FDI vào Việt Nam năm 2010: Bối cảnh và những động thái mới
Năm 2010, thế giới dần phục hồi trong xu hướng gia tăng gánh nặng nợ nần, thúc đẩy toàn cầu hoá, tái cấu trúc và cạnh tranh toàn diện hơn.
I/. Bối cảnh quốc tế chung năm 2010 và khuynh hướng mới trong dòng FDI quốc tế
Cùng với sự tăng trưởng liên tiếp 3 quý (kể từ quý
III, IV/2009 và quý I/2010 đến nay) sau 4 kỳ liên tục suy giảm trước đó
của kinh tế Mỹ, năm 2010, nền kinh tế thế giới sẽ phục hồi nhanh hơn
theo hình chữ V như dự báo của ADB và có thể đạt mức tăng trưởng chung
3,9% trong năm 2010 (sau khi suy giảm 0,8% trong năm 2009) như Quỹ Tiền
tệ quốc tế (IMF) dự báo. Ở đa số các nước, thường duy trì song song 2 xu
hướng: Vừa nới lỏng thận trọng, vừa thắt chặt vừa phải chính sách tài
chính – tiền tệ, khuyến khích tiêu dùng và tăng cường tạo thuận lợi,
cũng như lòng tin cho đầu tư khu vực tư nhân; đồng thời, thúc đẩy quá
trình toàn cầu hóa kinh tế đi vào chiều sâu, song song với tạo bứt phá
mới cho quá trình tái cấu trúc nền kinh tế theo định hướng ưu tiên phát
triển các ngành liên quan đến “kinh tế sạch”, “kinh tế mạng internet” và
“kinh tế môi trường”. Trên phạm vi toàn cầu, tính đa nguyên của các
đồng ngoại tệ mạnh được tô đậm và mở rộng hơn, cùng với xu hướng giảm
dần thế mạnh của đồng USD. Bên cạnh đó, sẽ gia tăng cạnh tranh và căng
thẳng quốc tế cùng với xu hướng chạy đua vũ trang và va chạm lợi ích
song phương, đa phương, thậm chí mang tính khu vực, diễn ra cả trên đất
liền, trên không, trên biển và trên mạng internet, về các nguồn tài
nguyên truyền thống và tài nguyên phi truyền thống, như thông tin. Những
vấn đề về dầu thô, khí đốt, nước sạch, di dân, biến đổi khí hậu, cũng
như khủng bố và bất ổn chính trị sẽ gia tăng áp lực… Đặc biệt, sự căng
thẳng của vấn đề nợ công và tín dụng xấu có thể tạo nên hiệu ứng lan tỏa
toàn cầu, gắn với hệ quả các gói kích cầu và tình trạng phổ biến về
thâm hụt ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2010. Nhiều quốc gia sẽ gặp khó
khăn trong nỗ lực trả nợ. Mỹ, Nhật và hầu hết các nước phát triển đều là
những Nhà nước – con nợ khổng lồ với chỉ số tín nhiệm không ổn định,
thậm chí có nguy cơ tụt hạng. Theo Tạp chí BusinessWeek số tháng 1/2010,
trong năm 2009, tỷ lệ nợ/GDP của Iceland là 310%; của Nhật Bản 227%; Hi
Lạp 124%; Italy 120,1%; Mỹ 93,6%; Ấn Độ 88,9%; Bồ Đào Nha 84,6%; Đức
84,5% và Pháp 82,6%. Hiện tại, Tây Ban Nha có khoản nợ công chiếm 54%
tổng sản phẩm quốc nội (lên tới 225 tỷ euro trong năm 2010 – tương đương
với giá trị của nền kinh tế Hi Lạp), trong khi con số của Hi Lạp và Bồ
Đào Nha lần lượt là 120% GDP và 80% GDP. Cộng đồng quốc tế đang và có
thể phải tung ra khoản cứu trợ ngày càng lớn hơn để giúp các nước – con
nợ (có thể lên tới 90-150 tỷ euro cho Hi Lạp, 40 tỷ euro cho Bồ Đào Nha
và 350 tỷ euro cho Tây Ban Nha). Có thể nói, quả bom nợ nần đang treo lơ
lửng, có nguy cơ gây những bất ổn khó lường và trở thành vũ khí gây áp
lực chính sách mới đối với nhiều quốc gia và cả nền kinh tế thế giới…
Năm 2010, dòng FDI thế giới cũng có xu hướng
phục hồi, nhưng có sự chuyển dịch mới về cơ cấu, tăng cường đổ vào các
quốc gia mới nổi và củng cố hơn vai trò động lực chủ đạo thúc đẩy kinh
tế thế giới phục hồi của các nước này.
