hóa trên hóa đơn GTGT:
Tổng cục
thuế cho biết thời gian gần đây tại một số địa phương đã phát hiện ra nhiều
trường hợp liên 2 hoá đơn GTGT của các doanh nghiệp bán thẻ điện thoại, vàng bị
cạo sửa để ghi tiền hàng với số lượng lớn làm hoá đơn đầu vào cho các doanh
nghiệp khác. Với hình thức gian lận này tư thương đã móc túi ngân sách Nhà nước
với số lượng tiền lớn do chênh lệch giữa hai liên hoá đơn GTGT, vì vậy, Tổng
cục thuế yêu cầu các cơ quan thuế địa phương cần sớm có giải pháp phối hợp với
cơ quan công an để giám định về dấu, chữ viết, dấu hiệu cạo sửa, tẩy xoá trên
hoá đơn để phát hiện những trường hợp nghi vấn. Vào tháng 1/2003 Tổng cục thuế
thành phố Hồ Chí Minh đã kiểm tra và phát hiện gian lận thuế tại Công ty Đông
Nam. Năm 1999, đơn vị này khai doanh thu 31 tỷ đồng, thuế GTGT là 479 triệu,
năm 2000 doanh thu gấp đôi là 68 tỷ đồng, thuế GTGT là 104 triệu, năm 2001
doanh thu là 93 tỷ đồng, thuế GTGT âm 407 triệu đồng, 11 tháng đầu năm 2002
doanh thu vọt lên 137 tỷ đồng nhưng thuế GTGT âm 1,3 tỷ đồng. Điều này là hoàn
toàn bất hợp lý vì doanh thu hàng năm tăng sao thuế chỉ thu được số tiền ít ỏi.
Năm 1999 truy thu 82 triệu đồng, năm 2000 truy thu 61 triệu đồng. Sai phạm này
của công ty Đông Nam mới chỉ được phanh phui vào năm 2003 Đông Nam đã lậu thuế
hàng trăm tỷ đồng, “việc dùng bút toán hạ thấp giá trị hàng hoá” để trốn thuế
hàng trăm tỷ đồng ở Đông Nam xảy ra từ năm 2000. Chỉ riêng quý I/2001 tiền trốn
thuế khoảng 50 tỷ đồng.
Thủ đoạn làm ăn chủ yếu là khai thấp giá trị hàng nhập để trốn thuế, bán hàng
không hoá đơn GTGT làm Nhà nước thất thu số tiền lớn.
Thực hiện thông tư số 69/2002/TT-BTC
ngày 16/8/2002 của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện quyết định số
41/2002/QĐ-TTg ngày 18/3/2002 của Thủ tướng Chính phủ về chống thất thu thuế
GTGT và thuế thu nhập doanh nghiệp, năm 2006, cơ quan thuế tổ chức điều tra giá
bán thực tế của các cơ sở kinh doanh xe máy trên địa bàn đã phát hiện nhiều
doanh nghiệp có số chênh lệch lớn để xử lý và chấn chỉnh tình trạng giá bán
trên hoá đơn GTGT giao cho người tiêu dùng thấp hơn giá bán trên thị trường.
Qua tình hình xử lý tình trạng tờ khai thuế GTGT hàng tháng năm 2007 thấy rằng:
tình trạng giá bán ghi trên hoá đơn GTGT ở một số doanh nghiệp kinh doanh nhỏ hơn giá bán thực tế để trốn thuế vẫn còn
tiếp diễn. Cơ quan thuế lại có công văn yêu cầu các cơ sở kinh doanh thực hiện
niêm yết giá bán hàng hoá ở các cửa hàng, quầy hàng, cửa hiệu trên từng đơn vị
sản phẩm hàng hoá. Trường hợp các mặt hàng nào đó do một nguyên nhân nào đó mà
doanh nghiệp xây dựng giá bán hàng hoá bị lỗ hoặc không có hoá đơn GTGT thì
phải có đầy đủ hồ sơ chứng minh cụ thể. Nhưng đến nay một số doanh nghiệp vẫn không
chấp hàn nghiêm túc, tình trạng trốn thuế qua giá bán của một số doanh nghiệp
vẫn còn tiếp tục. Số thuế kê khai của các doanh nghiệp này không đúng với số
phát sinh, thậm chí có doanh nghiệp còn âm thuế, không có số nộp ngân sách.
Nguyên nhân gây ra tình trạng này trước hết là do ý thức chấp hành của một số
doanh nghiệp bên cạnh đó phần lớn khách hàng không biết được ý đồ trốn lậu thuế
của các cơ sở kinh doanh qua giá bán mà chỉ nghĩ ghi hoá đơn thấp để nộp thuế
trước bạ ít hơn, nên không đòi hỏi. Tình trạng này đã làm thất thu thuế cho
ngân sách Nhà nước, gây bất bình trong giới kinh doanh và mất công bằng xã hội.
2.2.2. Cố tình kê khai sai để chiếm đoạt
tiền hoàn thuế:
Về vấn đề
hoàn thuế GTGT, đây là một vấn đề nổi cộm, một vấn đề làm đau đầu các nhà quản
lý bởi cả tính chất phức tạp của vấn đề cùng với sự mới mẻ cuả nghiệp vụ hoàn
thuế GTGT và với sự chắp vá của các văn bản pháp luật. Lợi dụng những kẽ hở
trong luật mà doanh nghiệp thường có các thủ đoạn sau: trước hết, doanh nghiệp
chế biến tổ chức thu mua nông sản của nông dân để sơ chế sau đó bán lại cho
doanh nghiệp xuất khẩu. Khi mua nông sản từ nông dân, doanh nghiệp chế biến sẽ
lập bảng kê hàng hoá mua vào trong đó có đầy đủ các thông tin: số lượng, giá
trị các mặt hàng đã mua, ngày tháng mua, địa chỉ của người bán. Nhưng những
thông tin này đều do doanh nghiệp “tự vẽ ra”và được sắp xếp rất tinh vi như lập
hoá đơn qua nhiều khâu nhiều công đoạn ở nhiều địa phương khác nhau để tránh sự
kiểm tra kiểm soát, đối chiếu bảng kê, hoá đơn của cơ quan thuế. Khi “bán” nông
sản đã qua “sơ chế” cho doanh nghiệp xuất khẩu thì doanh nghiệp chế biến sẽ
xuất hoá đơn cho doanh nghiệp xuất khẩu, trong đó cũng ghj đầy đủ các thông số:
giá bán chưa có thuế, thuế GTGT và tổng giá thanh toán. Những thông tin này bịa
đặt và các doanh nghiệp xuất khẩu đều thực hiện xuất khẩu qua biên giới đất
liền.
Tiếp đến các
doanh nghiệp xuất khẩu mở tờ khai hải quan về hàng nông sản đã xuất khẩu gửi
cho cơ quan hải quan kèm theo hợp đồng mua bán nông sản. Ký với bên nhập khẩu,
hoá đơn GTGT bán hàng cho nước ngoài, chứng từ thanh toán hoặc xác nhận thanh
toán của khách hàng nước ngoài để chứng minh hàng hoá đã được xuất khẩu.Việc
chứng minh này được thực hiện bằng cách câu kết với phía nước ngoài lập các hợp
đồng kinh tế, các hoá đơn GTGT, chứng từ thanh toán khống. Sau đó sử dụng hàng
kém phẩm chất hoặc mượn hàng của tư thương dán nhãn hàng xuất khẩu rồi xuất qua
cửa khẩu trước sự làm ngơ của nhân viên hải quan vì đã bị mua chuộc hoặc thậm
chí không có một gam hàng nào được xuất khẩu qua cửa khẩu. Sau khi ra khỏi cửa
khẩu, số “nông sản xuất khẩu” này có thể được trở lại Việt Nam theo các con
đường khác nhau để xuất khẩu tiếp.
Sau đó doanh
nghiệp hoàn tất hồ sơ hoàn thuế gồm công văn đề nghị hoàn thuế, bảng kê khai
tổng hợp số thuế đầu vào, bảng kê hàng hoá mua vào, bán ra gửi cơ quan thuế.
Theo thống kê
của tổng cục thuế đến 30/9/2006, Cục thuế các tỉnh thành phố đã nhận được
103.340 bộ hồ sơ xin hoàn thuế với số tiền thuế đề nghị hoàn là 93.054 tỷ đồng.
