Dự thảo luật doanh nghiệp "thống nhất" - Vốn pháp định đối với nhà đầu tư nước ngoài?
Vốn pháp định là gì? Vốn pháp định là mức vốn do pháp luật quy định bắt buộc, doanh nghiệp luôn phải có khi thành lập và trong suốt quá trình kinh doanh vốn sở hữu của doanh nghiệp không được thấp hơn vốn pháp định.
Vốn pháp định là gì? Vốn pháp định là mức vốn do
pháp luật quy định bắt buộc, doanh nghiệp luôn phải có khi thành lập và trong
suốt quá trình kinh doanh vốn sở hữu của doanh nghiệp không được thấp hơn vốn pháp định.
Luật DNNN, Luật ĐTNN tại Việt Nam, Luật DNTN, Luật
Công ty (1990) đều quy định mức vốn pháp định cho từng ngành nghề kinh doanh. Nếu
kinh doanh nhiều nghề phải có mức vốn pháp định bằng tổng số vốn pháp định của
từng ngành nghề.
Vốn pháp định được đặt ra nhằm bảo vệ lợi ích của
chủ nợ, nếu mức vốn pháp định cao thì lợi ích của chủ nợ được boả vệ tốt hơn nhưng
lại cản trở đến việc đầu tư. Những người có trình độ quản lý tốt, có ý tưởng
kinh doanh nhưng có ít vốn thì không thành lập được doanh nghiệp để thực hiện s
tưởng đầu tư của họ. Nếu đặt ra vốn pháp định thấp (ví dụ 1 USD) thì mất ý nghĩa
là công cụ bảo vệ lợi ích của chủ nợ.
Khi quyết định mức vốn pháp định thì phải có cơ
chế giám sát mức vốn pháp định của cơ quan nhà nước; nếu chỉ gửi tiền vào ngân
hàng thương mại để thành lập DN thì sau khi có doanh nghiệp họ sẽ rút tiền từ
ngân hàng để trả nợ, như vậy số vốn pháp định đó đã không có trên thực thế và sự
xác nhận của ngân hàng trở nên vô nghĩa hoặc thậm chí là sự tiếp tay cho những
người có ý lừa đảo. Vấn đề đặt ra là cơ quan nào giám sát và xác nhận mức vốn
pháp định để bảo vệ lợi ích cho chủ nợ như vai trò của người bảo lãnh. Mặt
khác, căn cứ vào đâu để định ra mức vốn pháp định đối với từng ngành nghề? Hầu
hết các chuyên gia đều cho là không có căn
cứ khoa học để xác định ra mức vốn pháp định đối với ngành nghề? Lấy gì để giải
thích khi quy định kinh doanh thương mại phải có mức vốn pháp định là 50 triệu?
Lấy giá trị loại hàng nào để quy định mức giá 50 triệu này? 50 triệu bảo vệ lợi
ích cho mấy chủ nợ khi doanh nghiệp vay hàng trăm triệu để mua hàng? Như vậy chủ
nợ sẽ mắc sai lầm và chịu thua thiệt nếu coi vốn pháp định là một căn cứ để cho
vay.
Cái mà chủ nợ cần giám sát để bảo vệ lợi ích cho
mình là vốn sở hữu của DN, là các giá trị thực cỉa DN tại mọi thời điểm. Giá trị
thực của DN có thể biến động hàng ngày, có thể cao hơn, có thể thấp hơn mức vốn
pháp định, khả năng thanh toán nợ không phụ thuộc vào mức vốn pháp định mà phụ
thuộc vào vốn sở hữu của DN được phản ánh voà tình hình tài chính, bảng cân đối
kế toán. Các chủ nợ thường không quan tâm đến mức vốn pháp định hoặc vốn điều lệ
để xem xét khi cho vay. Cái mà học quan tâm là vốn sở hữu của DN. Muốn có được
thông tin chính xác về vốn sở hữu của DN phải có hệ thống thông tin phòng ngừa
rủi ro và hệ thống đăng ký giao dịch đảm bảo. Một chủ nợ phải có khả năng biết
rõ con nợ của họ đã vay ở những ngân hàng nào, đã nợ những ai, đã cầm cố thế chấp
những tài sản noà từ đó mới có quyết định cho vay. Vì vậy trên thực tế mức vốn
pháp định do nhà nước đặt ra đã không đảm bảo được vai trò bảo vệ chủ nợ nhu
nhà nước mong muốn mà ngược lại nếu quy định mức vón pháp định có thể gây nên một
số tác hại sau đây:
·
Tăng
thêm chi phí và thủ tục phiền hà cho nhà đầu tư, chi phí gửi tiền, công chứng;
·
Tạo
điều kiện cho người có ý định lừa đảo lợi dụng để thực hiện ý đồ lừa đảo;
·
Gây
nên những nhầm lẫn cho các nhà đầu tư, cho
khách hàng, cho chủ nợ ít kinh nghiệm, gây nên thiệt hại cho lợi ích của
họ;
·
Gây
lãng phí khi tiền phải gửi và ngân hàng để xác định mức vốn pháp định mà không được
mang ra kinh doanh.
