sunlaw.com.vn
Đang tải dữ liệu...

  Điều chỉnh
Đừng lạm dụng thuật ngữ “Đồng thời”
Trong luật pháp nước ta đã và đang xuất hiện cụm từ “đồng thời”. Có lẽ cụm từ này xuất hiện lần đầu tiên tại “Luật đầu tư nước ngoài 1987”. Khi đó, nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư vào Việt Nam phải được SCCI cấp giấy phép đầu tư. Để được cấp GPĐT, nhà đầu tư phải vượt qua sự thẩm định của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Nhưng bù lại, họ được cái lợi là không phải xin phép bất kỳ loại giấy nào khác ngoài GPĐT. Có lẽ cái “đồng thời” này xét về mặt nào đó “có lợi” cho nhà đầu tư vì họ chỉ vất vả một lần.

Những năm sau này, nhất là khi Luật Doanh nghiệp 1999 đặt nền móng cho cơ chế quản lý mới của Nhà nước đối với DN thì cụm từ “đồng thời” này được áp dụng khá phổ biến, mà ít người để ý đến những rắc rối của nó trong quá trình thực thi pháp luật. Có thể kể ra một số luật đã sử dụng cụm từ “đồng thời” như sau:

Điều 65 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 quy định: Giấy phép thành lập và hoạt động đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Khoản 2 Điều 59 Luật chứng khoán 2006 quy định: Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấp Giấy phép thành lập và hoạt động cho công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ. Giấy phép này đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Khoản 1 Điều 50 Luật đầu tư 2005 quy định: Nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam phải có dự án đầu tư và làm thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra đầu tư tại cơ quan nhà nước quản lý đầu tư để được cấp GCNĐT. GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD

Có nhiều câu hỏi cần làm rõ ở đây: Đầu tư và kinh doanh có gì khác nhau? Lĩnh vực đầu tư và ngành nghề kinh doanh có gì khác nhau? Ngành nghề kinh doanh có điều kiện và lĩnh vực đầu tư có điều kiện có gì khác nhau không? Lĩnh vực cấm đầu tư và ngành nghề cấm kinh doanh có gì khác nhau?...

Còn nhớ, khi thảo luận tại các cuộc hội thảo Luật đầu tư 2005, các chuyên gia đã cảnh báo nguy cơ của cụm từ “đồng thời”. Họ cho rằng việc lai ghép này là khiên cưỡng và khi Luật đi vào thực tế sẽ gặp khó khăn. Có ý kiến cho rằng, sự lai ghép này giống như ghép tạng khác nhóm máu vì bản chất của giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và giấy chứng nhận đầu tư là khác nhau. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh xác lập địa vị pháp lý của chủ thể kinh doanh, tức là doanh nghiệp, trong khi giấy chứng nhận đầu tư chỉ xác lập tính hợp pháp của một hành vi kinh doanh của doanh nghiệp. Giấy chứng nhận đầu tư gắn với một dự án, còn giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh gắn với một doanh nghiệp, mà doanh nghiệp có thể có nhiều dự án. Cấp giấy chứng nhận đầu tư đồng thời với giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có nghĩa là đã đồng nhất một dự án với một doanh nghiệp.

Với thực tế đang xảy ra hiện nay thì có thể hiểu giấy phép hoạt động đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do các cơ quan chủ quản cấp có hai giá trị: giá trị thứ nhất là nó bảo đảm việc hoạt động của doanh nghiệp là hợp pháp và giá trị thứ hai là nó xác nhận tư cách pháp nhân cho một doanh nghiệp. Chúng ta không tài nào hiểu nổi tại sao một giấy phép hoạt động lại có thể có quyền năng này trong khi doanh nghiệp đó chưa được đăng ký kinh doanh. Việc dùng chữ đồng thời ở đây quả là một công đôi việc, vừa cấp phép hoạt động cho doanh nghiệp, vừa tiếm quyền của cơ quan đăng ký kinh doanh. Hậu quả của việc này là một tương lai có thể dễ dàng dự báo được, đó là sự chồng chéo trong vấn đề quản lý doanh nghiệp. Không biết rằng một doanh nghiệp đã được thành lập theo Luật doanh nghiệp, sau đó lại được cấp giấy phép hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm sẽ do cơ quan nào quản lý: Bộ Kế hoạch và đầu tư hay Bộ tài chính?

Một ví dụ khác nữa để làm rõ hơn sự rắc rối mà hai chữ “đồng thời” này mang lại đó là: Tỉnh này cấp GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD, doanh nghiệp sang tỉnh khác lập chi nhánh thì không được chấp nhận. Lý do là doanh nghiệp đã không thực hiện việc ĐKKD theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Cơ sở pháp lý mà cơ quan ĐKKD viện dẫn là Khoản 3 Điều 50 Luật Đầu tư: Nhà đầu tư trong nước có dự án đầu tư  gắn với việc thành lập tổ chức kinh tế thì thực hiện đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật doanh nghiệp, pháp luật có liên quan và thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định của Luật này. Hậu quả là doanh nghiệp bị trả hồ sơ về làm lại. Khi doanh nghiệp về tỉnh đã cấp GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD thì tỉnh trả lời là đã thực hiện đúng thủ tục đầu tư theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 và các Khoản 3, 4 Điều 41 Nghị định 108/2006/NĐ-CP.