Kiểm tra hồ sơ tại cơ quan thuế đã loại trừ 9.272 hồ sơ có dấu hiệu sai phạm
với số tiền 1083 tỷ đồng.Với hồ sơ hợp lệ theo quy định, cơ quan thuế xử lý
hoàn cho 16.341 trường hợp với số tiền hoàn thuế là 14.915 tỷ đồng trong đó
hoàn thuế cho hàng xuất khẩu chiếm 80%. Số thuế hoàn cho hàng nông, lâm thủy
sản chiếm 5%-7% tổng số tiền hoàn. Đặc biệt số vụ lừa đảo hoàn thuế không ngừng
tăng lên trong các năm. Nếu như năm 1999, các cơ quan chức năng chỉ phát hiện
được 4 vụ, năm 2000 phát hiện được 17 vụ thì năm 2001 đã phát hiện được 64 vụ
và chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2002 đã phát hiện được 46 vụ nâng tổng số tiền
hoàn thuế VAT bị chiếm đoạt là 500 tỷ đồng. Tính đến tháng 11 năm 2007, số
doanh nghiệp vi phạm trong việc hoàn thuế GTGT là 1940 doanh nghiệp, số tiền
hoàn thuế bị gian lận và có dấu hiệu gian lận là 3322,4 tỷ đồng, ngoài ra vi
phạm về hoá đơn GTGT là 2033 vụ, các vi phạm về hành chính thuế là 3040 tỷ
đồng.Tổng số tiền thu hồi được là 5331,5 tỷ đồng. Tuy nhiên tổng số tiền có dấu
hiệu gian lận của cơ quan điều tra là 192,5 tỷ đồng. Tuy nhiên trong số này có
342,8 tỷ đồng của 122 doanh nghiệp đã phá sản hoặc giám đốc bỏ trốn. Khó có khả
năng thu được. Trong vấn đề này bọn tội phạm đã sử dụng nhiều hình thức tinh vi
để qua mặt cán bộ quản lý. Vào tháng 12/2003, Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương đã
tuyên phạt Trần Văn Thắng, chủ nhiệm Hợp tác xã Việt Thắng thành phố Hải Dương,
án tù chung thân do gian lận trong việc xuất hàng sang Trung Quốc nhằm chiếm
đoạt gần 5 tỷ đồng tiền thuế. Theo nhận định từ tháng 11/2000 đến tháng 3/2001,
Việt Thắng đã gửi 5 lần hồ sơ xin hoàn thuế GTGT 9,2 tỷ đồng. Hồ sơ thể hiện
HTX đã ký 11 hợp đồng xuất sang Trung Quốc 30.000 tấn hàng nông, lâm, hải sản
tổng trị giá 45 tỷ đồng. Khi xác minh cơ quan chức năng phát hiệnhàng thực xuất
chỉ 200 triệu đồng. Trong vụ án này, vợ ông chủ tịch HTX là Phạm Thị Nga tham
gia bằng cách lo đầu ra cho số hàng “ảo”. Bà Nga đã tìm được 14 chữ ký của các
doanh nghiệp Trung Quốc nhập hàng Giám đốc của một doanh nghiệp tư nhân ở Lào
Cai, bà Trần thị Mai Luận cũng liên can do tiếp tay hợp thức hoá chứng từ giả.
Các hoá đơn này thể hiện hàng của Hợp Tác Xã Việt Thắng được vận chuyển sang
Trung Quốc qua cửa khẩu Lào Cai.
Ngoài ra, dù
ai có “thờ ơ với thời cuộc” đến mấy thì cũng không khỏi giật mình xót xa trước
những sự việc: Nguyễn Duy Thiện (28 tuổi) đã thành lập tới 30 công ty ma ở khắp
Nam Bắc phát hành hoá đơn GTGT khống với doanh số thống kê ban đầu lên tới
674,7 tỷ đồng để rút ruột ngân sách Nhà nước gần 35 tỷ đồng; vợ chồng Nguyễn
Thị hoa, Trần Văn Sở ở Thái Bình đã thành lập 12 công ty “ma” để thiết kế đường
dây chiếm đoạt thuế GTGT lên tới 10 tỷ đồng; công ty xuất khẩu I tại Đà Nẵng
thuộc Bộ Thương Mại có trụ sở tại Hà nội móc nối với một số công ty TNHH khác
làm khống hoá đơn xuất khẩu các mặt hàng nông sản sang Trung Quốc để chiếm đoạt
27 tỷ đồng tiền hoàn thuế GTGT, Hoàng Văn Vinh, Cao Hoành Minh, Lục Văn Dê
nguyên là các cán bộ công ty TNHH Kiều
Phương thành phố HCM đã móc nối với một số cán bộ hải quan các cửa khẩu thuộc
tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang lập 37 bộ hồ sơ chứng từ khống xuất khẩu
1.014 tấn hải sản khô với tổng giá trị là 158 tỷ đồng, đồng thời móc nối với 19
doanh nghiệp khác ở thành phố HCM, các tỉnh Long An, Tây Ninh làm phiếu nhập
khống hoá đơn bán hàng cho công ty cơ khí điện máy sau đó làm hồ sơ xin hoàn
thuế. Tháng 7/2001, nhóm người này đã rút 7,5 tỷ đồng hoàn thuế để chia nhau.
Công ty Việt Hải ở Hải Phòng bán hoá đơn khống không có hàng cho 11 đơn vị tại
các tỉnh Hải Dương, Bắc Ninh, Hà Giang, Hà Nội để các doanh nghiệp này lập
chứng từ hoá đơn “rút ruột” Nhà nước tiền hoàn thuế GTGT khoảng 8 tỷ 883 triệu
đồng.
2.3.
Nguyên
nhân của tình trạng gian lận thuế GTGT:
Tình trạng
gian lận thuế GTGT ngày càng có xu hướng tăng nhanh với nhiều hình thức ngày
càng tinh vi để qua mặt các nhà quản lý. Tình trạng này xuất phát từ nhiều
nguyên nhân, có thể là nguyên nhân chủ quan, có thể là nguyên nhân khách quan
nhưng có một số nguyên nhân cơ bản sau:
Thứ nhất, do
chính sách, pháp luật quy định diện được hoàn thuế rộng, cho phép khấu trừ thuế
đầu vào theo tỷ lệ 0% tính theo giá trị hàng hoá mua vào theo bảng kê đối với
nông, lâm, thuỷ sản chưa qua chế biến mua của người không có hoá đơn GTGT;
không quy định việc xác nhận lý lịch tư pháp của người thành lập và quản lý
doanh nghiệp, vì vậy hàng loạt các doanh nghiệp “hữu danh vô thực” ra đời. Đi
kèm với những doanh nghiệp này là hàng vạn hoá đơn khống được phát hành vô tội
vạ để cung cấp cho hoạt động “kinh doanh hoá đơn GTGT”. Sau khi thu được những
“món hời” bất chính, những doanh nghiệp này làm thủ tục giải thể hoặc biến mất.
Thứ hai, do
trình độ quản lý chưa tương xứng với yêu cầu của công tác quản lý, vì vậy các
cơ quan quản lý bị các doanh nghiệp “qua mặt” một cách dễ dàng; thiếu sự phối
hợp chặt chẽ của các cơ quan chức năng với cơ quan thuế; giữa cơ quan thuế với
cơ quan hải quan; giữa cơ quan thuế, cơ quan hải quan với cơ quan công an, biên
phòng, quản lý thị trường…nên không phát hiện được và ngăn chặn kịp thời các
hành vi gian lận.
Thứ ba, do
công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, công chức chưa đuợc
quan tâm đúng mức dẫn tới sự tha hoá biến chất của một bộ phận cán bộ, công
chức như nhận hối lộ tiếp tay bao che cho hành vi gian lận của các doanh
nghiệp.
Thứ tư, do ý
thức pháp luật của đối tượng nộp thuế và nhận thức của người dân về thuế còn
hạn chế, kỷ cương về thuế còn lỏng lẻo. Nhiều doanh nghiệp chỉ vì chạy theo
đồng tiền mà bất chấp pháp luật bất chấp đạo lý, bất chấp kỷ cương thuế miễn
sao thu được nhiều lợi nhuận.
