Hòa giải trong thương mại và phát triển phương thức hòa giải trong thương mại ở Việt Nam
Hoà giải thương mại hay trung gian thương mại1 (Commercial Mediation) là một phương thức giải quyết tranh chấp rất phổ biến trên thế giới, đặc biệt tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Cùng với thương lượng và trọng tài, hoà giải được coi là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp thay thế (ADR) và rất được các doanh nhân ưa chuộng do những ưu điểm vượt trội của các phương thức này so với tố tụng tòa án.
Với mong muốn thúc đẩy sự
phát triển của các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế nói chung và
phương thức hòa giải nói riêng tại Việt Nam, bài viết giới thiệu những đặc điểm
cơ bản nhất của phương thức hòa giải và phân tích một số điểm còn khiếm khuyết
của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành của Việt Nam liên quan đến phương thức
hòa giải trên cơ sở đối chiếu và so sánh với kinh nghiệm của một số nước.
1. Bản chất và sự phát triển của phương thức hòa giải ở một số nước
Bản chất của phương thức hòa giải
Hoà giải là quá trình các bên đàm phán với nhau về việc giải quyết tranh
chấp với sự trợ giúp của một bên thứ ba độc lập (hoà giải viên)2.
Hòa giải khác với phương thức thương lượng ở sự có mặt của bên thứ ba (hòa giải
viên) và cũng khác với phương thức trọng tài ở chỗ, hòa giải viên không có
quyền xét xử và ra phán quyết như trọng tài viên. Vai trò của hòa giải viên
trong quá trình hòa giải chỉ dừng lại ở việc khuyến khích và trợ giúp các bên
tìm ra một giải pháp mang tính thực tế mà tất cả các bên liên quan đều có thể
chấp nhận sau khi xem xét, nghiên cứu những lợi ích và nhu cầu của họ. Tùy
thuộc nội dung, tính chất của vụ tranh chấp và sự thỏa thuận của các bên, số
lượng hòa giải viên có thể là một hoặc nhiều. Theo thông lệ quốc tế, căn cứ vào
tổ chức đứng ra thực hiện việc hòa giải, hòa giải được chia thành hai hình thức
là hòa giải công (public mediation) và hòa giải tư (private mediation). Hòa
giải công do các cơ quan nhà nước, chủ yếu là các Tòa án, đứng ra thực hiện
(gọi là court-based mediation). Hòa giải tư thường do các tổ chức trọng tài
thương mại3 hoặc các tổ chức hòa giải thương mại chuyên nghiệp tiến
hành4. Ngoài ra, các bên cũng có thể yêu cầu các cá nhân (thường là
chuyên gia về hòa giải hoặc về lĩnh vực đang có tranh chấp) đứng ra hòa giải.
Sự phát triển của phương thức hòa giải trên thế giới
Hiện nay, hầu hết các tổ chức trọng tài thương mại lớn trên thế giới đều có
quy tắc hòa giải và tổ chức việc hòa giải nhằm giúp các tổ chức, cá nhân kinh
doanh giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng và hiệu quả5. Hoạt
động hòa giải cũng bắt đầu diễn ra nhộn nhịp tại các nước trong khu vực với sự
xuất hiện của nhiều trung tâm hòa giải như Trung tâm hòa giải của CIETAC (Trung
Quốc), Trung tâm hòa giải Delhi (Ấn Độ), Trung tâm hòa giải Hồng Kông, Trung
tâm hòa giải Indonesia, Trung tâm hòa giải Malaysia, Trung tâm hòa giải
Philippine, Trung tâm hòa giải Singapore, Trung tâm hòa giải Thái Lan6…
và đã thể hiện được những ưu điểm rõ rệt về thời gian, chi phí và hiệu quả, thu
hút được sự chú ý của đông đảo giới luật sư và doanh nghiệp. Chẳng hạn, tại
Singapore, theo số liệu thống kê của Trung tâm hòa giải Singapore (SMC), tính
tới tháng 4/2009, đã có 1.400 vụ tranh chấp được đưa tới trung tâm này để hòa
