Giải pháp nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh vàng
Hai năm trở lại đây, chủ yếu do những bất ổn của tài chính tiền tệ thế giới, giá vàng thế giới có sự biến động tăng/giảm với biên độ lớn. Tại Việt Nam, có thêm nguyên nhân là tâm lý của người dân bị tác động quá mức; môi trường kinh tế vĩ mô chưa thật ổn định, tỷ lệ lạm phát còn cao. Giá vàng trong nước biến động với biên độ khá lớn, và có những biến động thất thường gây tâm lý bất ổn cho người dân, ảnh hưởng đến sự ổn định của nền kinh tế, làm nhiều người dân thiệt hại khi chạy theo giá vàng…
Trong năm 2010, đã có một số
giải pháp quản lý đưa ra, thậm chí giải pháp quyết liệt như đóng cửa
sàn giao dịch vàng, ban hành Thông tư 22/TT-NHNN về quản lý huy động và
cho vay bằng vàng đối với tổ chức tín dụng, theo hướng thu hẹp đối tượng
và hoạt động kinh doanh; nâng cao mức thuế suất từ 0% lên 10% đối với
xuất khẩu vàng có hàm lượng cao. Tuy nhiên, hiệu lực và hiệu quả quản lý
nhà nước về hoạt động kinh doanh vàng vẫn chưa thật cao khi mà thị
trường vàng còn nằm ngoài sự kiểm soát, điều tiết của Nhà nước hoặc có
khả năng tạo ra những “cơn sóng” biến động giá bất thường. Do vậy, có
nhiều giải pháp quản lý tiếp tục được đề xuất… Bài viết sau đây, tác giả
xin được trao đổi xung quanh vấn đề này.
Vai trò của vàng
Trong lịch sử phát triển của tiền tệ, hơn bất kỳ loại
hàng hóa nào, do tính chất vật lý bền vững, vàng là một loại tiền tệ
được chấp nhận rộng rãi trong xã hội loài người qua quá trình lịch sử
lâu dài, từ vài nghìn năm trước công nguyên đến năm 1971 khi Mỹ bỏ chế
độ chuyển đổi USD ra vàng.
Khi chế độ kim bản vị sụp đổ, các nước lần lượt thực
hiện chế độ tiền giấy bất khả hoán (tiền giấy không được phép đổi ra
vàng, bạc). Thực chất của chế độ tiền giấy bất khả hoán là chế độ tiền
tệ lấy hàng hóa làm bản vị, trong đó giá trị một đơn vị tiền tệ quy
chuẩn được xác định bằng tổng giá trị của khối lượng hàng hóa của quốc
gia/số lượng đơn vị tiền giấy phát hành. Trên cơ sở đó, giá trị của
đồng tiền của một quốc gia được xác định thông qua sức mua hàng hóa của
đơn vị tiền tệ, không phụ thuộc vào khối lượng vàng do nhà nước đang sở
hữu.
Với chế độ tiền giấy bất khả hoán, trong đời sống xã
hội hàng ngày, vàng không còn có chức năng thước đo giá trị, phương tiện
thanh toán, tiền tệ thế giới. Mặc dù vậy, vai trò tiền tệ của vàng
không hoàn toàn mất đi, đặc biệt là chức năng cất trữ giá trị và tiền tệ
quốc tế.
Ngày nay tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam,
người dân có nhu cầu sở hữu, nắm giữ vàng do tập quán, thói quen sử dụng
vàng làm phương tiện cất trữ giá trị và nhu cầu sử dụng vàng làm đồ
trang sức. Riêng nhu cầu sử dụng vàng làm phương tiện cất giữ tài sản
của người dân phụ thuộc chủ yếu vào những lợi ích họ thu được so với
các phương tiện cất trữ tài sản hoặc đầu tư khác, và do đó, phần nào
phụ thuộc vào sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô. Bên cạnh đó, sản
xuất và kinh doanh đồ trang sức mỹ nghệ bằng vàng là một nghề truyền
thống, có từ lâu đời và vẫn được duy trì, phát triển trong đời sống xã
hội hiện đại. Tại Việt Nam, có hàng nghìn doanh nghiệp hoạt động kinh
doanh vàng trong cả nước, riêng thành phố Hồ Chí Minh có hơn 1.000 doanh
nghiệp.
Việc quản lý hoạt động kinh doanh vàng của các Ngân hàng Trung ương
Xuất phát từ vai trò đặc biệt của vàng, với chức năng
là cơ quan thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, hầu hết Ngân hàng
Trung ương (NHTƯ) các nước đều có chính sách quản lý hoạt động kinh
doanh vàng thông qua việc quản lý vàng thuộc dự trữ ngoại hối quốc gia
và quản lý thị trường vàng trong nước.
Theo hướng dẫn trong cẩm nang thống kê tiền tệ của
IMF, chỉ có vàng đủ tiêu chuẩn quốc tế do NHTƯ nắm giữ mới được coi là
tiền tệ, thuộc dự trữ ngoại hối của quốc gia, còn vàng được nắm giữ bởi
các tổ chức kinh tế bao gồm cả các tổ chức tín dụng, bởi cá nhân được
coi là hàng hóa thông thường.