Thứ năm, do áp
dụng cơ chế “tiền thoái hậu kiểm”, cơ chế này được áp dụng nhằm phục vụ chủ
trương đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện thuận lợi về vốn ho các doanh nghiệp
phát triển sản xuất cũng như đề cao tính tự chịu trách nhiệm trước pháp luật
của đối tượng nộp thuế. Nhưng mặt trái của cơ chế này là chi phí quản lý hành
chính thuế sẽ tăng lên nhiều cho việc “hậu kiểm” và đây cũng sẽ là gánh nặng
quá sức cho cán bộ thuế đồng thời gây không ít sức ép cho ngành.
CHƯƠNG 3:
ĐỊNH
HƯỚNG HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT CHỐNG GIAN LẬN THUẾ GTGT
3.1.
Định
hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật:
Xuất phát
từ đòi hỏi của sự phát triển nền KTTT và việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước
ta hiện nay, cũng như đòi hỏi mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế và xu thế toàn
cầu hoá hiện nay, thì việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và cơ chế
đảm bảo thực hiện là một tất yếu.
Bản thân nền
kinh tế thị trường (KTTT) Việt Nam có những đặc thù riêng và những đặc thù này
đã có những tác động quan trọng tới quá trình hình thành, phát triển và hoàn
thiện của pháp luật kinh tế nói chung và pháp luật thuế nói riêng. Vì vậy, hoàn
thiện pháp luật thuế GTGT hiện nay một mặt nhằm đáp ứng những yêu cầu của nền
KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, một mặt nhằm đáp ứng cơ chế tự điều chỉnh của
thương trường khi bản thân nền kinh tế thị trường đã phát triển cũng như đảm bảo tính phù hợp của quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta hiện nay.
Mặt khác, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá thì mục
tiêu bảo hộ và tạo nguồn thu thông qua thuế quan không còn mấy tác dụng, nguồn
thu từ thuế xuất khẩu, nhập khẩu sẽ hạn hẹp dần, trong khi đó khả năng nâng cao
nguồn thu từ thuế trực thu (thuế thu nhập) cũng hết sức hãn hữu, bởi mức thu
nhập của dân cư nước ta rất thấp, nên trước mắt giải pháp khả thi hơn cả là
năng cao vai trò của các thuế gián thu
trong đó vai trò của thuế GTGT là hết sức quan trọng. Hoàn thiện pháp luật thuế
GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện được đặt ra như một tất yếu để bảo đảm tạo
nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
3.1.1. Điều chỉnh pháp luật thuế để phù hợp
hơn với thông lệ quốc tế:
Trong xu
hướng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế với việc tham gia vào các hiệp hội, tổ
chức thương mại quốc tế như hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN), tổ chức
thương mại thế giới (WTO) thì việc hình thành các liên minh thuế quan trọng đòi
hỏi điều chỉnh pháp luật thuế GTGT cũng như cơ chế đảm bảo thực hiện chúng phải
được chuyển đổi phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội đó để tạo điều kiện thuận
lợi chủ động trong việc tham gia phát triển hợp tác quốc tế. Hơn nữa, mặc dù
nước ta hiện nay đang phải chịu sức ép của quá trình cắt giảm thuế nhập khẩu
theo các cam kết cắt giảm thuế quan CEPT/ AFTA, nhưng vẫn phải tạo đà phát
triển kinh tế thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam thích ứng với những biến động
và áp lực cạnh tranh để tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế,
vì lẽ này mà đòi hỏi pháp luật thuế GTGT phải có sự thay đổi cơ bản. Bên cạnh
đó, do tác động toàn cầu hoá quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh
được mở rộng trên nhiều bình diện và sắc thái mới trong việc thành lập các cơ
sở kinh doanh. Khai thác triệt để các lợi ích thông qua các biện pháp chuyển
giá cùng với việc di chuyển linh hoạt các luồng vốn và lao động trên phạm vi
toàn cầu đã làm cho cuộc cạnh tranh về thuế giữa các quốc gia trở nên gay gắt
hơn và kết quả của sự cạnh tranh này đã làm cho hệ thống pháp luật thuế của các
nước trên thế giới có xu hướng hội tụ và phụ thuộc nhau nhiều hơn. Vì vậy, việc
hoàn thiện pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam và cơ chế đảm bảo thực hiện cũng
không thể đứng ngoài vòng xoáy đó.
Mặt khác, xu thế toàn cầu hoá sẽ làm
cho việc thực thi và quản lý thuế ở nước ta trở nên khó khăn hơn do tính chất
phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế xuyên quốc gia phát sinh, khả năng trốn, lậu
thuế trở nên dễ dàng hơn và phạm vi, quy mô rộng lớn hơn, như các công ty xuyên
quốc gia sẽ có cơ hội để khai thác triệt để các lợi thế định giá chuyển giao để
trốn thuế và tính thuế. Cộng thêm các cuộc cạnh tranh và các cuộc chạy đua
trong cạnh tranh qua thuế cùng với nhiều biện pháp kích thích để thu hút dành
lợi thế trong cạnh tranh đem lại những ngoại ứng hoặc là tiêu cực hoặc là tích
cực đối với các nước khác trong điều kiện kinh tế - xã hội này đã đặt ra nhu
cầu ngày càng cao về nhu cầu điều chỉnh pháp luật thuế GTGT đặc biệt là cơ chế
đảm bảo thực hiện thuế GTGT trong đó yếu tố con người được đặt lên hàng đầu; sự
tinh thông về nghiệp vụ và kiến thức của các chuyên gia quản lý thuế không thể
không quan tâm đúng mức và sâu sắc hơn. Bởi bản thân toàn cầu hoá cùng với sự
phát triển của công nghệ thông tin một mặt mở ra những cơ hội hợp tác quốc tế
có hiệu quả trong lĩnh vực thuế một mặt đòi hỏi trình độ quản lý thuế phải vượt
lên một tầm cao mới. Yêu cầu này không thể không gắn liền với việc đào tạo một
đội ngũ chuyên gia thuế có kỹ năng và kiến thức tầm cỡ quốc tế. Đây cũng là yêu
cầu đặt ra trong quá trình hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo
thực hiện.
Như vậy, yêu cầu đặt ra là hoàn thiện
pháp luật thuế GTGT theo hướng đơn giản, ổn định, công bằng, hiệu quả và đáp
ứng xu thế hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay, đồng thời phát huy vai trò đảm
bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước của thuế GTGT trong điều kiện cắt giảm
thuế quan và vai trò điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội của nhà nước theo
hướng khuyến khích phát triển sản xuất đặc biệt khuyến khích hoạt động xuất
khẩu kể cả hàng hoá và dịch vụ, tạo điều kiện cho kinh tế nông nghiệp phát
triển như khuyến khích hoạt động chế biến nông sản, gia công...
3.1.2. Hoàn thiện cơ chế thi hành phù hợp
với sự phát triển của công nghệ thông tin:
Trước hết,
sự phát triển của công nghệ mạng sẽ làm tăng nhanh chóng sự nhất thể hoá các
chức năng kinh doanh của một doanh nghiệp. Vấn đề mạng nội bộ đã trở thành
phương tiện không thể thiếu ở các công ty đa quốc gia trong thời đại này. Do đó
mạng nội bộ mà các nghiệp vụ kinh doanh được nội bộ hoá ở mức cao. Việc này
đồng nghĩa với những khó khăn trong việc xác định chức năng kinh doanh vì vậy
vấn đề này đặt ra những thách thức mới đối với cơ quan thuế cũng như các nhà
làm luật trong việc xác định cơ chế điều tiết thích hợp đối với thuế GTGT.
Sự khai thác lợi thế về những ưu đãi
thuế giữa các quốc gia sẽ làm gay gắt thêm cuộc cạnh tranh về thuế giữa các
quốc gia và đây cũng là vấn đề cần phải tính khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT
cũng như cơ chế đảm bảo thực hiện.