giải, trong đó tỷ lệ hòa giải thành công chiếm khoảng 75%. Trong số các vụ
tranh chấp được hòa giải thành, trên 90% được giải quyết chỉ trong vòng một
ngày làm việc. Các tranh chấp được đưa ra hòa giải tại đây rất đa dạng từ các
tranh chấp trong lĩnh vực ngân hàng, xây dựng, hợp đồng, công ty, bảo hiểm,
hàng hải cho tới các loại tranh chấp trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, lao
động, công nghệ thông tin, bồi thường thiệt hại… Ngay cả những vụ tranh chấp có
giá trị lớn (trên 90 triệu đô la Singapore) cũng đã được tiến hành
hòa giải tại SMC. Về mặt chi phí, các bên tranh chấp rõ ràng cũng đã tiết kiệm
được một khoản chi phí rất lớn nếu so với tố tụng tại Tòa án. Ví dụ, đối với
một vụ tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa trung thẩm (High Court), nếu các bên
chọn con đường hòa giải tại SMC, các bên có thể tiết kiệm được tới 80.000 đô la
Singapore. Trong một cuộc khảo sát được thực hiện vào cuối năm 2008 với 18.884
bên tranh chấp và 1.563 luật sư đại diện cho các bên tranh chấp khi tham gia
hòa giải tại SMC, trên 80% đối tượng được hỏi đã khẳng định tiết kiệm được chi
phí và thời gian khi sử dụng phương thức này và trên 94% cho biết sẽ giới thiệu
phương thức này cho các tổ chức cá nhân khác khi có tranh chấp tương tự7.
Hiện nay, tại Việt Nam, phương thức hoà giải thường được tiến hành kết hợp
với phương thức tố tụng trọng tài hay Tòa án, theo đó, việc hòa giải giữa các
bên tranh chấp chủ yếu do các thẩm phán hoặc trọng tài viên tiến hành trong quá
trình tố tụng8. Ngoài ra, trên thực tế, các bên tranh chấp cũng có
thể nhờ tới các chuyên gia là những người có kỹ năng và kinh nghiệm về hòa giải
hoặc một chuyên gia có uy tín trong lĩnh vực đang tranh chấp (như tài chính,
vận tải, ngân hàng, bảo hiểm…) đứng ra thực hiện việc hòa giải9.
Trung tâm hòa giải với tư cách tổ chức hòa giải thương mại chuyên nghiệp mới
bắt đầu được hình thành với việc Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VIAC) đưa ra Bộ quy tắc hoà giải và
bắt đầu cung cấp dịch vụ này vào năm 200710.
2. Những nguyên tắc cơ bản của hòa giải
Hòa giải mang tính chất tự nguyện
Cũng giống như trọng tài, các bên tham gia vào quy trình hòa giải trên tinh
thần tự nguyện, không bên nào có thể ép buộc bên nào tham gia vào phương thức
này. Sự tự nguyện còn được thể hiện ở việc các bên có thể quyết định hoàn toàn
quy trình hòa giải. Về nguyên tắc, sau khi được các bên lựa chọn, hòa giải viên
sẽ gợi ý và hướng dẫn các bên về quy trình thủ tục hòa giải mà hòa giải viên dự
định tiến hành. Tuy nhiên, các bên có quyền đề xuất với hòa giải viên những
thay đổi cần thiết cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình. Cuối cùng,
các bên hoàn toàn quyết định về việc giải quyết nội dung vụ tranh chấp. Khác
với trọng tài viên, hòa giải viên không có quyền xét xử và ra phán quyết mà kết
quả giải quyết vụ tranh chấp phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên. Tùy thuộc
mô hình hòa giải và phong cách mà từng hòa giải viên áp dụng, hòa giải viên có
thể cung cấp những nhận định, đánh giá về nội dung vụ tranh chấp cũng như ý
kiến tư vấn về cách thức giải quyết vụ tranh chấp. Tuy nhiên cần lưu ý rằng,
những nhận định và ý kiến của hòa giải viên chỉ có tính chất tham khảo và không
có tính chất ràng buộc đối với các bên tranh chấp. Việc các bên có đi đến thỏa
thuận hòa giải hay không và nội dung của thỏa thuận đó sẽ do các bên tự quyết
định.