Trên thực tế, nhiều NHTƯ các nước nắm giữ, duy trì tỷ
lệ vàng (vàng tiêu chuẩn quốc tế) nhất định trong tổng dự trữ ngoại hối
quốc gia nhằm bảo đảm hỗ trợ cán cân thanh toán quốc tế và đối phó với
khủng hoảng hay các sự cố đặc biệt như thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh…
Tỷ lệ dự trữ bằng vàng so với tổng dự trữ ngoại hối bình quân của các
quốc gia không tăng, giữ ở mức khoảng 10% (xem Bảng 1), nhưng lại rất
khác nhau giữa các quốc gia (xem Bảng 2).
Bảng 1: Quy mô vàng thuộc Dữ trữ quốc tế của các nước từ 2000 – 2009
|
2000
|
2001
|
2002
|
2003
|
2004
|
2005
|
2006
|
2007
|
2008
|
2009
|
|
Nghìn tấn
|
33.06
|
32.78
|
32.41
|
31.86
|
31.34
|
30.74
|
30.38
|
29.87
|
29.73
|
30.19
|
|
Tỷ USD
|
291.7
|
291.4
|
361.8
|
426.4
|
438.9
|
507.0
|
617.3
|
800.8
|
831.3
|
1,005.4
|
|
% so với tổng dự trữ ngoại hối
|
11.5
|
10.8
|
11.4
|
10.8
|
9.2
|
9.6
|
9.7
|
9.9
|
9.8
|
9.9
|
Nguồn: World Gold Council-WGC
Bảng 2: Lượng vàng nắm giữ và tỷ lệ so với tổng dự trữ của một số nước cuối năm 2009
|
Quốc gia
|
Tổng lượng vàng (tấn )
|
Tỷ lệ so với tổng dự trữ (%)
|
|
Mỹ
|
8.133,5
|
77,4
|
|
Một số nước Châu Âu
|
|
|
Đức
|
3.406,8
|
69,2
|
|
Ý
|
2.451,8
|
66,6
|
|
Pháp
|
2.435,4
|
70,6
|
|
Eurozone ( bao gồm ECB)
|
10.797,9
|
59,7
|
|
Anh
|
310,3
|
17,6
|
|
Một số nước Bắc Á
|
|
|
|
Trung Quốc
|
1.054,1
|
1,9
|
|
Hàn Quốc
|
14,4
|
0,2
|
|
Nhật
|
765,2
|
2,3
|
|
Một số nước Đông Nam Á
|
|
|
Thái Lan
|
84
|
2,1
|
|
Malaysia
|
36,4
|
1,2
|
|
Indonesia
|
73,1
|
3,9
|
|
Singapore
|
127,4
|
2,2
|
Nguồn: World Gold Council-WGC
Việt Nam không phải là nước khai thác vàng lớn, vàng
có được chủ yếu từ nhập khẩu, do vậy, để có được vàng, Việt Nam phải mất
ngoại tệ. Khi xuất được vàng, Việt Nam cũng thu được ngoại tệ. Nói một
cách khác, vàng hàm lượng cao và ở một phân khúc nhất định của thị
trường cũng là ngoại tệ hoặc vàng gián tiếp tạo nguồn thu hoặc khoản chi
ngoại tệ, có tác động đến cung cầu ngoại tệ trong nước. Việc bình ổn
thị trường vàng cũng góp phần quan trọng vào việc bình ổn thị trường
ngoại tệ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
Giá vàng bất ổn – tác động và những hệ lụy
Kinh doanh vàng trên thế giới có nhiều hình thức:
Kinh doanh mua/ bán vàng trang sức mỹ nghệ; kinh doanh vàng miếng; kinh
doanh vàng trên Sở giao dịch hàng hóa chính thức; xuất/ nhập khẩu vàng
trang sức mỹ nghệ hoặc vàng nguyên liệu dưới dạng hạt, thỏi, miếng… Một
số Sở giao dịch hàng hóa lớn có giao dịch vàng trên thế giới hiện nay
như: New York Mercantile, Dubai Gold & Commondities Exchange, Hong
Kong Mercantile…
Việc quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh
vàng cũng rất khác nhau ở mỗi quốc gia tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi
quốc gia như: đồng tiền nội tệ là đồng tiền chuyển đổi hoặc không chuyển
đổi; giá trị đồng nội tệ ổn định hoặc không ổn định; là quốc gia có
vàng chủ yếu từ nguồn sản xuất, khai thác vàng trong nước hoặc từ nhập
khẩu; dự trữ ngoại hối của quốc gia cao hoặc thấp… Trên cơ sở đó, tùy
từng nước, tùy từng giai đoạn phát triển, nhà nước có quy định kiểm soát
chặt chẽ hoặc nới lỏng đối với hoạt động kinh doanh vàng. Ngay như
Trung Quốc, là quốc gia có dự trữ ngoại hối lớn, có khai thác, sản xuất
khối lượng lớn vàng hàng năm nhưng vẫn thực hiện quản lý nhà nước chặt
chẽ đối với hoạt động kinh doanh vàng, nhất là giai đoạn đầu hội nhập
kinh tế quốc tế và chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế theo cơ chế thị
trường. Về nội dung này, Tạp chí Ngân hàng số 21/2010 có bài viết “Công
tác quản lý vàng theo chức năng của Ngân hàng Trung ương: Kinh nghiệm
quản lý tại Trung Quốc và một số đề xuất cho Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Thị Nhung và Nguyễn Thị Tươi đã nêu rõ.