Toàn cầu hoá
với sự trợ giúp của công nghệ thông tin truyền số liệu sẽ làm tăng các hoạt
động đầu tư gián tiếp, các giao dịch ngoại hối và đặc biệt giao dịch thông qua
các phương tiện tài chính phát sinh như các hợp đồng tương lai, quyền lựa chọn
mua bán hoặc chuyển nhượng...Trong thể chế những giao dịch này không chịu thuế
GTGT vì vậy khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT nên quy định đánh thuế hay không
các quy định này và nếu đánh thì đánh thế nào? Quản lý ra sao? Sự ra đời và
phát triển nhanh chóng thương mại điện tử đã đặt ra cho các nhà lập pháp cũng
như các nhà quản lý thuế một bài toán hóc búa trong việc kiểm thoát các giao
dịch thương mại cũng như sự phân biệt giữa các giao dịch thương mại và giao
dịch có thể đánh thuế và những giao dịch phi thương mại. Nếu không giải quyết
được những vấn đề này thì cơ hội tránh thuế và trốn thuế càng lớn. Như vậy, sự
tiến bộ của khoa học và công nghệ thông tin đã và đang đặt ra những thách thức
lớn cho công tác quản lý nhưng chính nó tạo điều kiện để cung cấp những phương
tiện hữu ích cho tiến trình áp dụng luật thuế GTGT ở nước ta hiện nay.
Xuất phát từ những vấn đề đặt ra từ
thực trạng điều chỉnh pháp luật thuế GTGT và những yêu cầu hoàn thiện thuế GTGT
việc hoàn thiện pháp luật thuế GTGT ở nước ta là một tất yếu. Thực tế cho
thấy, sau hơn 9 năm triển khai áp dụng Luật
thuế GTGT những cái có được quá ít so với yêu cầu, tình trạng vi phạm pháp luật để trốn nghĩa vụ
này còn quá nhiều. Bởi vậy thực tế đã chứng minh không một sắc thuế nào hoàn
toàn có ưu điểm mà không có nhược điểm và ngược lại. Vấn đề là ở chỗ phải tìm
kiếm được những giải pháp tạo điều kiện cho sự vận hành “trơn tru” của thuế
GTGT trong điều kiện thực tế của Việt Nam. Vì vậy việc sửa đổi bổ sung luật
thuế GTGT hiện nay được coi là một bước đệm để trong tương lai không xa sẽ cho
ra đời một Luật thuế GTGT hiện đại.
3.1.3. Gắn với việc thực hiện chính sách
thuế:
Pháp luật
thuế GTGT phải ghi nhận đầy đủ các nội dung chủ yếu của việc điều chỉnh pháp
luật thuế, đồng thời phản ánh đúng chuẩn xác và khoa học bản chất của thuế
GTGT, đảm bảo thuế GTGT là loại thuế gián thu mang bản chất liên hoàn và tính
trung lập cao, đánh vào hoạt động chuyển giao hàng hoá và cung cấp dịch vụ được
tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá dịch vụ trong quá trình sản xuất lưu
thông theo phương pháp khấu trừ. Bởi vậy, một trong những tiêu chuẩn hàng đầu
để đánh giá tính quy phạm của một văn bản pháp luật là văn bản đó có phản ánh
đúng bản chất vốn có của sự vật, hiện tượng hay không? Và chỉ khi phản ánh đúng
bản chất của sự vật hiện tượng thì pháp luật mới đủ sức mạnh để điều chỉnh các
quan hệ xã hội cần điều chỉnh.
Hoàn thiện pháp luật thuế GTGT phải
gắn liền và trên cơ sở hoàn thiện chính sách thuế GTGT. Xét về tổng thể, hệ
thống pháp luật về thuế nói chung và pháp luật về thuế GTGT nói riêng có mối
quan hệ hữu cơ với các chính sách thuế, các chính sách kinh tế – tài chính của
nhà nước. Pháp luật về thuế phản ánh, thể hiện và nhằm thực hiện các chính sách
kinh tế – tài chính của nhà nước. Pháp luật về thuế phản ánh, thể hiện và nhằm
thực hiện các chính sách thuế trong đó góp phần bảo đảm các mục tiêu và chức
năng của thuế như bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thực hiện chức năng
điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế thông qua điều tiết thu nhập, điều tiết sản xuất.
Vì vậy, hoàn thiện pháp luật thuế GTGT không thể tách rời và phải trên cơ sở
hoàn thiện chính sách thuế GTGT.
Mở rộng và nâng cao quy mô của luật
thuế GTGT bằng cách đưa một số nội dung mà hiện nay đang được quy định trong
các văn bản hướng dẫn thi hành luật vào Luật thuế GTGT, để đảm bảo nguyên tắc
không có luật thuế thì không có nghĩa vụ thuế, luật thuế là cơ sở pháp lý làm
phát sinh nghĩa vụ thu nộp thuế để phù hợp với thẩm quyền của Quốc hội được quy
định trong hiến pháp cũng như “đảm bảo thực quyền” của Quốc hội trong việc
quyết định chính sách tài chính – tiền tệ quốc gia, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ
thuế đồng thời đáp ứng đòi hỏi của cơ chế điều chính pháp luật thuế GTGT ở nước
ta hiện nay. Nhưng khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT cần tính đến mặt khách
quan luôn tồn tại mâu thuẫn giữa yêu cầu phải điều chỉnh với khả năng thực tế điều
chỉnh của pháp luật.
Hoàn thiện Luật thuế GTGT phải gắn
liền với sự hoàn thiện của cả hệ thống pháp luật đặc biệt là pháp luật thuế
tiêu thụ đặc biệt và pháp luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu. Pháp luật thuế GTGT
là một bộ phận của hệ thống pháp luật thuế và phạm vi đánh thuế GTGT bao hàm cả
hoạt động xuất nhập khẩu và các hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá tiêu thụ
đặc biệt. Vì vậy khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT cũng cần phải quan tâm đúng
mức về vấn đề này để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và sự “bọc lót” lẫn nhau
của cả hệ thống pháp luật thuế.
Diễn đạt các khái niệm kinh tế, tài
chính về thuế bằng ngôn ngữ pháp lý trong các quy định của pháp luật thuế GTGT
mà trong đó sử dụng các định nghĩa pháp lý hết sức cần thiết và đặc biệt phải
tôn trọng đúng mức những khía cạnh pháp lý của thuế GTGT để đảm bảo thực thi
nghĩa vụ thuế GTGT, đồng thời nâng cao giá trị ngăn chặn các vi phạm của pháp
luật thuế GTGT.
3.1.4. Hoàn thiện cơ chế:
Để áp dụng
thuế GTGT một cách có hiệu quả, ngoài việc tiếp tục hoàn thiện Luật thuế GTGT
cần phải không ngừng hoàn thiện cơ chế đảm bảo thực hiện thuế GTGT trên cơ sở
đẩy mạnh cải cách hành chính thuế, cải cách hành chính thuế là một tất yếu
khách quan, bởi cải cách hành chính là yếu tố, là động lực cơ bản thúc đẩy sự
phát triển kinh tế xã hội trong bối cảnh kinh tế hội nhập quốc tế, là công cuộc
đổi mới sâu sắc và toàn diện để xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.
Thứ nhất, cải cách thể
chế hành chính thuế: trong cải cách thể chế hành chính thuế bao gồm cải cách
thể chế pháp luật và cải cách thủ tục hành chính thuế. Cải cách thể chế pháp
luật là cải cách việc xây dựng, ban hành các văn bản pháp quy về thuế của Chính
phủ, của Bộ tài chính. Cụ thể: đổi mới quy trình xây dựng văn bản pháp quy, mở
rộng việc tổ chức nghiên cứu soạn thảo các văn bản pháp quy bằng các nhóm
chuyên gia liên ngành, nghiêm chỉnh thực hiện các quy định chinh của luật ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật. Cải cách thủ tục hành chính thuế là cải
cách thủ tục thực hiện thẩm quyền trong hoạt động hành chính thuế. Hay nói cách
khác, là cải cách trình tự thực hiện mọi hình thức hoạt động của cơ quan thuế
bao gồm trình tự thành lập các cơ quan thuế, trình tự bổ nhiệm, miễn nhiệm,
điều động cán bộ thuế, trình tự lập quy, áp dụng quy phạm để đảm bảo các quyền
chủ thể và xử lý vi phạm, trình tự hoạt động tổ chức, tác nghiệp hành chính.
Thứ hai, cải cách bộ máy
hành chính thuế gồm:
-
Cải
cách mô hình tổ chức bộ máy hành chính thuế
-
Cải
cách sự phân cấp quản lý giữa các cơ quan thuế và sự phân công trong nội bộ
từng cơ quan thuế.
-
Cải
tiến phương thức chỉ đạo, hoạt động, điều hành của tổng cục thuế, cục thuế, chi
cục thuế để nâng cao chất lượng hoạt động đáp ứng những biến động cảu cơ chế
thị trường và quá trình hội nhập quốc tế có nhiều thách thức.