Hòa giải mang tính bí mật
Khi tham gia vào quá trình hòa giải, các bên phải ký cam kết không tiết lộ
những thông tin có được từ quá trình hòa giải. Nếu việc hòa giải không thành và
các bên phải sử dụng trọng tài hay Tòa án để tiếp tục giải quyết vụ tranh chấp
thì những thông tin có được trong quá trình hòa giải sẽ không thể trở thành bằng
chứng để chống lại một trong các bên. Bản thân hòa giải viên cũng phải cam kết
giữ bí mật tất cả những thông tin do các bên cung cấp trong quá trình hòa giải.
Nếu việc hòa giải không thành và các bên phải sử dụng trọng tài hay Tòa án để
tiếp tục giải quyết vụ tranh chấp thì các bên cũng không được yêu cầu triệu tập
hòa giải viên với tư cách nhân chứng cho vụ tranh chấp.
Hòa giải viên phải độc lập và khách quan trong quá trình giải quyết
tranh chấp
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của quá trình hòa giải. “Độc
lập” và “khách quan” không có nghĩa hòa giải viên và một hay cả hai bên tranh
chấp không quen biết nhau, trên thực tế hòa giải viên và các bên tranh chấp có
thể cùng hoạt động trong một lĩnh vực. Nguyên tắc này đòi hỏi hòa giải viên không
được thể hiện thái độ thiên vị đối với bất cứ bên tranh chấp nào trong việc
điều khiển quá trình hòa giải cũng như trong việc đưa ra các nhận định hay ý
kiến tư vấn. Trong trường hợp một trong các bên cảm thấy hòa giải viên vi phạm
nguyên tắc độc lập và khách quan, bên đó có quyền yêu cầu thay đổi hòa giải
viên hoặc yêu cầu chấm dứt và rút lui khỏi quá trình hòa giải.
Hòa giải không làm ảnh hưởng đến việc các bên sử dụng các phương thức
giải quyết tranh chấp khác
Tùy thuộc vào yêu cầu của bản quy tắc hòa giải của từng trung tâm hòa giải,
nhìn chung, việc sử dụng phương thức hòa giải không làm ảnh hưởng đến việc các
bên sử dụng các phương thức giải quyết tranh chấp khác như trọng tài hay Tòa
án. Các bên có thể tiến hành hòa giải song song với quá trình tố tụng trọng tài
hay Tòa án11. Đây cũng chính là một điểm hấp dẫn thể hiện sự linh
hoạt của phương thức này.
3. Quy trình hòa giải
Trên thực tế, không có một quy trình hòa giải mang tính thống nhất trên toàn
thế giới mà mỗi trung tâm hòa giải và mỗi hòa giải viên sẽ áp dụng những quy
trình riêng phù hợp với nội dung và tính chất của vụ tranh chấp. Nhìn chung,
quy trình hòa giải thường bắt đầu bằng việc hai bên tranh chấp cùng đề nghị hòa
giải với hòa giải viên hoặc một tổ chức hòa giải; một bên cũng có thể đơn
phương liên hệ với hòa giải viên hoặc với một tổ chức hòa giải để yêu cầu tiến
hành hoà giải, khi đó hòa giải viên hoặc tổ chức hòa giải sẽ liên hệ và thuyết
phục phía bên kia tham gia hòa giải. Việc hòa giải chỉ được thực hiện sau khi
có sự đồng ý của cả hai bên tranh chấp. Trong quá trình hòa giải, hòa giải viên
sẽ áp dụng các kỹ năng giải quyết tranh chấp của mình nhằm giúp các bên thảo
luận và thương lượng với nhau để tìm ra giải pháp cuối cùng cho vụ tranh chấp.
Trong trường hợp các bên đạt được thỏa thuận, hòa giải viên sẽ giúp các bên
soạn thảo thỏa thuận hòa giải một cách chi tiết, bản thỏa thuận này có giá trị
pháp lý như một hợp đồng. Một trong các bên hoặc bản thân hòa giải viên có
quyền chấm dứt hòa giải vào bất cứ giai đoạn nào của quá trình hòa giải khi
thấy việc hòa giải sẽ không mang lại hiệu quả (ví dụ khi có bằng chứng để cho
rằng một trong các bên thiếu thiện chí…).