Tổng hợp về hoạt động mua/bán vàng trên thế giới và tại Việt Nam, chúng ta có thể có những nhận xét sau:
(1) Giá vàng biến động tăng/giảm rất thất thường,
biên độ biến động mạnh (xem Đồ thị 1). Giá vàng nhiều khi tăng cao, lập
những kỷ lục mới, nhưng ngay sau đó có thể sụt sâu. Do đó, rủi ro là rất
lớn cho cá nhân/tổ chức mua/bán vàng với mục đích đầu cơ. Ví dụ, tại
thị trường Việt Nam, gần trưa ngày 11/11/2009, một số người dân phải mua
vàng với giá 29,15 triệu đồng/lượng, ngay sau đó đã bị sốc khi nhận
được tin, giá rớt một mạch xuống 26,4 triệu đồng/lượng chỉ sau lúc mua
chưa tới 2 tiếng đồng hồ. Giá vàng còn rớt mạnh trong một hai ngày sau
đó và có lúc xuống dưới 25 triệu đồng/lượng; hiệu vàng Tuấn Tài -một
tiệm vàng lớn ở TP HCM vỡ nợ sau cơn sốt giá vàng tháng 11/2009, kéo
theo tổn thất cho nhiều người dân có gửi vàng tại tiệm vàng này;
(2) Tại một quốc gia, sự biến động của giá vàng nhiều khi không xuất phát từ tăng/giảm tổng sản phẩm quốc dân GDP;
Đồ thị 1: Diễn biến giá vàng thế giới năm 2010
(3) Giá vàng biến động không chỉ xuất phát từ yếu tố
cung/cầu về vàng mà còn bị chi phối khá mạnh bởi yếu tố đầu cơ, bởi niềm
tin của dân chúng vào hệ thống tài chính tiền tệ; vào giá trị đồng tiền
có vai trò dự trữ quốc tế hoặc/và giá trị đồng tiền nội tệ (xét phạm vi
một quốc gia). Trên thế giới có những quỹ chuyên về đầu tư vàng, ví dụ
như Quỹ Gold Bullion Securities, SPDR Gold Trust, Dubai Gold Securities,
NewGold… Tại thời điểm cuối tháng 7/2010, Quỹ SPDR Gold Trust – quỹ đầu
tư vàng vật chất lớn nhất thế giới nắm giữ khoảng 1.300 tấn vàng, trị
giá tương đương trên 48 tỷ USD;
(4) Trong một quốc gia, giá vàng tăng/giảm có tác
động tới tỷ giá ngoại tệ. Mức độ tác động còn tùy thuộc vào khả năng
kiểm soát của Nhà nước đối với hoạt động mua/bán vàng, tùy thuộc quy mô
tổng các giao dịch mua/bán vàng so với GDP, so với cán cân thanh toán
quốc tế của quốc gia đó.
Tại Việt Nam, những tháng đầu năm đến hết tháng
9/2010, các doanh nghiệp Việt Nam đã xuất siêu đá quý, kim loại quý,
trong đó chủ yếu là vàng, khoảng 2,3 tỷ USD: Khi giá vàng mới nhích lên,
tháng 5 (1.204,88 USD/oz), tháng 8 (1.214 USD/oz), các doanh nghiệp đã
vội vàng đua nhau xuất khẩu. Cụ thể, trong tháng 5, xuất khẩu vàng của
Việt Nam tăng tới 13,8% so với tháng 4 và đến tháng 8 thì lao vọt lên
tới 45,5% so với tháng 7.
Từ đầu tháng 10/2010, vàng tăng giá, khi giá vàng
trong nước tăng cao hơn giá vàng thế giới, để tạo ổn định của nền kinh
tế quốc dân, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã vài lần quota cho nhập khẩu
vàng với khối lượng phù hợp, các doanh nghiệp lại quay sang nhập khẩu
vàng với giá cao. Nhập khẩu vàng thực sự là một yếu tố làm cho cán cân thương mại thêm thâm hụt.
Phạm vi kinh doanh vàng ở Việt Nam hiện nay khá rộng, khó kiểm soát
Tại Việt Nam, theo các quy định của pháp luật hiện
hành (Nghị định 174/1999/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định
64/2003/NĐ-CP), phạm vi hoạt động kinh doanh vàng khá rộng rãi. Cụ thể,
NHNN chỉ quản lý một số hoạt động về vàng có liên quan tới điều hành
chính sách tiền tệ như: (i) xuất, nhập khẩu vàng nguyên liệu; (ii) sản
xuất vàng miếng. Các hoạt động kinh doanh vàng khác như mua bán vàng
trang sức mỹ nghệ, vàng miếng được coi là hoạt động kinh doanh bình
thường giống như các loại hàng hoá khác. Theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP
ngày 12/6/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng
hoá, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều
kiện, hoạt động mua bán, sản xuất gia công vàng trang sức mỹ nghệ là
ngành nghề kinh doanh có điều kiện nhưng không cần cấp giấy chứng nhận
đủ điều kiện kinh doanh. Tổ chức, cá nhân muốn tham gia chỉ cần đăng ký
kinh doanh tại Sở Kế hoạch Đầu tư trên địa bàn và hoạt động trên cơ sở
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Hoạt động kinh doanh này thuộc phạm
vi điều chỉnh của Luật Thương mại và Luật Doanh nghiệp. Ngay cả hoạt
động xuất, nhập khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ cũng không hề có bất kỳ một
quy định nào để điều phối và kiểm soát. Không có các quy định cụ thể để
xác định: Thế nào được xem là vàng gia công chế tác; vàng trang sức, mỹ
nghệ. Trong khi đó, việc xuất khẩu, nhập khẩu vàng trang sức mỹ nghệ
thực hiện theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; không cần có giấy
phép của NHNN. Như vậy, khả năng lạm dụng để xuất khẩu vàng có chất
lượng cao (ví dụ, từ 90% trở lên) dưới hình thức vàng trang sức mỹ nghệ
nhưng với khối lượng lớn là rất dễ xẩy ra. Do vậy, Bộ Tài chính đã sửa
đổi mức thuế suất xuất khẩu vàng. Theo Thông tư số 184/2010/TT-BTC, từ
ngày 01/01/2011, các loại vàng nguyên liệu, vàng trang sức có hàm lượng
cao sẽ chịu thuế xuất khẩu là 10% thay cho mức cũ là 0%.