Thứ ba, xây dựng, kiện
toàn đội ngũ cán bộ công chức thuế, trong cải cách hành chính thuế, nếu cải
cách thủ tục hành chính thuế là khâu đột phá thì trọng tâm lại là vấn đề kiện
toàn đội ngũ cán bộ công chức thuế. Bởi vì rằng có thể xây dựng được một hệ
thống thể chế tốt về thuế và thiết kế được mô hình tổ chức bộ máy hành chính
thuế tối ưu nhưnng nếu không có đội ngũ cán bộ công chức thành thạo chuyên môn,
nghiệp vu, tâm huyết với công việc để đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá nền hành
chính thì mọi ý đồ cải cách hành chính thuế cũng không thể trở thành hiện thực
được.
Thứ tư, cải cách chế độ
tiền lương, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các chế độ chính sách đối với cán bộ
công chức thuế nhằm khuyến khích, động viên nâng cao chất lượng thực thi công
việc hành thu.
3.2.
Các
giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện pháp luật thuế GTGT
3.2.1. Cải cách mạnh mẽ công tác thanh tra,
kiểm tra thuế
Kiểm tra,
thanh tra thuế là một trong những chức năng quan trọng của cơ quan thuế và được
quy định trong các luật thuế. Tổng cục thuế
đã có hướng dẫn và ban hành quy trình kiểm tra, thanh tra việc thực hiện
nghĩa vụ thuế của các đối tượng nộp thuế. Trong 2 năm (1999- 2000) chỉ tính
riêng Tổng cục thuế đã kiểm tra được 1.345 doanh nghiệp, lập biên bản xử lý ghi
thu 1.408 tỷ đồng trong đó số thuế ẩu lâu phải truy thu là 398 tỷ đồng. Số
doanh nghiệp bị xử lý hành chính về thuế là 897 đơn vị, chiếm 66,7% tổng số
doanh nghiệp đã kiểm tra.
Tuy nhiên, công tác thanh tra, kiểm tra còn nhiều hạn chế bởi nhiều nguyên nhân
chủ quan và khách quan khác nhau. Vì vậy, phải khắc phục những hạn chế đó bằng
nhiều cách:
Thứ nhất, phải thực hiện tốt cả hai mặt:
thanh tra và kiểm tra đối tượng nộp thuế và thanh tra, kiểm tra nội bộ ngành
thuế.
Thứ hai, để tránh tình trạng chồng chéo trong
kiểm tra, thanh tra thuế hiện nay cần phải có sự thống nhất trong quy định ở các văn bản pháp luật về cơ quan có thẩm
quyền kiểm tra, thanh tra theo hướng chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền kiểm
tra, thanh tra đối tượng nộp thuế về việc thực hiện nghĩa vụ thuế đã được quy
định trong các luật thuế. Đây cũng là thông lệ của nhiều nước trên thế giới.
Thứ ba, cần phân biệt giới hạn thanh tra,
kiểm tra thuế với những tác nghiệp trong nghiệp vụ thuế, tránh gây phiền hà cho
các cơ sở sản xuất kinh doanh.
Thứ tư, củng cố bộ máy, đội ngũ kiểm tra,
thanh tra thuế, nguồn lực phân bổ cho công tác kiểm tra, thanh tra của ngành
thuế cần phải được tăng cường tối thiểu là 30% nguồn lực của ngành thuế phải
được giành cho công tác thanh tra, kiểm tra.
Thứ năm, thực hiện nghiêm túc quy trình, quy
chế thanh tra, kiểm tra thuế đồng thời phải tổ chức giám sát chặt chẽ cán bộ
thanh tra thuế, giám sát từng cuộc thanh tra thuế. Để đảm bảo cho cơ chế tự kê
khai nộp thuế có hiệu quả thì vấn đề thanh tra, kiểm tra cũng cần phải được
tăng cường trong đó mục tiêu của công tác thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện
các hành vi gian lận thuế và các hành vi gian lận trong thương mại để trốn
thuế, lậu thuế cũng như giảm xuống mức thấp nhất sự chênh lệch giữa số thuế đối
tượng tự kê khai và số thuế phải nộp theo luật thuế. Đặc biệt, cần chú trọng
đẩy mạnh kiểm tra hoàn thuế đối với hàng hoá xuất khẩu qua đường biên giới đất
liền sang Trung Quốc, tăng cường biện pháp quản lý chặt chẽ việc xác nhận hàng
hóa xuất khẩu, chặn đứng hiện tượng quay vòng hàng hoá xuất khẩu, xuất khẩu
khống.
3.2.2. Hiện đại công tác quản lý thuế bằng
công cụ tin học
Trong công
cuộc cải cách hành chính thuế, quản lý thuế bằng công cụ tin học được đặt ra
như một tất yếu và đây là một bước đột phá lớn của ngành thuế. Hiện nay, toàn
ngành có hơn 5.500 cán bộ tin học trong đó có hơn 150 cán bộ chuyên tin có khả
năng tiếp nhận công nghệ thông tin để triển khai thực hiện thuế có hiệu quả ở
các địa phương. Ngành thuế đã thực hiện nối mạng nội bộ ở tất cả 61 tỉnh, thành
và hơn 50 chi cục thuế lớn trong cả nước với hơn 4.050 máy tính và hơn 100 máy
chủ tạo nên một mạng lưới thông tin thống nhất ở các tỉnh. Các chương trình
phần mềm được tổng cục thuế thống nhất triển khai chính xác, an toàn và hiệu
quả. Các chương trình quản lý mã số thuế, quản lý thuế, quản lý ấn chỉ hai cấp
cục và chi cục…. Để có thể phát huy những kết quả đã đạt được và khắc phục
những tồn tại của công tác công nghệ tin học nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác
quản lý thuế cần phải quan tâm đến các vấn đề sau:
Thứ nhất, ưu tiên đầu tư
và phát triển các hệ thống thông tin phục vụ chuyên ngành như các chương trình
quản lý mã số đối tượng nộp thuế, quản lý hoá đơn, tính thuế, lập bộ và theo
dõi nợ đọng, quyết toán thuế.
Thứ hai, ưu tiên cung
cấp trang thiết bị cho các địa phương có địa giới hành chính rộng, có số thu
lớn nhằm giảm bớt công việc thủ công, phát triển tin học một cách đồng bộ đến
tất cả các địa phương, xây dựng hệ cơ sở dữ liệu đồng nhất, phát triển chương
trình ứng dụng, từng bước phát huy hiệu quả hệ thống mạng máy tính ở từng cục
thuế, chi cục thuế.
Thứ ba, cần chú trọng
đến công tác đào tạo cán bộ tin học, phải tiến hành đào tạo thường xuyên và
chất lượng đào tạo phải đặt lên hàng đầu nên đào tạo theo nhiều trình độ khác
nhau như đào tạo các cán bộ theo trình độ cao để có thể quản lý các dự án tin
học lớn trong ngành đạo tạo các cán bộ quản lý và triển khai ứng dụng, đạo tạo
các cán bộ sử dụng chương trình ứng dụng cho các cán bộ không chuyên hiện đang
làm việc ở các phòng ban khác.
Thứ tư, thực hiện nối
mạng giữa cơ quan thuế với đối tượng nộp thuế và các cơ quan quản lý chức năng
khác để luôn có đầy đủ những thông tin và dữ liệu cần thiết giữa chủ thể quản
lý và đối tượng bị quản lý phục vụ cho công tác quản lý thuế.