Theo đánh giá của Tạp chí The Economist (Anh), cũng
như Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên hiệp quốc (Unctad), sau đỉnh
điểm đạt tới 2.080 tỷ USD của năm 2007, dòng FDI thế giới đã giảm 17%
trong năm 2008 (còn 1.720 tỷ USD) và tiếp tục giảm 41% (còn 1.000 tỷ
USD) trong năm 2009. Nhưng sự đảo chiều của dòng FDI thế giới đã được
ghi nhận trong năm 2010, với dự báo dòng vốn này sẽ tăng trưởng chậm
theo sự phục hồi kinh tế toàn cầu, với mức bình quân 2,5% GDP toàn cầu
trong giai đoạn 2010 – 2014. Thậm chí, đến năm 2014, dòng FDI toàn cầu
sẽ vẫn thấp hơn so với mức đỉnh điểm của năm 2007.
Các quốc gia mới nổi sẽ đóng vai trò chủ đạo thúc đẩy
kinh tế thế giới phục hồi trong năm 2010 và sự gia tăng dòng FDI đổ vào
các nước này càng góp thêm xung lực tích cực cho động thái mới đó. Năm
2008, trong khi dòng FDI vào các nước phát triển giảm 1/3, thì FDI vào
các nước đang nổi lại tăng 11%. Năm 2009, lần đầu tiên các nước mới nổi
thu hút FDI nhiều hơn các nước phát triển, với các con số tương ứng là
khoảng 532 tỷ USD, so với khoảng 488 tỷ USD. Dù vậy, FDI vào các thị
trường đang nổi dự báo giảm từ mức 4% GDP xuống còn 3% GDP của các nước
này trong giai đoạn 2010 – 2014. Xu hướng mới của dòng FDI thế giới
trong năm 2009 và 2010 là hệ quả tổng hợp của việc trầm lắng các giao
dịch mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở các nước phát triển ( từng chiếm
80% số vụ mua bán và sáp nhập doanh nghiệp xuyên quốc gia trên thế giới
năm 2008); sự chuyển hướng của các nhà đầu tư quốc tế trước sức hấp dẫn
của các thị trường mới nổi cả về môi trường và cơ hội kinh doanh… Ngân
hàng Deutsche Bank của Đức ngày 17/3/2010 công bố Báo cáo điều tra hàng
năm về các hoạt động đầu tư vốn cho biết, châu Á (trừ Nhật Bản) sẽ là
khu vực có biểu hiện xuất sắc nhất trong năm 2010, còn Trung Quốc sẽ là
quốc gia biểu hiện tốt nhất trong khu vực này. Hãng tư vấn quốc tế A.T.
Kearney về Chỉ số niềm tin FDI (FDI Confidence Index) cũng đã xếp loại
Top 10 điểm đến hấp dẫn nhất thế giới của vốn FDI trong năm 2010 lần
lượt là: Trung Quốc, Mỹ, ÊËn Àöå, Brazil, Germany, Ba Lan, Australia.
Mexico, Canada, Anh…
Bối cảnh mới và các xu hướng mới nói trên đang đặt ra yêu cầu chính sách mới cả cấp quốc gia và quốc tế.
Theo đó, yêu cầu hàng đầu vẫn là cải hiện môi trường
đầu tư theo hướng thông thoáng hơn và gia tăng kiểm soát an toàn vĩ mô
của nhà nước. Đặc biệt, cả các tổ chức lẫn các chính phủ cần có những
đột phá trong cải tổ khu vực tài chính -ngân hàng nhằm tăng trách nhiệm
và hiệu quả của các định chế tài chính, giảm nguy cơ bất ổn định trong
tương lai và làm cho khu vực này linh hoạt hơn, quản lý tốt hơn dòng vốn
đang tái xuất hiện. Dự án cải tổ ngân hàng của Mỹ đang được thúc đẩy
trong đầu quý II/2010 là theo hướng đó. Đồng thời, các yêu cầu và cơ chế
về sự phối hợp điều hành kinh tế đa phương trở nên phổ biến và linh
hoạt hơn, tầm ảnh hưởng của các tổ chức kinh tế phi chính phủ cũng sẽ
được mở rộng hơn…
II/. Việt Nam năm 2010 – Sự cải thiện dòng FDI cùng với niềm tin đang trở lại
Nhiều tổ chức tài chính, chuyên gia kinh tế nước
ngoài nhận định, năm 2010 nguồn vốn FDI vào Việt Nam có nhiều triển vọng
sáng sủa, gắn với sự gia tăng lòng tin và cơ hội kinh doanh mới của các
dự án FDI.