Do phạm vi hoạt động kinh doanh vàng khá rộng rãi,
lượng vàng và USD trôi nổi ngoài thị trường nhiều (các chuyên gia kinh
tế gọi là tình trạng “vàng hóa”, “đô la hóa”) nên ngay cả các cơ quan
quản lý cũng không thể nắm rõ được số liệu thật là bao nhiêu.
Sàn giao dịch vàng: Nếu cho phép thành lập trở lại, Nhà nước không nên để tái diễn những hạn chế, tác động xấu trước đây
Trước thời điểm NHNN ban hành Thông tư số
01/2010/TT-NHNN bãi bỏ việc thực hiện Quyết định số 03/2006/QĐ-NHNN về
kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài, một số ngân hàng thương mại
(NHTM) đã tự phát lập sàn vàng trong nước. Ở giai đoạn phát triển cao
vào cuối năm 2008, năm 2009, các sàn vàng đã biến tướng, việc kinh
doanh không gắn với vàng vật chất mà thực chất là cho phép kinh doanh
vàng trên tài khoản ở trong nước là loại hình kinh doanh chênh lệch giá
(margin trading), và các sàn còn cho phép nhà đầu tư sử dụng đòn bẩy
tài chính rất cao. Đây là loại hình kinh doanh tiềm ẩn rủi ro rất cao
cho cả nhà đầu tư và cho chính các đơn vị kinh doanh sàn vàng. Thực tế
các sàn giao dịch vàng đều thực hiện hoạt động mua, bán với nhà đầu tư
qua các phương thức;
(i) Chủ sàn trực tiếp mua bán vàng với nhà đầu tư và
phòng ngừa rủi ro bằng việc chuyển trạng thái ra nước ngoài thông qua
hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài của chủ sàn;
(ii) Chủ sàn nhận lệnh của nhà đầu tư và chuyển lệnh
ra nước ngoài thông qua hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước
ngoài của chủ sàn;
(iii) Các nhà đầu tư trực tiếp mua bán vàng trên tài khoản với nhau thông qua hình thức khớp lệnh tập trung.
Đối với hình thức giao dịch (i) và (ii) thì về bản
chất, chủ sàn cho phép nhà đầu tư thực hiện mua bán vàng trên tài khoản ở
nước ngoài. Hay nói cách khác, đây là hoạt động đầu tư ra nước ngoài
của nhà đầu tư trong nước. Khi nhà đầu tư trong nước tính toán sai/thua
lỗ, mất ngoại tệ ra nước ngoài là không tránh khỏi, tạo thêm sức ép lên
tỷ giá USD/VND.
Ngoài ra, việc thực hiện giao dịch vàng tại các sàn
giao dịch vàng của Việt Nam thời gian qua có thể mang lại rủi ro cho các
nhà đầu tư cá nhân do thông tin và cơ chế giao dịch không hoàn toàn
minh bạch; chủ sàn vừa làm môi giới mua/bán vàng, vừa trực tiếp kinh
doanh vàng. Vì vậy, tác giả cho rằng, nếu cho sàn giao dịch vàng được
thành lập mới hoặc hoạt động trở lại, thì cần nghiên cứu đầy đủ và thận
trọng mọi khía cạnh về tổ chức và nghiệp vụ; cần có cơ chế quản lý rất
chặt chẽ, nhất là không cho phép tổ chức/cá nhân sử dụng nguồn vốn huy
động từ xã hội để kinh doanh mạo hiểm, đầu cơ vào vàng.
Ở đây, vấn đề cần được mở rộng và cần được cảnh báo,
loại hình kinh doanh chênh lệch giá (margin trading) – kinh doanh mạo
hiểm, đầu cơ trên thị trường quốc tế của các nhà đầu tư trong nước thông
qua kiểu hỗ trợ và hoạt động tương tự như các sàn vàng nói trên cũng có
thể được thực hiện bởi một Sàn/Trung tâm giao dịch/Sở giao dịch hàng
hóa bất kỳ nào đó như bạc, cà phê, cao su…, không nhất thiết là vàng;
loại hàng hóa cụ thể quy định trong các hợp đồng giao dịch chỉ là đối
tượng/phương tiện để giao dịch. Nghiệp vụ được thực hiện thông qua việc
ký kết các hợp đồng giao dịch hàng hóa tương lai quốc tế, trong đó nhà
đầu tư sử dụng đòn bẩy tài chính rất cao, nhà đầu tư chỉ phải ký quỹ một
tỷ lệ nhỏ so với tổng giá trị giao dịch; với đặc điểm tính thanh khoản
rất cao, thường tất toán hợp đồng trước khi đáo hạn của các hợp đồng
giao dịch tương lai, nhà đầu tư thực hiện mua khống, bán khống, kiếm
tiền nhờ vào sự biến động giá trên thị trường thế giới và dựa vào đòn
bẩy tài chính… Vì vậy, Nhà nước cũng cần sớm quan tâm và có quy định
quản lý chặt chẽ đối với thị trường công cụ tài chính phái sinh, nhất là
các giao dịch phái sinh với mục đích đầu cơ.