Như vậy, so với tố tụng trọng tài và Tòa án thì phương thức hòa giải rõ ràng
linh hoạt hơn cả về mặt thủ tục cũng như kết quả giải quyết vụ tranh chấp. Các
bên hoàn toàn làm chủ quy trình hòa giải cũng như quyết định nội dung thỏa
thuận về việc giải quyết vụ tranh chấp. Kinh nghiệm của các nước nơi hòa giải
phát triển cho thấy phương thức này cũng giúp các bên tiết kiệm thời gian và
chi phí hơn nhiều so với tố tụng trọng tài và tòa án. Ngoài ra, nguyên tắc bí
mật của hòa giải cũng giúp các bên bảo vệ được bí mật kinh doanh của mình, đặc
biệt là giữ gìn hình ảnh của doanh nghiệp mình trong mắt các đối tác và khách
hàng. Điều quan trọng nhất mà hòa giải có thể mang lại cho các doanh nghiệp đó
là việc duy trì mối quan hệ kinh doanh giữa các bên, điều này đặc biệt quan
trọng khi các bên tranh chấp vốn là những đối tác có mối quan hệ kinh doanh lâu
dài và có sự tín nhiệm nhất định đối với nhau. Khác với tính chất đối kháng của
tố tụng trọng tài và tòa án, mục tiêu của phương thức hòa giải là tạo ra không
khí thân thiện, mang tính xây dựng và tin tưởng giữa các bên tranh chấp, từ đó
giúp các bên đề ra biện pháp giải quyết vụ tranh chấp. Trong suốt quá trình hòa
giải, hòa giải viên phải tạo ra được bầu không khí cởi mở, hợp tác và khuyến
khích các bên trao đổi thảo luận với nhau nhằm tìm ra một giải pháp cho vụ
tranh chấp mà cả hai bên đều có thể chấp nhận.
4. Một số vấn đề pháp lý phát sinh khi phát triển phương thức hòa
giải thương mại tại Việt Nam
Vấn đề thực thi điều khoản hòa giải
Điều khoản hòa giải được hiểu là thỏa thuận giữa các bên về việc đưa vụ
tranh chấp sẽ hoặc đã phát sinh ra giải quyết bằng phương thức hòa giải. Theo
kinh nghiệm thực tiễn về hòa giải tại các nước phát triển, một điều khoản hòa
giải thông thường sẽ được soạn thảo như sau: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc
có liên quan đến hợp đồng này trước hết sẽ được giải quyết bằng phương thức hòa
giải tại… (tên của một trung tâm hòa giải)… phù hợp với bản Quy tắc hòa giải
của trung tâm này. Các bên cam kết sẽ tham gia hòa giải với thái độ thiện chí
và bị ràng buộc bởi thỏa thuận đạt được trong quá trình hòa giải”.
Ngoài ra, các bên cũng có thể quy định thêm về việc giải quyết vụ tranh chấp
tại Tòa án hay trọng tài nếu việc hòa giải không thành công và cam kết về việc
giữ bí mật các thông tin tài liệu có được trong quá trình hòa giải cũng như
việc yêu cầu triệu tập hòa giải viên với tư cách người làm chứng…
Cũng tương tự như điều khoản trọng tài, điều khoản hòa giải có thể được quy
định thành một điều khoản ngay trong hợp đồng giữa các bên hoặc được các bên
thoả thuận trong một hợp đồng riêng. Điều khoản này có thể được soạn thảo trước
hoặc sau khi xảy ra tranh chấp.