Đứng ở vị trí thứ 12 trong xếp hạng chung Chỉ số niềm
tin FDI, Việt Nam được báo cáo của A.T. Kearney xếp ở vị trí thứ 93 về
mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh (Ease of Doing Business
Ranking). Trong số các nước Đông Nam Á lọt vào Top 25 của xếp hạng Chỉ
số niềm tin FDI 2010, Việt Nam đứng trên Indonesia (vị trí 21), Malaysia
(vị trí 20) và Singapore (vị trí 24).
Mới đây, Tập đoàn tài chính đầu tư Goldman Sachs (Hoa
Kỳ) đã xếp Việt Nam nằm trong nhóm 11 nước (N-11) có tốc độ tăng trưởng
nhanh nhất thế giới trong năm 2010, mở ra những cơ hội cho các nhà đầu
tư và là địa chỉ đầu tư tốt cho các nhà đầu tư thế giới trong các năm
tiếp theo, do gắn với các lợi thế về số dân lớn và đang tăng nhanh (Việt
Nam là nước đông dân thứ 13 trên thế giới với 86 triệu dân và 65% dân
số ở độ tuổi dưới 35); khả năng sản xuất hàng tiêu dùng và tiềm lực tiêu
dùng của người dân; nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú như dầu mỏ
và các nguyên liệu quý, cùng với tiềm lực lớn về tăng trưởng kinh doanh
và tăng trưởng tiêu dùng khác…
Cơ quan Thương mại và đầu tư Vương quốc Anh dựa trên
khảo sát hơn 500 quan chức cao cấp của các công ty từ gần 20 ngành kinh
doanh khác nhau, cũng khẳng định, nếu không tính tới nhóm BRIC (Brazil,
Nga, Ấn Độ, Trung Quốc), thì Việt Nam hấp dẫn nhất trong hai năm liên
tục trong số 15 nước đang trỗi dậy, được xếp theo thứ tự gồm có: Việt
Nam, Tiểu vương quốc Ảrập Thống nhất, Mexico, Nam Phi, Malaysia,
Indonesia, Singapore, Thổ Nhĩ Kỳ, Philippines, Saudi Arabia, Ukraine và
Ba Lan.
Ông Horst F.Geicke, Chủ tịch Hội đồng quản trị
VinaCapital Group, nói: “Năm 2010 và những năm tiếp theo, Việt Nam vẫn
rất hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài. Việc FDI vào Việt Nam trong
năm 2009 giảm không phản ánh thái độ của nhà đầu tư nước ngoài vào thị
trường này, vì bản thân các tập đoàn trên thế giới cũng gặp rất nhiều
khó khăn trong cơn bão tài chính vừa qua. Trong khi đó, Chính phủ Việt
Nam rất ưu ái, tạo nhiều điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài. Đây là
yếu tố quan trọng giúp Việt Nam thu hút đầu tư trong những năm tới”.
Theo ông Geicke, các lĩnh vực thu hút FDI vào Việt Nam phát triển mạnh
trong năm tới gồm: dịch vụ y tế, sản xuất hàng tiêu dùng, dịch vụ tài
chính, ngành năng lượng, đặc biệt là năng lượng sạch than thiện với môi
trường, ngành công nghệ cao.
Ông Yip Hoong Mun, Trưởng đại diện Capital Land
Holding tại Việt Nam, đánh giá môi trường kinh doanh Việt Nam cao hơn
các nước khác. Nếu xét theo thang điểm 10, Việt Nam đạt điểm 7-8, và
khẳng định “Chúng tôi đã quyết định đầu tư thêm vào Việt Nam trong năm
2010. Chúng tôi cũng nhìn nhận dòng vốn FDI vào Việt Nam trong năm 2010
sẽ cao hơn nhiều so với năm 2009”.
Những tháng đầu năm 2010, Văn phòng Tổ chức Xúc tiến
Thương mại Nhật Bản (Jetro) tại TP.HCM đón tiếp số lượng các nhà đầu tư
nước này đến tìm hiểu cơ hội kinh doanh ở Việt Nam tăng đột biến. Năm
2009, Nhật Bản xếp thứ 9 trong 10 nước có vốn đầu tư lớn nhất vào Việt
Nam với 77 dự án cấp mới, tổng vốn hơn 138 triệu USD; riêng vốn đầu tư
tăng thêm lên tới 234 triệu USD.