Mức độ cần thiết của việc huy động vàng trong dân để đầu tư phát triển kinh tế?
Một số chuyên gia cho rằng, lượng vàng trong dân cư
là số lượng lớn và cần phải được huy động để đầu tư phát triển kinh tế,
nếu không sẽ là sự lãng phí lớn? Để đi đến kết luận nhận định này là
đúng hoặc sai, chúng ta xem xét, phân tích ở các góc độ sau:
Thứ nhất, dù không được trả lãi, thậm chí phải
trả phí (nếu phí thấp), người dân có vàng, nhất là khi sở hữu một số
lượng lớn, người dân vẫn sẽ gửi ở ngân hàng để đảm bảo an toàn. Tùy theo
điều kiện của nền kinh tế và mục tiêu của chính sách tiền tệ từng thời
kỳ, NHTƯ có thể thực hiện nghiệp vụ hoán đổi giữa vàng (vàng “có tính
chất tiền tệ”) với VND đối với các NHTM. Theo đó, NHTƯ sẽ tăng dự trữ
quốc gia và NHTM sẽ tăng nguồn vốn tín dụng để cho vay.
Thứ hai, nếu cho phép các NHTM trả lãi cao để huy động vàng và NHTM cho vay vàng để đầu tư phát triển kinh tế thì lợi ích có thể không bù nổi những thiệt hại từ những tác động tiêu cực cả ở tầm vi mô và tầm vĩ mô.
Cụ thể: (1) Với kỳ vọng “lãi kép”- lãi được trả về tiền gửi bằng vàng
và kỳ vọng lãi từ chênh lệch giá, người dân có động lực lớn để tích trữ
tài sản bằng vàng hoặc đầu cơ vào vàng, gây khó khăn cho điều hành kinh
tế vĩ mô, nhất là khi có những biến động lớn về giá vàng; nguồn vốn tiết
kiệm của dân cư sẽ đổ dồn để tích trữ vàng; tác động tiêu cực của hiện
tượng “vàng hóa” cũng là rất lớn, tương tự như hậu quả của “đô la hóa”
trong nền kinh tế. Ngoài ra, việc chống “đô la hóa” trong nền kinh tế
cũng chỉ thành công khi đồng thời chống được “vàng hóa”; (2) Phát sinh
rủi ro về thanh khoản vàng và rủi ro về giá vàng cho các NHTM, cho các
doanh nghiệp/người dân vay vốn bằng vàng và gây bất ổn, biến động không
lường trước được về giá vàng, tỷ giá USD/VND. Kinh nghiệm thực tế cho
thấy, hậu quả xã hội sẽ rất lớn, khi các khoản tiền gửi hoặc các khoản
thanh toán bằng vàng đến hạn/đáo hạn, nhưng khi đó giá vàng trên thị
trường tăng cao, và người vay hoặc người phải thanh toán trả vàng sẽ phá
sản hoặc chịu lỗ lớn.
Thứ ba, giới hạn đầu tư tín dụng cho nền kinh
tế được quyết định bởi những yếu tố nào? Nguồn vốn đầu tư (tiết kiệm
trong nước, nguồn vốn vay nước ngoài); hiệu quả của các dự án đầu tư… Trong đó, hiệu quả của các dự án đầu tư là một yếu tố quyết định.
Nếu nền kinh tế có nhiều dự án đầu tư có hiệu quả, NHTƯ có thể tăng vốn
cho nền kinh tế bằng cách “bơm vốn” cho các NHTM. Trong chế độ tiền
giấy, trong giới hạn nhất định, NHTƯ có khả năng mở rộng tín dụng ngân
hàng để phát triển kinh tế thông qua mở rộng khả năng tạo tiền của hệ
thống các tổ chức tín dụng.
Từ 3 lý do trên, tác giả cho rằng: Sẽ là tốt
hơn hoặc cần huy động nguồn vốn nhàn rỗi bằng vàng trong dân vào hệ
thống các NHTM, tuy nhiên, không cần/không nhất thiết phải huy động
nguồn vốn này với việc phải trả lãi, nhất là phải trả lãi ở mức lãi suất
cao (ví dụ 2%). Ngoài ra, để tránh rủi ro thanh khoản vàng, giấy tờ có
giá bằng vàng không được thanh toán trước hạn, nếu thanh toán trước hạn
phải chịu phạt/chiết khấu ở mức/tỷ lệ tối thiểu nhất định do NHNN quy
định.
Quan điểm quản lý đối với hoạt động kinh doanh vàng
Trước những biến động giá vàng gây sức ép tiêu cực
lên thị trường tiền tệ, đặc biệt là thị trường ngoại hối, Chính phủ và
NHNN đã có một số giải pháp quản lý, thậm chí giải pháp quyết liệt như
đóng cửa các sàn giao dịch vàng trong nước; đình chỉ giao dịch vàng trên
tài khoản ở nước ngoài sau ngày 30/03/2010 (tiếp đó, được gia hạn đến
hết ngày 31/07/2010); NHNN ban hành Thông tư số 22/2010/TT-NHNN về quản
lý huy động và cho vay bằng vàng đối với tổ chức tín dụng, theo hướng
thu hẹp đối tượng và hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, hiệu lực, hiệu quả
quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh vàng chưa thật cao, thị trường
vàng vẫn chưa được quản lý chặt chẽ, còn có dấu hiệu đầu cơ, làm giá
vàng, gây bất ổn cho nền kinh tế và nhiều rủi ro cho người dân.