Vấn đề đặt ra là khi các bên đã có điều khoản hòa giải (ví dụ các bên thỏa
thuận tiến hành hòa giải tại Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam) và một bên
đơn phương khởi kiện tới Tòa án thì Tòa án sẽ thụ lý vụ án hay sẽ tạm dừng việc
thụ lý vụ án và yêu cầu các bên tiến hành hòa giải (tại VIAC) trước? Theo quy
định của pháp luật Việt Nam
hiện hành thì việc các bên có thỏa thuận hòa giải không phải là một căn cứ để
Tòa án từ chối thụ lý vụ án. Như vậy, việc các bên có thỏa thuận hòa giải trở
nên vô nghĩa hoặc cùng lắm cũng chỉ có ý nghĩa khuyến khích các bên giải quyết
tranh chấp bằng phương thức này, mà không hề có ý nghĩa ràng buộc của một quy
định trong hợp đồng. Nhiều nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực
hòa giải tại các nước phát triển đều cho rằng, việc Tòa án không công nhận và
yêu cầu các bên thực thi thỏa thuận hòa giải trước khi thụ lý vụ án là đi ngược
lại với những nguyên tắc cơ bản của hợp đồng và không hỗ trợ cho sự phát triển
của phương thức này12. Không ai bắt các bên tham gia vào thỏa thuận
hòa giải, do vậy, về nguyên tắc, các bên có trách nhiệm tôn trọng và thực thi
những điều mà họ đã thỏa thuận. Ngoài ra, về mặt chính sách, nhằm thúc đẩy sự
phát triển của phương thức hòa giải, góp phần đẩy mạnh việc xã hội hóa công tác
giải quyết tranh chấp nhằm giảm tải cho hệ thống Tòa án thì việc Tòa án tạm
dừng việc thụ lý vụ án và yêu cầu các bên tiến hành hòa giải trước là một việc
làm hết sức có ý nghĩa. Vấn đề cơ bản ở đây chính là sự cân nhắc giữa một bên
là việc đảm bảo quyền được tiếp cận hệ thống Tòa án của các tổ chức, cá nhân
trong xã hội với một bên là việc khuyến khích các bên giải quyết tranh chấp một
cách nhanh chóng và hiệu quả thông qua phương thức hòa giải, giảm tải công việc
cho các Tòa án. Hiện nay, pháp luật của một số nước như Anh, Australia, Hong
Kong, Singapore13… cũng đang đi theo xu hướng công nhận và cho thi
hành điều khoản hòa giải. Theo kinh nghiệm của các nước này, trong trường hợp
trong hợp đồng giữa các bên có điều khoản hòa giải, Tòa án sẽ chỉ tiến hành thụ
lý vụ án nếu (i) điều khoản hòa giải giữa các bên được quy định không rõ ràng
(ví dụ không quy định thời hạn dành cho việc hòa giải), hoặc (ii) đã hết thời
hạn dành cho việc hòa giải theo hợp đồng mà các bên không tiến hành hòa giải, hay
(iii) các bên đã tham gia vào quá trình hòa giải và đã hết thời hạn dành cho
việc hòa giải theo hợp đồng mà các bên không đạt được thỏa thuận. Nếu bên khởi
kiện không chứng minh được vụ tranh chấp thuộc một trong các trường hợp nói
trên, Tòa án sẽ tạm dừng quá trình tố tụng và yêu cầu các bên thực hiện điều
khoản hòa giải trước.
Vấn đề đảm bảo tính bí mật của quá trình hòa giải
Vấn đề này thực sự có khả năng trở thành rào cản pháp luật lớn nhất đối với
sự phát triển của phương thức hòa giải tại Việt Nam (đặc biệt là hòa giải tư) trong
thời gian sắp tới. Cũng giống như đối với phương thức trọng tài, nguyên tắc bí
mật được coi là nguyên tắc nền tảng và chính là điểm hấp dẫn của phương thức
hòa giải. Thực tiễn phát triển của phương thức hòa giải trên thế giới cho thấy,
chìa khóa thành công của phương thức này phụ thuộc rất nhiều vào sự cởi mở của
các bên trong việc chia sẻ các thông tin liên quan đến vụ tranh chấp. Nếu
nguyên tắc bí mật trong hòa giải không được đảm bảo thì các bên khó có thể
thẳng thắn trao đổi với nhau và với hòa giải viên về việc giải quyết vụ tranh
chấp và quá trình hòa giải sẽ rất dễ đi đến thất bại… Vấn đề đặt ra là liệu các
bên có “dám” trao đổi thẳng thắn và cởi mở với nhau không nếu như pháp luật
không có cơ chế nào để đảm bảo tính bí mật của các thông tin và tài liệu14
được trao đổi trong quá trình hòa giải? Tiếc rằng pháp luật tố tụng dân sự hiện
hành của Việt Nam
còn bỏ ngỏ vấn đề này. Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 chưa có quy định cụ thể