3.2.3. Hoàn thiện chế độ quản lý chứng từ,
hoá đơn GTGT:
Hoá đơn
GTGT là căn cứ pháp lý để xác định cụ thể phạm vi, mức độ nghĩa vụ thuế GTGT,
như xác định số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, số thuế GTGT phải nộp vào ngân
sách nhà nước và số thuế GTGT được hoàn với giá trị pháp lý riêng có của hoá
đơn GTGT, nên không phải bất cứ ai cũng có quyền sử dụng hoá đơn GTGT. Người
viết hoá đơn là người cung cấp hàng hoá, dịch vụ với điều kiện những người cung
cấp hàng hoá, dịch vụ này có quyền được thể hiện số thuế GTGT trên hóa đơn,
những nghiệp vụ không nằm trong phạm vi đánh thuế GTGT hoặc được miễn trừ thuế
GTGT thì người cung cấp dịch vụ, hàng hoá không được viết trên hoá đơn GTGT,
nếu khi thực hiện nghĩa vụ này mà viết trên hoá đơn số tiền thuế GTGT cho khách
hàng thì người cung cấp hàng hoá, dịch vụ (người nộp thuế) vi phạm pháp luật
thuế GTGT. Còn xét về phương diện quản lý nhà nước, hoá đơn GTGT là văn bản
quản lý của nhà nước. Để thực hiện sự quản lý của nhà nước trên tất cả các mặt
hoạt động của xã hội, nhà nước phải sử dụng các hình thức quản lý nhất định mà
hình thức quản lý cơ bản chủ yếu mang tính chất pháp lý đó là ra quyết định
quản lý hay nói cách khác là ra văn bản quản lý. Để giảm bớt các hành vi vi phạm chế độ quản
lý, sử dụng chứng từ, hoá đơn ở nước ta hiện nay thì cần tăng cường một số biện
pháp:
Thứ nhất, khuyến khích
các doanh nghiệp sử dụng hoá đơn tự in là việc đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám
sát loại hoá đơn này chính vì vậy trách nhiệm của bộ tài chính trong việc quản
lý của công chức thuế đòi hỏi cao hơn, phương tiện quản lý đòi hỏi hiện đại
hơn.
Thứ hai, nhà nước cần
công bố giá trị hoá đơn bán hàng đối với người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ,
đồng thời khuyến khích các biện pháp kinh tế cho người tiêu dùng nhận hoá đơn
khi mua hàng.
3.3.
Một
số biện pháp chống gian lận thuế GTGT trong thời gian tới:
3.3.1. Các giải pháp tiếp tục hoàn thiện Luật
thuế GTGT
3.3.1.1.
Sửa
đổi, bổ sung một số quy định về đối tượng chịu thuế GTGT
Về đối
tượng chịu thuế GTGT, đã được quy định trong luật thuế là sự kiện pháp lý làm
phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT vì thế việc quy định trực tiếp “hàng hoá, dịch vụ
dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế
GTGT” vừa không đúng về phương diện lý luận vừa gặp nhiều khó khăn vướng mắc
trong quá trình áp dụng thuế GTGT. Chính vì vậy, cần sửa đổi một số thuật ngữ,
sửa đổi bổ sung một số vấn đề được xác định trong Luật thuế GTGT. Ví dụ như có
thể dùng thuật ngữ “người chịu thuế GTGT” thay cho thuật ngữ “đối tượng chịu
thuế GTGT” để tránh được sự nhầm lẫn giữa người chịu thuế GTGT và đối tượng
chịu thuế GTGT. Hoặc để đảm bảo thuế GTGT là thuế tiêu dùng đánh trên bình diện
rộng, có tính liên hoàn và tập trung kinh tế cao, pháp luật thuế GTGT cần phải
thu hẹp diện miễn trừ thuế GTGT bằng
cách chuyển một số “hàng hoá, dịch vụ” hiện nay nằm trong diện “ không chịu
thuế GTGT” sang diện đối tượng chịu thuế GTGT hoặc loại bỏ một số hàng hoá,
dịch vụ đang nằm trong phạm vi này, tức là mở rộng đối tượng thuộc dạng chịu
thuế GTGT.
Để đảm bảo pháp luật thuế GTGT ngày
càng chặt chẽ, tránh gây hiểu lầm các thuật ngữ được quy định trong Luật thuế
GTGT, một số kiến nghị đã được đưa ra nhằm hoàn thiện pháp luật thuế GTGT như
sau:
Không quy định trực tiếp “hàng hoá,
dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu
thuế GTGT” nên điều 2 luật thuế GTGT cần sửa đổi là “đối tượng chịu thuế GTGT là
các đối tượng hoạt động chuyển giao hàng hoá, cung cấp dịch vụ và phải trả tiền
của một hoạt động kinh tế trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”
Điều 4 cần sửa đổi là: “đối tượng được
miễn trừ thuế GTGT”
Đưa khoản 3,
khoản 20, điều 4 ra khỏi diện miễn trừ thuế GTGT.
Để loại bỏ,
thu hẹp bớt diện đối tượng nộp thuế GTGT, có kiến nghị sửa đổi điều 3 luật thuế
GTGT “tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và nhập
khẩu hàng hóa, dịch vụ là đối tượng nộp thuế GTGT”. Ngoài ra, Luật thuế GTGT
cần bổ sung thêm một điều luật về phạm vi lãnh thổ thuế GTGT trong đó xác định
rõ nguyên tắc nơi đánh thuế đối với hoạt động chuyển giao tài sản, và nơi đánh
thuế đối với hoạt động cung cấp dịch vụ.
Về đối tượng nộp thuế GTGT, hiện nay
pháp luật thuế GTGT quy định hai phương pháp tính thuế: phương pháp khấu trừ và
phương pháp trực tiếp, quy định khấu trừ thuế đầu vào theo tỷ lệ ấn định, quy
định hai loại hoá đơn (hoá đơn bán hàng, hoá đơn GTGT) là xuất phát từ việc
pháp luật thuế GTGT quá rộng, đặc biệt trong đó đối tượng nộp thuế GTGT là hộ
kinh doanh cá thể chiếm một tỷ trọng qúa lớn. Vì vậy, pháp luật cần thu hẹp
diện đối tượng nộp thuế GTGT bằng cách quy định ngưỡng chịu thuế GTGT đối với
các hộ kinh doanh cá thể. Những đối tượng nào không đạt được mức doanh số này
sẽ chuyển sang áp dụng thuế khoán ấn định trên doanh thu, còn những hộ kinh
doanh cá thể khác bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT theo phương pháp
khấu trừ.
3.3.1.2.
Hoàn
thiện các quy định về căn cứ tính thuế và thuế suất, phương pháp tính thuế
Về giá tính thuế, pháp luật thuế GTGT
cần nhất thể hoá giá tính thuế là giá chưa có thuế GTGT, đồng thời cần quy định
rõ nếu giá ghi trên hóa đơn mà nhỏ hơn giá thị trường thì căn cứ vào gía thị
trường để tính. Trường hợp bán phá giá để trốn thuế cần có sự can thiệp của nhà
nước.
Về mặt lý luận, thuế suất thuế GTGT
càng thấp thì càng ít gây ra sự vi phạm từ phía người tiêu dùng và doanh
nghiệp. Ngoài ra nếu áp dụng một thuế suất thống nhất sẽ khắc phục được nguy cơ
gian lận, trốn thuế và tránh thuế sinh ra từ việc nhập nhằng về thuế suất vì
nếu chỉ có một mức thuế suất cao và mức thuế suất thấp khác nhau. Để đảm bảo
mức thuế suất đối với một hàng hoá, dịch vụ được thống nhất, thì pháp luật thuế
GTGT phải nhất thể hoá tiêu chí phân định hàng hoá, dịch vụ trong biểu thuế
hoặc dựa trên tính năng, công dụng của hàng hoá, dịch vụ. Trên cơ sở đó có kiến
nghị, hiện nay khoản 1, điều 7 luật thuế GTGT quy định: “đối với hàng hoá, dịch
vụ là giá bán chưa có thuế GTGT” sự quy định này không rõ ràng nên sửa thành
“đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất kinh doanh bán ra là giá bán chưa
có thuế GTGT”.Vì vậy, xuất phát từ thực tế kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay
thì pháp luật thuế GTGT cần lựa chọn hệ thống thuế suất phù hợp hơn.
Về
phương pháp tính thuế, qua thực tiễn áp dụng thuế GTGT cho thấy phương pháp
tính thuế trực tiếp trên GTGT không còn mấy tác dụng mà còn phản ánh sai lệch
nghĩa vụ thuế GTGT cũng như bản chất của thuế GTGT và đưa đến nhiều hậu quả
phát sinh tiêu cực khác. Vì vậy, tất yếu pháp luật thuế GTGT sửa đổi chỉ cần
quy định một phương pháp duy nhất đó là phương pháp khấu trừ thuế GTGT. Để tính
toán dễ dàng, giảm bớt sai lệch trong việc phản ánh nghĩa vụ thuế GTGT cũng như
bản chất thuế GTGT thì chỉ nên quy định một phương pháp tính thuế đó là phương
pháp khấu trừ, vì vậy phải bỏ khoản 2, điều 9 Luật thuế GTGT, tức là bỏ phương
pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT. Đồng thời quy định phương pháp quy đổi thuế
suất GTGT thành thuế suất theo giá thanh toán để đảm bảo tất cả số thuế GTGT
phát sinh đều được phản ánh trên hoá đơn, có đầy đủ căn cứ pháp lý cho hạch
toán và khấu trừ.