Trong thời gian tới, Nhà nước cần thực hiện các biện
pháp đầy đủ, đồng bộ hơn để khắc phục tình trạng giá vàng biến động khó
kiểm soát; để chống thất thoát ngoại tệ cho đất nước; để tập trung nguồn
vốn của xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất. Dù biện pháp nào được
đưa ra cũng cần có tính dài hạn, ổn định và nên dựa trên những quan điểm
quản lý là:
(1) Tôn trọng tập quán, quyền lợi của người dân khi
sử dụng vàng làm phương tiện cất trữ giá trị, nhưng tuyệt đối không
khuyến khích người dân đầu tư vàng, đặc biệt cần chống việc doanh nghiệp
và dân cư đầu cơ vàng bằng nguồn vốn huy động ngoài xã hội;
(2) Về kỹ thuật, cần có tiêu chuẩn/tiêu chí rõ ràng
cụ thể phân biệt vàng là đồ trang sức, mỹ nghệ với vàng có tính chất
tiền tệ, theo đó có cơ chế quản lý riêng biệt, chặt chẽ, thu hẹp phạm
vi, đối tượng tham gia và quy mô đối với kinh doanh vàng có tính chất
tiền tệ, ví dụ vàng miếng;
(3) Tôn trọng quy luật thị trường trong điều tiết
hoạt động kinh doanh vàng, đồng thời cần có sự quản lý, định hướng của
nhà nước;
(4) Có cơ chế linh hoạt để thị trường vàng trong nước
liên thông được với thị trường vàng quốc tế; góp phần chống buôn lậu
vàng;
(5) Có cơ chế phù hợp để nguồn vốn tiết kiệm trong nước không bị điều chuyển quá mức vào hoạt động kinh doanh vàng;
(6) Loại bỏ vàng khỏi chức năng thước đo giá trị,
phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, không để thị trường vàng tác
động lớn, ảnh hưởng tiêu cực đến ổn định kinh tế vĩ mô;
(7) Thông tin về quy mô giao dịch, số lượng giao
dịch, số lượng vàng (vàng “có tính chất tiền tệ” – vàng miếng) sở hữu
bởi một thành viên tham gia thị trường vàng chính thức phải được minh
bạch, công khai và được báo cáo NHNN hàng ngày để NHNN có thể kiểm soát,
điều tiết thị trường bằng các quyết định quản lý phù hợp; góp phần
chống được hiện tượng làm giá, đầu cơ.
Một số giải pháp chủ yếu để quản lý hoạt động kinh doanh vàng
Đồng quan điểm với nhiều chuyên gia, tác giả cho
rằng: Thông tư số 22/2010/TT-NHNN của NHNN có tác động rất tích cực đối
với việc quản lý hoạt động kinh doanh vàng và đối với thị trường tiền
tệ, nhất là trong dài hạn.
Để đồng bộ, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà
nước đối với hoạt động kinh doanh vàng, tác giả đề xuất, bổ sung, điều
chỉnh một số quy định hiện hành bằng một số giải pháp sau:
(1) Hoàn thiện hệ thống VBQPPL hiện hành điều tiết
trực tiếp hoặc có liên quan đến quản lý hoạt động kinh doanh vàng để
thống nhất vai trò quản lý hoạt động kinh doanh vàng của NHNN theo đúng
quy định tại khoản 17 Điều 4 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số
46/2010/QH12, NHNN có nhiệm vụ “Quản lý nhà nước về ngoại hối, hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng”.
Thực hiện quy định trên, trong thực tiễn nên quy định việc kinh doanh vàng “có tính chất tiền tệ” – vàng miếng là loại hình kinh doanh có điều kiện, doanh
nghiệp kinh doanh phải được NHNN cấp phép và đáp ứng đủ các điều kiện
do NHNN đưa ra phù hợp với từng thời kỳ phát triển kinh tế của đất nước;
những tổ chức, cá nhân chỉ kinh doanh mua, bán, sản xuất vàng trang sức
mỹ nghệ không cần có giấy phép của NHNN, nhưng phải thông báo cho NHNN
về giấy phép đăng ký hoạt động kinh doanh vàng và vẫn chịu sự kiểm tra,
thanh tra của NHNN; sẽ phải chịu phạt hành chính nặng nếu các đơn vị này
kinh doanh vàng “có tính chất tiền tệ” – vàng miếng;
(2) Xây dựng tiêu chí cụ thể để phân biệt vàng “có
tính chất tiền tệ”; vàng có hàm lượng cao; vàng trang sức mỹ nghệ. Đề
xuất cụ thể:
- Vàng “có tính chất tiền tệ” là vàng được coi là ngoại hối theo điểm (d) khoản 2 Điều 6 Luật NHNN số 46/2010/QH12 (Vàng
thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người
cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào
và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam); vàng miếng được sản xuất trong nước; vàng trên tài khoản gửi “lưu ký” tại các tổ chức tín dụng trong nước.
Vàng “có tính chất tiền tệ” có đặc điểm là có tính thanh khoản cao; chi phí để chuyển đổi ra tiền là rất thấp, gần bằng không;
- Vàng hàm lượng cao là vàng có hàm lượng > 90%.