nào nhằm hạn chế quyền của Tòa án trong việc triệu tập hòa giải viên như là một
nhân chứng của vụ án. Điều 66, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 có quy định
người làm chứng được từ chối khai báo nếu lời khai của mình liên quan đến bí
mật nghề nghiệp. Liệu những thông tin mà hòa giải viên có được trong quá trình
hòa giải có được coi là bí mật nghề nghiệp và hòa giải viên có quyền từ chối
cung cấp những thông tin này? Mặt khác, pháp luật cũng chưa có quy định cụ thể
nào ngăn cấm hòa giải viên vi phạm cam kết của mình và tham gia tố tụng trọng
tài hay tố tụng tòa án với tư cách nhân chứng nhằm chống lại một bên. Về vấn đề
chứng cứ, pháp luật cũng chưa có quy định nhằm đảm bảo cho việc các chứng cứ
được các bên đưa ra trong quá trình hòa giải sẽ không được ra làm chứng cứ tại
Tòa án và trọng tài. Điều 97 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 quy định, Tòa án
không công bố công khai chứng cứ có liên quan đến bí mật nghề nghiệp và bí mật
kinh doanh theo yêu cầu chính đáng của đương sự. Việc các thông tin, tài liệu
được các bên đưa ra trong quá trình hòa giải có được coi là bí mật nghề nghiệp
hay không vẫn còn chưa rõ. Ngay cả nếu những thông tin, tài liệu này được coi
là bí mật nghề nghiệp hay bí mật kinh doanh thì pháp luật chỉ yêu cầu Tòa án
không công bố công khai chứ không yêu cầu Tòa án không sử dụng nhằm chống lại
một bên. Như vậy, vấn đề bảo mật các thông tin, tài liệu trong quá trình hòa
giải và vấn đề hạn chế việc triệu tập hòa giải viên với tư cách người làm chứng
vẫn là những vấn đề chưa được quy định rõ trong pháp luật Việt Nam.
Do đó, với mục tiêu khuyến khích sự phát triển của phương thức hòa giải như
là một biện pháp xã hội hóa công tác giải quyết tranh chấp nhằm giảm tải cho hệ
thống Tòa án, Bộ luật Tố tụng Dân sự cần có quy định cụ thể về việc hòa giải
viên có nghĩa vụ từ chối tham gia với tư cách người làm chứng trong quá trình
tố tụng Tòa án hay trọng tài sau này. Ít nhất pháp luật Việt Nam cũng cần ghi
nhận những hiểu biết và thông tin mà hòa giải viên có được trong quá trình hòa
giải là bí mật nghề nghiệp và hòa giải viên có nghĩa vụ từ chối khai báo những
thông tin này. Ngoài ra, tất cả những thông tin tài liệu do các bên đưa ra
trong quá trình hòa giải phải được đảm bảo bí mật và không thể trở thành chứng
cứ nhằm chống lại một bên trong tố tụng tại Tòa án hay trọng tài.
Vấn đề thực thi thỏa thuận hòa giải
Nói chung, pháp luật của nhiều nước chưa coi thỏa thuận hòa giải có giá trị
pháp lý như một phán quyết trọng tài để có thể được công nhận và cho thi hành
ngay, mà thường chỉ coi thỏa thuận hòa giải như một hợp đồng giữa các bên. Do
vậy, trong trường hợp các bên đạt được thỏa thuận giải quyết vụ tranh chấp
nhưng sau đó một bên không thực thi thỏa thuận này thì bên kia có quyền đệ đơn
tới Tòa án để giải quyết vụ tranh chấp và thỏa thuận hòa giải trở thành một
bằng chứng quan trọng. Thực tế cho thấy, trong những trường hợp như vậy, Tòa án
các nước thường tiến hành thủ tục tố tụng rất nhanh chóng, ghi nhận thỏa thuận
hòa giải và ra phán quyết có lợi cho bên bị vi phạm. Pháp luật hiện hành của
Việt Nam cũng đang đi theo hướng này, do vậy, đây không phải là một vấn đề lớn
đối với hệ thống pháp luật hiện hành của chúng ta.
Chú thích:
(1) Hiện nay, những thuật ngữ này được sử dụng tại Việt Nam một cách
thiếu nhất quán. Trong bài viết này, tác giả sử dụng thuật ngữ hòa giải, việc
các bên tự thỏa thuận với nhau không có sự tham gia của bên thứ ba sẽ được gọi
là thương lượng (tương đương với khái niệm ‘Negotiation’).
(2) Xem Goldberg, Sander & Rogers, Dispute Resolution: Negotiation,
Mediation and Other Processes, (1992), trang 103.
(3) Ví dụ hòa giải theo Quy tắc hòa giải của Trung tâm Trọng tài quốc tế
Việt Nam
(VIAC).