3.3.1.3.
Cần
sửa đổi các quy định về khấu trừ thuế, hoàn thuế GTGT
Về khấu
trừ thuế GTGT, cần sửa đổi và làm rõ các vấn đề sau:
Thứ nhất, để đảm bảo
những khía cạnh của việc khấu trừ thuế cũng như bản chất liên hoàn của thuế
GTGT cần chuẩn hoá những quy định về nguyên tắc khấu trừ thuế, cụ thể:
-
Chỉ
khấu trừ thuế đầu vào cho các hoạt động chịu thuế GTGT
-
Có
thu mới khấu trừ, không khấu trừ khống
-
Mua
hàng hóa, dịch vụ không có hoá đơn, chứng từ hoặc có hoá đơn nhưng không hợp
pháp thì không được khấu trừ.
Thứ hai, quy định rõ nguyên tắc xác định số
tiền được khấu trừ, số tiền có quyền khấu trừ là số thuế đầu vào tính trên một
sản phẩm hàng hoá, dịch vụ mua vào và còn tuỳ thuộc vào nghiệp vụ đó được khấu
trừ toàn bộ hay một phần.
Thứ ba, quy định cụ thể
các căn cứ xác định số thuế được khấu trừ, cụ thể đó là hoá đơn GTGT khi mua
hàng, biên lại nộp thuế. Trong trường hợp, nhập khẩu hoặc phiếu xuất kho, trong
trường hợp hàng hoá, dịch vụ doanh nghiệp tự cung cấp.
Thứ tư, để đảm bảo quyền
đổi lại thuế GTGT của doanh nghiệp cần quy định hình thức khấu trừ vào số thuế
phải nộp vào kỳ sau trong trường hợp nghiệp vụ thuế GTGT bị huỷ bỏ hoặc không
được trả tiền tức thuế GTGT đã trả vào lúc diễn ra hành động bán hàng và cung
cấp dịchvụ nhưng sau đó bị huỷ bỏ hoặc không được trả tiền thì doanh nghiệp có
quyền xin lại (đòi lại) số thuế GTGT đã nộp.
Về hoàn thuế GTGT, để hạn chế bớt việc
lợi dụng cơ chế hoàn thuế nhằm chiếm đoạt tiền của ngân sách nhà nước thì tất
cả các trường hợp hoàn thuế GTGT phải được quy định chính xác cụ thể trong Luật
thuế GTGT vì vậy, kiến nghị sửa đổi, bổ sung điều 16 của Luật thuế GTGT về hoàn
thuế như sau: “việc hoàn thuế GTGT chỉ áp dụng trong các trường hợp:
-
Xuất
khẩu hàng hoá, dịch vụ
-
Cơ
sở kinh doanh mới thành lập, đầu tư mới tài sản cố định
Bổ sung “hoàn thuế GTGT trong trường
hợp xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ được thực hiện theo tháng hoặc theo các chuyến
hàng mà không hạn chế số tiền không được khấu trừ. Còn các trường hợp khác được
hoàn theo quý hoặc theo năm”
Quy định “thời
hạn giải quyết hoàn thuế áp dụng với các chứng từ phát sinh không quá 2 năm kể
từ khi có chứng từ đề nghị hoàn thuế”.
Các
cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên tục trở lên có luỹ kế số dư đầu vào được
khấu trừ lớn hơn số thuế đầu ra thì nên quy định ngưỡng nhất định mới được hoàn
thuế, nếu dưới ngưỡng đó thì tiếp tục chuyển cho kỳ sau để khấu trừ, để tiết
kiệm chi phí, thời gian và công sức của cơ quan thuế và đối tượng nộp thuế. Đưa
trường hợp hoàn thuế GTGT đối với các nguồn vốn sử dụng vốn ODA, đối với các tổ
chức sử dụng tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại của tổ chức, cá
nhân nước ngoài mua hàng hoá, dịch vụ tại Việt Nam ra khỏi diện hoàn thuế GTGT.
Đối với hoàn thuế xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ thì quy định hoàn theo tháng hoặc
theo chuyến hàng mà không hạn chế số tiền chưa được khấu trừ là bao nhiêu như
quy định hiện nay. Còn các trường hợp khác có thể theo quý hoặc theo năm. Ngoài
ra, thời hạn được giải quyết hoàn thuế cũng chỉ nên quy định áp dụng đối với
các chứng từ phát sinh không quá hai năm kể từ khi có chứng từ đề nghị hoàn
thuế.
3.3.2. Sửa đổi, bổ sung một số quy định về
đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế GTGT
Về đăng ký
thuế GTGT, từng bước văn minh hoá, hiện đại hoá cơ chế thực hiện nghĩa vụ thuế
GTGT. Pháp luật thuế GTGT cần sửa đổi, bổ sung một số nội dung về việc đăng ký
thuế để khắc phục những vướng mắc.
Một là, lập quy định theo mã tỉnh có thể không đảm bảo
tính ổn định về trạng thái hoạt động sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp
cũng như sự phức tạp trong quản lý.
Hai là, mã tình trạng
nộp thuế GTGT (NO) không đảm bảo nguyên tắc mỗi đối tượng nộp thuế chỉ được cấp
một mã số thuế duy nhất trong suốt quá trình hoạt động từ khi thành lập đến khi
chấm dứt hoạt động.
Về kê khai nộp thuế GTGT, tính tự giác
thực hiện nghĩa vụ thuế của đối tượng là yếu tố then chốt cơ bản quyết định sự
thành công lớn của quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế. Vì vậy, pháp luật
điều chỉnh thuế nói chung và thuế GTGT nói riêng cần có những quy định nâng cao
khả năng tự giác của đối tượng nộp thuế. Đặc biệt với sự phát triển ngày càng
đa dạng của các đối tượng nộp thuế thì sự tự giác của đối tượng nộp thuế càng
có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Chính sự tự kê khai và nộp thuế theo kê khai của
mình thay cho cơ quan tính thuế và ra thông báo nộp thuế đã chuyển trách nhiệm
pháp lý cho đối tượng nộp thuế về những thông tin trong tờ khai thuế của họ với
những quy định xử phạt phù hợp sẽ góp phần tăng cường ý thức tuân thủ nghiêm
luật thuế.
Về quyết toán thuế GTGT, khi thực hiện
cơ chế tự kê khai, tự tính thuế nộp vào ngân sách nhà nước thì việc quyết toán
thuế trở nên hết sức quan trọng và nó không mang thủ tục hành chính như trước
đây nữa, vì vậy cần phải có sự quy định chặt chẽ về vấn đề này đặc biệt trong
trường hợp quyết toán không theo định kỳ hàng năm như khi có quyết định phá
sản, giải thể, chia, tách, sát nhập, hợp nhất, chuyển đổi hoặc giao bán doanh
nghiệp…
o
KẾT
LUẬN
Qua thực
tế áp dụng thuế GTGT ở nước ta trong những năm qua cho thấy pháp luật thuế GTGT
ở nước ta về cơ bản đã đáp ứng được những yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội
phát sinh, đã hoàn thiện về cả các cấu trúc nội dung và hình thức. Các quy định
của thuế GTGT phản ánh đúng những nội dung, yêu cầu của chính sách tài chính
nói chung và chính sách thuế nói riêng cũng như thể hiện được mục tiêu, định
hướng cơ bản trong chủ trương đường lối phát triển kinh tế của Đảng.
Trong quá trình xây dựng, triển khai Luật thuế GTGT ở
nước ta thể hiện sự nhận thức đúng đắn, tính phức tạp của thuế GTGT, nhất là cách
tính, kê khai và thu nộp thuế GTGT, nên bước đầu về cơ bản đã xác định được một
cơ chế điều chỉnh thích hợp trong bối cảnh những điều kiện để phát huy hiệu quả
của sắc thuế này là chưa thực sự đầy đủ. Song quá trình xây dựng cũng như triển
khai thực hiện đã có nhiều vấn đề vướng mắc phát sinh, vì lẽ đó mà các văn bản
pháp luật thuế GTGT phải được sửa đổi, bổ sung liên tục để đáp ứng những yêu
cầu điều chỉnh các vấn đề phát sinh.