Vàng hàm lượng cao bao gồm vàng “có tính chất tiền tệ” và một bộ phận
vàng trang sức mỹ nghệ;
- V��ng trang sức mỹ nghệ là sản phẩm chế tác bằng
vàng có hàm lượng vàng thấp (dưới 90%) hoặc sản phẩm vàng có hàm lượng
cao nhưng chi phí để chế tác ra sản phẩm vàng đó từ vàng nguyên liệu
phải chiếm tỷ lệ đáng kể trong giá bán sản phẩm (ví dụ trên 5%);
(3) Phân biệt mức thuế suất xuất khẩu hoặc nhập khác
nhau đối với vàng “có tính chất tiền tệ” hoặc vàng có hàm lượng cao; đối
với vàng trang sức mỹ nghệ hoặc vàng có hàm lượng thấp. Giữ nguyên mức
thuế suất 10% đối với vàng hàm lượng cao theo Thông tư số
184/2010/TT-BTC, nên hạ mức thuế suất xuống mức 5% áp dụng đối với vàng
trang sức mỹ nghệ;
(4) Khi đã có mức thuế xuất hợp lý để điều tiết
xuất/nhập khẩu vàng, nới lỏng dần và tiến tới xóa bỏ việc cấp quota
xuất/nhập khẩu vàng để việc liên thông thị trường vàng trong nước với
thị trường vàng thế giới được linh hoạt, theo cơ chế thị trường;
(5) Thu hẹp phạm vi số lượng các tổ chức được phép
mua, bán vàng “có tính chất tiền tệ” – vàng miếng so với hiện nay. Số
lượng những doanh nghiệp này không quá nhiều để Nhà nước kiểm soát được
nhưng cũng không quá ít để duy trì sự cạnh tranh theo cơ chế thị trường
một cách lành mạnh, không gây ra tình trạng độc quyền, thao túng thị
trường. Nhà nước có thể đưa ra các quy định về mức vốn điều lệ, về điều
kiện kỹ thuật sản xuất, về số năm kinh nghiệm trong kinh doanh vàng, về
mức ký quỹ vàng tại NHNN… để tạo hàng rào kỹ thuật việc ra nhập/thoái
lui của những doanh nghiệp được phép sản xuất và mua, bán vàng “có tính
chất tiền tệ” – vàng miếng.
Ví dụ, bình quân toàn quốc mỗi thành phố khoảng 20
doanh nghiệp, tuy nhiên, cần phân biệt số lượng cụ thể các doanh nghiệp
được phép mua/bán vàng miếng theo quy mô hoặc cấp độ thành phố. Những
doanh nghiệp/cửa hàng này phải có mức vốn điều lệ lớn (khoảng 100 tỷ
đồng); phải đăng ký kinh doanh với NHNN và được NHNN cấp giấy phép; phải
được NHNN thanh tra hoạt động định kỳ hoặc đột xuất; phải kết nối mạng
thông tin với chi nhánh NHNN trên địa bàn để báo cáo doanh số mua/bán,
và tồn kho hàng ngày, và theo định kỳ tháng cho NHNN. Những doanh
nghiệp/cửa hàng này cần đăng ký nguồn gốc, tiêu chuẩn sản phẩm vàng
miếng;
(6) NHNN thực hiện nghiệp vụ hoán đổi giữa vàng tiền
tệ với VND đối với các NHTM. Quy mô hoán đổi, tỷ giá giao ngay, tỷ giá
kỳ hạn áp dụng trong nghiệp vụ hoán đổi tùy thuộc vào mục tiêu chính
sách tiền tệ từng thời kỳ;
(7) Nghiên cứu, cho thành lập và hoạt động 1 hoặc 2
sở giao dịch vàng sau khi NHNN đã xây dựng, ban hành đầy đủ cơ chế quản
lý chặt chẽ; phân tích rõ những tác động về kinh tế xã hội cả ở tầm vi
mô và tầm vĩ mô.
Theo tác giả, một số nội dung chủ yếu sau đây cần được lưu ý trong Đề án về thành lập Sở/sàn giao dịch vàng trong nước:
- Sở/sàn giao dịch vàng là thành viên độc lập, là
trung gian khớp các lệnh mua/bán vàng và thanh toán bù trừ tiền VND/vàng
giữa các thành viên tham gia thị trường, không được phép trực tiếp giao
dịch kinh doanh vàng.
- Sở/sàn giao dịch vàng nên là công ty cổ phần trong
đó Nhà nước nắm giữ 51% vốn điều lệ hoặc là Công ty TNHH 1 thành viên mà
chủ sở hữu là nhà nước. Sở/sàn giao dịch vàng chịu sự giám sát chặt chẽ
của NHNN, phải thực hiện kiểm toán độc lập hàng năm bởi công ty kiểm
toán có uy tín (nằm trong danh sách các công ty kiểm toán độc lập được
Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng chấp thuận).
- Tài khoản tiền VND, vàng của thành viên tham gia
giao dịch tại Sở giao dịch vàng phải tách biệt, được gửi tại các NHTM
được phép giao dịch ngoại hối.