(4) Việt Nam chưa có hình thức tổ chức hòa giải chuyên nghiệp này.
(5) Trong đó có ICC, AAA, WIPO, LCIA, HKIAC, UNCITRAL…
(6) Trên thực tế vào năm 2007, 07 trung tâm hòa giải là Trung tâm hòa giải
Delhi (Ấn Độ), Trung tâm hòa giải Hồng Kông, Trung tâm hòa giải Indonesia,
Trung tâm hòa giải Malaysia, Trung tâm hòa giải Philippine, Trung tâm hòa giải
Singapore, Trung tâm hòa giải Thái Lan đã thành lập Hiệp hội Hòa giải châu Á
(AMA) với mục tiêu thúc đẩy sự phát triển của hoạt động hòa giải tại châu Á,
chia sẻ thông tin dữ liệu và những kinh nghiệm trong thực tiễn hoạt động, góp
phần thúc đẩy các hoạt động thương mại và đầu tư trong khu vực. Xem website của
Hiệp hội này tại < http://www.asianmediationassociation.org>.
(7)Những thông tin và số liệu trên được lấy từ website của SMC online
tại <http://www.mediation. com.sg/mediation statistics.htm>
(8) Xem kết quả bảo cáo ‘Dự án điều tra cơ bản: Thực trạng tranh chấp và
giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam và vai trò
của các thiết chế tư pháp, bổ trợ tư pháp’ do Viện Nghiên cứu khoa hoc pháp lý
– Bộ Tư pháp thực hiện trong bài ‘Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế –
Doanh nghiệp còn lúng túng’ trên Báo Người đại biểu nhân dân online tại
<http://www.daibieunhandan.vn/Trangchu/VN/tabid/66/CatID/7/ ContentID
/99439/Default.aspx#>
(9) Tuy vậy rất khó có thống kê chính xác về hình thức hòa giải này.
(10) Quy tắc hòa giải và Biểu phí hòa giải được đăng tại website của
VIAC tại http://www.viac.org.vn/vi-VN/Home/default.aspx. Rất tiếc, hiện nay
chưa thấy VIAC đưa ra con số thống kê cụ thể số lượng các vụ tranh chấp đã được
đưa ra hòa giải cũng như tỷ lệ thành công của việc hòa giải tại đây để giúp các
cá nhân, tổ chức và cộng đồng doanh nghiệp có thể đánh giá hoạt động hòa giải
của trung tâm này.
(11)Chú ý: khi tiến hành hòa giải tại Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC),
theo quy định của Quy tắc hòa giải của Trung tâm này thì các bên phải cam kết
sẽ không tiến hành tố tụng tại trọng tài hay Tòa án trong suốt quá trình hòa
giải.
(12)Ví dụ LV Katz, ‘Enforcing an ADR Clause – Are Good Intentions All
You Have?’, (1988) 26 American Business Law Journal 575; M Shirley & A
Wood, ‘Dispute Resolution Clauses’, (1991) 7 Queensland University of
Technology Law Journal 165; Joel Lee, ‘The Ènforceability ò Mediation in
Singapore’, Singapore Jỏunal of Legal Studies, (1999) 229-247…
(13) Ví dụ, xem Chỉ thị số 31 của Tòa án hướng dẫn về Hòa giải của Hồng
Kông tại <http://www.news.gov.hk/en/category/lawandorder/091229/html/091229en08004.htm>
theo đó, Tòa án Hồng Kông sẽ khuyến khích các bên tranh chấp sử dụng các phương
thức giải quyết tranh chấp thay thế (ADR) và trong quá trình diễn ra hoạt động
hòa giải giữa các bên, Tòa án có thể ra quyết định tạm dừng quá trình tố tụng
cho đến khi quá trình hòa giải kết thúc.
(14) Đặc biệt là các bí mật kinh doanh.
SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ - THS. LƯU HƯƠNG LY –
Giảng viên Khoa Pháp luật quốc tế, Đại học Luật Hà Nội
Trích dẫn từ:
http://www.nclp.org.vn/thuc_tien_phap_luat/hoa-giai-trong-thuong-mai-va-phat-trien-phuong-thuc-hoa-giai-trong-thuong-mai-o-viet-nam
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW (SUN LAW FIRM)


TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM
--------------------------------------------------------------------------------