Qua quá trình triển khai thuế GTGT nhiều vấn đề nảy sinh
buộc các nhà làm luật cũng như các cơ quan chức năng phải đau đầu. Sự thiếu sót
trong luật cũng như trong quản lý khiến những kẻ cơ hội bắt chấp sự trừng phạt
của pháp luật để tìm cách “lách luật” vi phạm pháp luật mặc dù các cơ quan ban
ngành đã nỗ lực giảm bớt tình trạng gian lận thuế GTGT, nhưng tình trạng gian
lận thuế GTGT ở nước ta trong những năm qua không giảm thậm chí còn tăng với
hình thức đa dạng hơn, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn. Chính những thực tế đó
đòi hỏi phải có một bộ luật hoàn chỉnh hơn, một bộ máy quản lý làm việc có hiệu
quả hơn để ngăn chặn tình trạng gian lận thuế GTGT trong xã hội hiện nay. Đây
cũng là yêu cầu đòi hỏi của xã hội hiện nay để xây dựng một xã hội công bằng và
văn minh.
o
o
o
o
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
A-VĂN BẢN PHÁP LUẬT
1. Hiến
pháp nước Cộng hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992( đã được sửa đổi bổ sung
năm 2001). Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội;
2. Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 1999. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội;
3. Luật thuế GTGT (được sửa đổi bổ sung năm 2005). Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội;
4. Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2003
của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT và Luật sửa đổi bổ sung
một số điều của Luật thuế GTGT;
5. Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12 tháng 12 năm 2003
của Bộ Tài Chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng
12 năm 2003 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT và Luật sửa
đổi bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT;
6. Thông tư số 127/2004/TT-BTC ngày 27 tháng 12 năm 2004
của Bộ Tài Chính sửa đổi Thông tư số 127/2003/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2003
và thông tư số 84/2004/TT-BTC ngày 18/8/2004 của Bộ Tài Chính về mẫu tờ khai và
hướng dẫn lập tờ khai thuế GTGT;
7. Quyết định số
110/2002/QĐ-BTC về việc sửa đổi, bổ sung, quản lý, sử dụng hoá đơn bán hàng,
ban hành kèm theo quyết định số 885/1998/QĐ-BTC ngày 16/7/98 của Bộ trưởng Bộ
tài chính.
B- SÁCH, BÁO, TẠP CHÍ
1. Giáo
trình Luật tài chính Việt Nam, Khoa Luật, Nxb. Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội.
2001;
2. Giáo trình Luật thuế
Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Tư pháp, Hà Nội. 2005;
3. Giáo trình Luật thuế thực hành, Nxb.Thống
kê, Hà Nội. 2001;
4. Thời báo kinh tế Việt Nam số 41 năm 2006 –
2007;
5. Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 247;
6. Báo nhân dân ngày 23/05/2007;
7. Báo an ninh thế giới số 58 ngày 15/08/2007;
8. Tạp chí tài chính số 2 năm 2007;
9. Tạp chí thuế nhà nước số 12/2007;
10. Website của Tổng cục thuế và Bộ tài chính;
11. Tài liệu hội nghị sơ kết một năm thực hiện
các luật thuế mới ngày 24/04/2000;
12. Tài liệu tập huấn chương trình cải cách
và hiện đại hóa ngành thuế đến năm 2010, Tổng cục thuế, Bộ Tài Chính, Hà Nội.
3-2005;
13. Báo cáo tình hình và kết quả thực hiện
các chính sách thuế mới hai năm từ năm 2005 đến năm 2007;
14.Vnexpress.net.
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………………
CHƯƠNG 1:..... MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ GTGT VÀ LUẬT THUẾ GTGT 3
1.1. Những vấn đề cơ bản về thuế GTGT:.....................................
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm thuế GTGT:.....................................
1.1.2. Vai trò của thuế GTGT.....................................................
1.1.3. Lịch sử hình thành luật thuế GTGT ở Việt Nam:.................
1.2. Nội dung của luật thuế GTGT:............................................
1.2.1. Đối tượng nộp thuế:..........................................................
1.2.2. Đối tượng chịu thuế..........................................................
1.2.3. Căn cứ tính thuế:..............................................................
1.2.4. Cách tính thuế:................................................................
1.2.4.1. Phương pháp khấu trừ thuế:...........................................
1.2.4.2. Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng.................
1.2.5. Quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế trong cơ chế thi hành
Luật thuế GTGT:
1.2.5.1. Đăng ký thuế và cấp mã số thuế.......................................
1.2.5.2. Kê khai thuế GTGT.........................................................
1.2.5.3. Nộp thuế GTGT.............................................................
1.2.5.4. Quyết toán thuế.............................................................
1.2.6. Khấu trừ và hoàn thuế GTGT..............................................
1.2.6.1. Khấu trừ thuế GTGT......................................................
1.2.6.2. Hoàn thuế GTGT............................................................
1.2.7. Hóa đơn, chứng từ:..............................................................
1.3. Một số nhận xét về thực trạng thi hành luật thuế GTGT:...........
1.3.1. Những ưu điểm:...................................................................
1.3.2. Những vấn đề tồn tại:............................................................
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THI HÀNH LUẬT THUẾ GTGT Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ CÁC HÀNH VI VI
PHẠM.
2.1. Thực trạng thi hành Luật thuế GTGT ở nước ta trong thời
gian qua:.
2.2. Các hành vi gian lận thuế GTGT trong các doanh nghiệp ở
Việt Nam hiện nay:...
2.2.1. Mua bán, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp:..........................
2.2.1.1. Sử dụng hóa đơn giả:..................................................
2.2.1.2. Hành vi mua bán hóa đơn:.........................................................
2.2.1.3. Khai thấp giá trị thực của hang hóa trên hóa đơn GTGT:..............
2.2.2. Cố tình kê khai sai để chiếm đoạt tiền hoàn thuế:.............................
2.3. Nguyên nhân của tình trạng gian lận thuế GTGT:.............................
CHƯƠNG 3:..... ĐỊNH HƯỚNG HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT CHỐNG GIAN LẬN THUẾ GTGT
3.1. Định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật:.....................
3.1.1. Điều chỉnh pháp luật thuế để phù hợp hơn với thông lệ quốc
tế:.........
3.1.2. Hoàn thiện cơ chế thi hành phù hợp với sự phát triển của
công nghệ thông tin:.....
3.1.3. Gắn với việc thực hiện chính sách thuế:..................................
3.1.4. Hoàn thiện cơ chế:............................................................
3.2. Các giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện pháp
luật thuế GTGT.......
3.2.1. Cải cách mạnh mẽ công tác thanh tra, kiểm tra thuế......................
3.2.2. Hiện đại công tác quản lý thuế bằng công cụ tin học............
3.2.3. Hoàn thiện chế độ quản lý chứng từ, hoá đơn GTGT:..............
3.3. Một số biện pháp chống gian lận thuế GTGT trong thời gian
tới:........
3.3.1. Các giải pháp tiếp tục hoàn thiện luật thuế GTGT...........................
3.3.1.1. Sửa đổi, bổ sung một số quy định về đối tượng chịu thuế
GTGT.........
3.3.1.2. Hoàn thiện các quy định về căn cứ tính thuế và thuế suất,
phương pháp tính thuế
3.3.1.3. Cần sửa đổi các quy định về khấu trừ thuế, hoàn thuế GTGT.............
3.3.2. Sửa đổi, bổ sung một số quy định về đăng ký, kê khai, nộp
thuế, quyết toán thuế GTGT
KẾT
LUẬN.............................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................
--------------------------------------------------------------------------------
Thông tin chi tiết Quý khách hàng vui lòng liên hệ với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW (SUN LAW FIRM)
Địa chỉ: Số 47, Phố Chính Kinh, Phường Thanh Xuân Trung, Quận Thanh
Xuân, thành phố Hà Nội.
Tel: 04-39916057 Fax: 04-39916058
SĐT TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ: & 043- 9916057
SĐT YÊU CẦU DỊCH VỤ PHÁP LUẬT: 0986 11 66 05 & 0986386648
Email: contact@sunlaw.com.vn & guicauhoitructuyen@sunlaw.com.vn
Website: www.sunlaw.com.vn &
www.lawdata.com.vn
--------------------------------------------------------------------------------