- Hàng hóa giao dịch của Sở/sàn giao dịch vàng (tạm
gọi là chứng chỉ vàng) được tiêu chuẩn hóa và phải gắn với vàng vật
chất. Thời gian cho phép thanh toán vàng vật chất cho người mua là T+ 4
nếu người mua có nhu cầu thanh toán/nhận lại vàng vật chất;
- Đối với cá nhân tham gia mua/bán vàng trên Sở/sàn
giao dịch vàng, trong điều kiện hiện nay, phải ký quỹ 100% giá trị giao
dịch; không được mua khống/bán khống.
- Cho phép TCTD được phép hoạt động ngoại hối, các
doanh nghiệp sản xuất, mua/bán/xuất/nhập khẩu vàng “có tính chất tiền
tệ” – vàng miếng được tham gia giao dịch trên Sở/sàn giao dịch vàng
trong nước. Trong số các loại hình doanh nghiệp trên, NHNN cho phép một
số các TCTD được phép kinh doanh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài
để tạo sự liên thông giữa thị trường vàng trong nước và thị trường vàng
thế giới.
- NHNN cần quy định riêng biệt về trạng thái giao
dịch vàng trong nước, trạng thái giao dịch vàng trên tài khoản ở nước
ngoài và quy định trạng thái ở mức thấp (ví dụ ± 3%/vốn điều lệ) đối với
những tổ chức tham gia Sở/sàn giao dịch vàng. Việc quy định này nhằm
mục tiêu hạn chế quy mô giao dịch và chống đầu cơ trong kinh doanh vàng.
Tạo ra cơ chế liên thông giữa thị trường vàng trong
nước và thị trường vàng thế giới nhưng NHNN phải kiểm soát được và chủ
động điều tiết biên độ cách biệt (cao hơn hoặc thấp hơn) giữa giá vàng
trong nước so với giá vàng quốc tế, và đồng thời với cơ chế về thuế
xuất/nhập khẩu vàng “có tính chất tiền tệ” để điều tiết khối lượng vàng
xuất/nhập khẩu.
- Quy định tiêu chuẩn, mã/ký hiệu đối với vàng miếng
được sản xuất từ các doanh nghiệp sản xuất vàng miếng khác nhau tham gia
giao dịch trên Sở giao dịch vàng.
- Xây dựng quy trình tiện lợi, chặt chẽ, đảm bảo an toàn cho việc lưu ký vàng, thanh toán vàng vật chất.
- Thời gian đầu, chưa cho phép các thành viên thị trường thực hiện giao dịch các sản phẩm phái sinh về vàng.
- Quy định trần mức phí về lưu ký vàng; giao dịch
mua/bán vàng và quy định về mức thuế doanh nghiệp hoặc mức thuế thu nhập
cá nhân đối với lợi nhuận từ chênh lệch giá bán, giá mua vàng;
(8) Trong thành phần dự trữ ngoại hối quốc gia, NHNN
cần có phương án dự trữ vàng ở tỷ lệ nhất định so với tổng dự trữ ngoại
hối. Đồng thời NHNN có phương án tham gia mua/bán trên Sở giao dịch vàng
trong nước; kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài; cho vay vàng
đối với NHTM… Thực hiện đa dạng các nghiệp vụ về vàng, một mặt tạo cho
NHNN chủ động can thiệp, điều tiết thị trường vàng trong nước; mặt khác,
nâng cao hiệu quả của đầu tư vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước.
Tóm lại: Trong xã hội hiện nay, vàng không còn
nguyên vai trò “tiền tệ” nhưng tính chất “tiền tệ” của vàng không hoàn
toàn mất đi. Hoạt động của thị trường vàng trong nước ảnh hưởng đến thực
thi chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá. Đối với Việt Nam, Nhà nước
chưa tự do hóa các giao dịch vốn, dự trữ ngoại hối không cao, nguồn cung
vàng chủ yếu từ nhập khẩu… Do vậy, về cơ bản những biện pháp quản lý
trong năm 2010 vừa qua là đúng hướng. Trong thời gian tới, NHNN cần tiếp
tục hoàn thiện khuôn khổ thể chế quản lý đối với hoạt động kinh doanh
vàng, sao cho vừa có cơ chế quản lý chặt chẽ, kiểm soát, điều tiết được
hoạt động kinh doanh vàng phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước
trong từng thời kỳ, vừa tạo được sự thông thoáng, linh hoạt, ổn định về
chính sách để thị trường vàng phát triển, nhất là hoạt động kinh doanh
vàng trang sức mỹ nghệ. Thông qua hệ thống các giải pháp đồng bộ theo
các quan điểm và định hướng nêu trên, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà
nước đối với hoạt động kinh doanh vàng tại Việt Nam sẽ được nâng cao.
Tài liệu tham khảo:
- Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 01/1997/QH10
và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam số 10/2003/QH11;
- Luật Các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng số 20/2004/QH11;
- Pháp lệnh ngoại hối năm 2005; Nghị định
174/1999/NĐ-CP và Nghị định 64/2003/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của NĐ 174; Các VBQPPL khác của Nhà nước có liên quan về hoạt động kinh
doanh vàng;
- Đề tài NCKH cấp ngành KNH 2009-01 “Các giải pháp
nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh vàng theo chức năng của Ngân hàng
Trung ương”, chủ nhiệm Đề tài Nguyễn Vân Anh;
- Tổng hợp thông tin đăng trên các tạp chí; báo điện tử; báo giấy năm 2009, năm 2010.
SOURCE: TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ 3+4 NĂM 2011 - TS. NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG – Tổng biên tập Tạp chí Ngân Hàng
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW (SUN LAW FIRM)


TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM
--------------------------------------------------------------------------------