Trên thực tế, FDI vào Việt Nam năm 2010 đang có
những động thái tích cực mới, với sự cải thiện khá rõ về quy mô vốn đăng
ký/dự án, cơ cấu vốn đăng ký và mức giải ngân thực tế…
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, giải ngân vốn FDI
đạt khoảng 900 triệu USD trong tháng 4, nâng tổng số vốn FDI giải ngân
trong 4 tháng đầu năm 2010 lên 3,4 tỷ USD, tăng tới 36% so với cùng kỳ
năm 2009. Trung bình, giải ngân vốn FDI đạt khoảng 850 triệu USD/tháng.
Đây là mức khá cao và tương đương giải ngân vốn FDI giai đoạn trước suy
thoái kinh tế (năm 2009 Việt Nam thu hút FDI đạt 21,48 tỷ USD, bằng
24,6% so với năm 2008, nhưng trong 2 năm 2008-2009, vốn FDI đăng ký và
tăng thêm khoảng 85,5 tỷ USD, vượt mức 83,1 tỷ USD của cả 20 năm trước
đó. Trong năm 2009, có 839 dự án FDI đăng ký cấp mới với số vốn đạt 16,3
tỷ USD – tương ứng giảm 46,1% số dự án và 75,4% về vốn so với năm 2008 –
và số lượt dự án tăng vốn đạt 215 lượt, với số vốn đạt 5,1 tỷ USD, giảm
không đáng kể so với năm 2008; còn số vốn thực hiện đạt ở mức khoảng 10
tỷ USD, giảm 13% so với năm 2008. Theo đó, khoảng cách giữa vốn đăng ký
và vốn thực hiện đã giảm hơn so với năm trước. Tỷ lệ giữa vốn đăng ký
và vốn thực hiện năm 2007 là 37,56%, năm 2008 giảm xuống còn 16%, thì
năm 2009 đã tăng lên 46,55%). Trong tổng số vốn đăng ký mới tính từ
1/1/2010 – 20/4/2010 là 5,9 tỷ USD (tương đương 74,3% so với cùng kỳ năm 2009), thì có 5,6 tỷ USD vốn của 263 dự án đăng
ký mới, tuy giảm 19,6% về số dự án, nhưng tăng 58,5% về vốn cấp mới so
với cùng kỳ năm 2009. Ngoài ra, có tới 92 lượt dự án đang triển khai xin
tăng vốn 325 triệu USD. Nhiều dự án chậm trễ triển khai vì tác động của
khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng được các nhà đầu tư cam kết khởi
động ngay đầu năm nay, như: dự án Trung tâm Tài chính Việt Nam
(TP.HCM) có tổng vốn lên tới 930 triệu USD này do Berjaya Việt Nam làm
chủ đầu tư; dự án du lịch Saigon Atlantis Hotel 4,1 tỉ USD (Bà Rịa –
Vũng Tàu) của Mỹ; Lĩnh vực bán lẻ ở thị trường Việt Nam được các nhà đầu
tư nước ngoài quan tâm đặc biệt. Ông Tham Tuck Choy, Tổng giám đốc
Parkson Việt Nam cho hay, kết quả kinh doanh của hệ thống Parkson tại
Việt Nam trong năm 2009 là tốt nhất trong số những nước mà tập đoàn này
đầu tư, với tăng trưởng doanh thu đạt 30%/năm, so với con số đó chỉ từ
10 – 15% mà công ty này thu được ở Malaysia, Trung Quốc… “Kết quả đó
khiến chúng tôi tự tin hơn khi quyết định đầu tư thêm những dự án mới.
Trung tâm Thương mại (TTTM) Parkson thứ tư mới khai trương tại TP.HCM
hồi cuối tháng 12/2009 và là TTTM thứ 6 ở Việt Nam chỉ trong vòng 5 năm.