Trên thực tế có một số vấn đề đặc biệt cần quy định
vốn pháp định như là một số vốn bảo vệ lơi ích của khách hàng, như là một loại
bảo hiểm trách nhiệm Như vậy, việc quản lý của Nhà nước phải đảm bảo nguyên tắc
cân bằng lợi ích của khách hàng, chủ nợ và DN.Để thực hiện nguyên tắc cân bằng
lợi ích, Nhà nước có thể quy định bắt buộc kinh doanh một số nghề nào đó phải
có bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.
Tuy nhiên, một số nghề đặc biệt liên quan đến lợi
ích cộng đồng pháp luật vẫn còn có quy định mức vốn tối thiểu mới được hoạt động.
Đó là các ngành nghề tín dụng, bảo lãnh chứng khoán, sổ xố, bảo hiểm: Vì không
thể để một doanh nghiệp tự do huy động vốn từ dân cư mà không có công cụ nào kiểm
soát năng lực thanh toán, bài học đổ vỡ tín dụng năm 1990 đã cho thấy bài học đau
sót khi không có công cụ quản lý tín dụng.Cũng tương tự như vây, khi kinh doanh
sổ xố, ít nhất nhà nước phải quản lý được số vốn của DN bằng cơ chế tiền thưởng
vì nếu không sẽ gây thiệt hại cho người mua sổ xố trúng thưởng mà không được trả
thưởng. Khi một công ty kinh doanh nghề bảo lãnh chứng khoán thì phải có mức vốn
nhất định để làm tài sản thế chấp cho hoạt động bảo lãnh của mình. Người mua bảo
hiểm sẽ có nguy cơ chịu rủi ro khi DN kinh doanh bảo hiểm không có mức vốn để đảm
bảo khả năng thanh toán khoản tiền bảo hiểm cho người mua bảo hiểm.
Như
vậy, thực tế cuộc sống đòi hỏi Nhà nước có các quy định pháp luật hợp lý để đảm
bảo cân bắng lợi ích của tất cả các chủ thể trong xã hội.
Xuất phát từ những lý lẽ trên, Luật DN 1999 đã
không quy định mức vốn pháp định đối với DN, mà để việc quy định mức vốn pháp định cho các luật chuyên ngành
hoặc các pháp lệnh. Thực tế chứng minh quy định của Luật DN là hợp lý, đã tạo điều
kiện cho những người nghèo có cơ hội thực hiện được ý tưởng đầu tư của mình, đã
cảnh báo cho các chủ nợ để học tự tìm kiếm giải pháp đánh giá an toàn của hoản
tín dụng và tránh được việc cơ quan nhà nước tuỳ ý ban hành mức vốn pháp định.
Một ví dụ về quy định mức vốn pháp định bất hợp lý đã được điều chỉnh, đó là trường
hợp quy định vốn pháp định đối với nghề kinh doanh vàng do không hợp lý , không
thực hiện được nên đã bãi bỏ. Bởi vì khi quy định mức vốn pháp định thì: “Thủ
trưởng cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về vốn pháp định, thủ trưởng cơ
quan xác nhận vốn pháp định cũng liên đới chịu trách nhiệm về tính chính xác của
số vốn được xác nhận khi thành lập DN” (Khoản 3 Điều 5. NĐ 03/2000/NĐ-CP). Quy định
này đã đặt các cơ quan nhà nước phải chịu trách nhiệm về việc quy định mức vốn
pháp định nên không thể tuỳ tiện quy định mức vốn pháp định.
Từ thực tế 5 năm kinh nghiệm thi hành Luật DN đã
chứng tỏ quy định trên là hợp lý. Vậy thì vì lẽ gì mà Dự thảo Luật DN thống nhất
lại quy định người nước ngoài thành lập DN ở Việt Nam phải có vốn thối thiểu là
100.000 USD. Không nên bắt người nước ngoài chấp hành thứ mà dân ta đã không thừa
nhận! Quy định trên tạo sự không bình đẳng giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu
tư Việt Nam,
vi phạm nguyên tắc của WTO. Vì vậy nên bỏ
những quy định mang tính phân biệt đối xử trong Dự thảo Luật DN thống nhất.
Luật
gia Cao Bá Khoát
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------