Để giải quyết triệt để những rắc rối do việc lạm dụng cụm từ “đồng thời” mang lại, chúng ta cần phải có những sửa đổi hợp lý mang tính lâu dài, đặc biệt là Luật DN và Luật  đầu tư. Cụ thể như sau:

Sửa Luật Đầu tư và Nghị định 108 bởi vì GCNĐT không thể đồng thời là GCNĐKKD vì bản chất pháp lý của hai giấy này là khác nhau. Hơn thế nữa trình tự, thủ tục cấp GCNĐT và GCNĐKKD là khác nhau. Thủ tục cấp GCNĐT thực hiện theo quy định của Luật Đầu tưNghị định 108/2006/NĐ-CP, còn trình tự thủ tục cấp GCNĐKKD thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệpNghị định 88/2006/NĐ-CP. Một vướng mắc khác là cơ quan ĐKKD có quyền thu hồi GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD hay không? Nếu được thu hồi thì dường như là không đúng vì cơ quan ĐKKD sao lại có quyền thu hồi cả GCNĐT? Còn nếu không được thu hồi thì thử hỏi Luật Doanh nghiệp còn có ý nghĩa gì? Ngoài ra, nếu doanh nghiệp có GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD muốn thay đổi ĐKKD liệu cơ quan ĐKKD có chấp nhận hay không khi mà doanh nghiệp không thực hiện ĐKKD theo trình tự, thủ tục của Luật Doanh nghiệp?

Trong trường hợp không sửa Luật Đầu tư và Nghị định 108 thì phải thống nhất cơ quan ĐKKD và cơ quan cấp GCNĐT vào một cơ quan chung lấy tên là cơ quan đăng ký doanh nghiệp cùng phục vụ cho lợi ích của doanh nghiệp. Thực hiện nguyên tắc mọi doanh nghiệp phải ĐKKD theo Luật Doanh nghiệp để xác lập tư cách pháp nhân cho doanh nghiệp rồi mới thực hiện cấp GCNĐT cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp chỉ được cấp GCNĐT sau khi có tư cách pháp nhân. Thực hiện nguyên tắc này vừa đảm bảo lợi ích pháp lý lâu dài cho doanh nghiệp, vừa thể hiện được tính thống nhất và thuận tiện trong việc quản lý doanh nghiệp của các cơ quan nhà nước.

Đối với Luật DN, nên quy định cụ thể Luật DN là cơ sở duy nhất quy định việc đăng ký kinh doanh của DN. Sau đó, doanh nghiệp muốn kinh doanh ngành nghề nào thì sẽ chịu sự điều chỉnh của những văn bản pháp luật liên quan tới các ngành nghề đó.

Làm được những điều trên sẽ tránh được mọi rắc rối về đầu tư hiện nay cũng như giải quyết được tính thiếu đồng bộ trong việc quản lý doanh nghiệp. Ngoài ra còn tạo tiền lệ để giải quyết dứt điểm tình trạng gắn GCNĐKKD với các loại giấy phép khác như: Giấy phép hoạt động kinh doanh bảo hiểm đồng thời là GCNĐKKD…. Sẽ là rất nguy hiểm khi mà Luật Doanh nghiệp bị “né tránh”, không được tôn trọng! Rõ là Khoản 2 Điều 3 Luật Doanh nghiệp đã tạo ra sự tuỳ tiện của các Luật chuyên ngành. Có lẽ cần nghiên cứu thống nhất áp dụng quy tắc: đã kinh doanh trước tiên  phải đăng ký kinh doanh, sau đó cấp phép ngành nghề gì thì cấp.

Luật gia Cao Bá Khoát

Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn Doanh nghiệp K và Cộng sự

(SUNLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm  hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:

TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua
Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn 
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------
Số lượt đọc 579
Ý kiến bạn đọc (3)
GỬI Ý KIẾN VỀ BÀI VIẾT
Bài đọc nhiều nhất
Hỗ trợ trực tuyến

TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ:
1900 6816


YÊU CẦU DỊCH VỤ TƯ VẤN:
1900 6816

Luật sư: Lê Minh Trường
Tư vấn Đều Chỉnh Giấy Phép Đầu Tư
ĐT: 1900 6816

CÔNG TY TƯ VẤN LUẬT SUNLAW (SUN LAW FIRM)
Địa chỉ  :  Số 120A4, ngõ 129, đường Nguyễn Trãi, Q Thanh Xuân, TP Hà Nội
E-mail   :  contact@sunlaw.com.vn     
W
ebsite :  http://www.sunlaw.com.vn   &   http://www.lawdata.vn
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT (24/7): 19006816
Chịu trách nhiệm về nội dung: Ông Lê Minh Trường - Luật sư điều hành
Ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin từ website này(© Copyright 2009)

Online: 254
Pageview: 3359392