Năm 2010, Parkson sẽ tiếp tục đầu tư hai TTTM tại Hà Nội và một ở Đà
Nẵng, để đến năm 2015 sẽ có khoảng 15 – 16 TTTM Parkson tại thị trường
Việt Nam. Trên thực tế, nếu thuận lợi hơn trong việc tìm kiếm mặt bằng,
con số sẽ không dừng lại ở đó”… Trong 4 tháng, cả nước có 31/ 63 tỉnh,
thành thu hút được vốn FDI, trong đó dẫn đầu là Quảng Ninh với hơn 2,1
tỷ USD (38,3% tổng vốn đăng ký), tiếp theo là Nghệ An, Bà Rịa – Vũng
Tàu, TP. HCM, Quảng Ngãi và Hà Tĩnh. Trong 31 quốc gia, vùng lãnh thổ
đầu tư vào Việt Nam 4 tháng đầu năm nay, các vị trí đầu bảng đã có sự
thay đổi cả về đối tác đầu tư và lượng vốn đăng ký. Từ chỗ không có đối
tác nào đạt tổng vốn đăng ký đầu tư quá 1 tỷ USD tại báo cáo tháng
trước, đến nay đã có 3 đối tác vượt chỉ tiêu này: Hà Lan chỉ thêm 1 dự
án cấp mới trong tháng đã thế chỗ Hoa Kỳ giành vị trí “quán quân”, với
trên 2,15 tỷ USD vốn đăng ký. Nhật Bản từ vị trí thứ 8 đã lên thứ nhì,
với 1,1 tỷ USD vốn đăng ký, Hoa Kỳ đứng thứ 3 với 1,02 tỷ USD… (Hoa Kỳ
từng là nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam với số vốn đăng ký 9,8 tỷ USD,
chiếm 45,6% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam năm 2009), Hàn Quốc, Quần đảo
Virgin (Anh), Singapore…
Trong năm 2008, đầu tư trực tiếp nước ngoài tập trung
chủ yếu vào ngành công nghiệp, đạt 912 dự án cấp mới với 35,6 tỷ USD
(chiếm 58,6% và 53,4% tổng số dự án và vốn cấp mới), trong đó ngành công
nghiệp chế biến đạt mức cao nhất với 764 dự án cấp mới và 35 tỷ USD
(chiếm 49% tổng số dự án và 52,7% tổng số vốn cấp mới). Bước sang năm
2009, dòng vốn tập trung vào các ngành dịch vụ, đặc biệt là kinh doanh
bất động sản và lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống. Số dự án cấp mới
ngành dịch vụ năm 2009 đạt 498 dự án với 13,2 tỷ USD (tương ứng chiếm
59,3% và 81,2% tổng số dự án cấp mới và vốn FDI), trong khi ngành công
nghiệp chỉ đạt 325 dự án với 3,0 tỷ USD (tương ứng chiếm 38,7% và
18,3%). Còn trong năm 2010, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Việt Nam sẽ chọn
lọc để hướng dòng vốn FDI vào những lĩnh vực quan trọng, ưu tiên, như
công nghiệp phụ trợ, phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân
lực, chế biến nông sản, dịch vụ có giá trị gia tăng cao, ngành sản xuất
tiết kiệm năng lượng và các ngành có tỷ trọng xuất khẩu lớn… Theo Tổng
cục Thống kê, tính chung quý I/2010, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
đạt 14 tỷ đô la Mỹ, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm 2009, trong đó, kim
ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI đạt hơn 8 tỷ đô la Mỹ, tăng
29,3%, nhập khẩu khoảng 7,1 tỷ đô la Mỹ. Còn nếu không kể dầu thô, trong
4 tháng đầu năm 2010, khối các doanh nghiệp FDI xuất khẩu 4,13 tỷ USD,
tăng 35,7% so với cùng kỳ 2009 và nhập siêu khoảng 60 triệu USD…
Về triển vọng, có nhiều cơ sở thực tế thế giới và
trong nước để tin rằng thu hút FDI năm 2010 sẽ cao hơn mức tăng 10% so
với năm 2009 mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư đặt ra. Nhưng cả trước mắt và
trung hạn, Việt Nam vẫn cần chủ động có những giải pháp đồng bộ và hiệu
quả thích ứng nhằm khắc phục những tồn tại và hệ lụy như: sự mất cân đối
trong đầu tư ở các ngành nghề, vùng lãnh thổ; tình trạng ô nhiễm môi
trường, phá vỡ quy hoạch ngành, đe dọa an ninh năng lượng, gia tăng đầu
cơ trên thị trường bất động sản và sự bất ổn trên thị trường vốn; việc
chuyển giao và sử dụng công nghệ lạc hậu; lạm dụng những ưu đãi về thuế,
đất đai… Đặc biệt, Việt Nam cần khắc phục căn bản những nút thắt gây
nghẽn mạch và lệch hướng dòng vốn FDI thu hút, nổi bật là tình trạng thủ
tục hành chính rườm rà, quan liêu; hạ tầng cơ sở và nguồn nhân lực yếu
kém, chi phí đầu vào cao; công tác xúc tiến đầu tư thiếu tính chuyên
nghiệp.
SOURCE: TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ 11 – 2010 - TS. NGUYỄN MINH PHONG
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------