Hoàn thiện các biện pháp bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán
Bảo vệ nhà đầu tư là vấn đề có tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của thị trường chứng khoán còn rất non trẻ như ở nước ta hiện nay, nhất là trong điều kiện chúng ta bắt đầu tham gia WTO đồng nghĩa với sự tham gia của các đối tác rất có tiềm lực và kinh nghiệm từ các nước. Để bảo vệ nhà đầu tư, đồng thời với việc không ngừng hoàn thiện pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, cần đặc biệt coi trọng việc hoàn thiện các biện pháp pháp luật bảo vệ họ một cách đồng bộ, bao gồm cả các biện pháp pháp luật có liên quan như hành chính, dân sự, hình sự…
1. Biện pháp hành chính
Theo quy định của Luật Chứng khoán (LCK) Luật Chứng
khoán sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2007., các biện
pháp hành chính được áp dụng bao gồm các biện pháp quản lý và các biện
pháp xử lý vi phạm hành chính, cụ thể như sau:
1.1. Biện pháp quản lý
a. Quản lý việc chào bán chứng khoán ra công chúng
Khi nhà đầu tư (NĐT) mua các chứng khoán (CK) được
chào bán tức là nhà đầu tư đã chuyển giao một khoản tiền cho tổ chức
phát hành và đổi lại, NĐT được sở hữu các CK – bằng chứng về quyền tài
sản (quyền sở hữu vốn trong công ty cổ phần hoặc quyền chủ nợ) và được
hưởng những lợi ích mà chứng khoán đó mang lại. Chất lượng và giá trị
của CK hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả hoạt động của tổ chức phát hành
và sự biến động của thị trường. Tuy nhiên, NĐT không thể trực tiếp kiểm
tra chất lượng và đánh giá được giá trị của CK như đối với các loại
hàng hoá thông thường khác mà chỉ căn cứ vào các thông tin liên quan
đến tổ chức phát hành và đợt phát hành để đánh giá giá trị của chứng
khoán khi quyết định đầu tư. Do đó, nếu tổ chức phát hành hoạt động kém
hiệu quả hoặc cố ý đưa ra những thông tin không chính xác về tình hình
tài chính và đợt phát hành thì sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của NĐT nói
riêng cũng như sự an toàn và hiệu quả của thị trường CK nói chung.
Chính vì vậy, pháp luật đã đặt ra những quy định nhằm quản lý chặt chẽ
việc chào bán CK ra công chúng.
Theo quy định của LCK , cơ quan có thẩm quyền
quản lý nhà nước đối với hoạt động chào bán CK là Uỷ ban Chứng khoán
Nhà nước (UBCKNN). Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động chào bán
CK ra công chúng bao gồm việc cấp Giấy chứng nhận chào bán CK ra công
chúng, xem xét gia hạn việc phân phối CK , yêu cầu báo cáo kết quả đợt
chào bán, đình chỉ hoặc huỷ bỏ chào bán CK ra công chúng… những nội
dung này được quy định tại Chương II của LCK . Tuy nhiên, LCK chưa quy
định cụ thể các hình thức chào bán CK ra công chúng cũng như các điều
kiện chào bán cụ thể đối với từng hình thức chào bán, nhất là việc chào
bán CK trong một số trường hợp đặc biệt (như chào bán CK của các doanh
nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi chuyển đổi
thành công ty cổ phần, chào bán CK của các tổ chức tài chính quốc tế).
Vì vậy, trong thời gian tới, Chính phủ cần sớm ban hành nghị định hướng
dẫn thi hành LCK để hướng dẫn cụ thể các vấn đề này.
b. Quản lý công ty đại chúng
Để bảo vệ quyền lợi của NĐT khi họ tham gia đầu tư
vào cổ phiếu của các công ty đại chúng, LCK quy định công ty đại chúng
phải thực hiện nghĩa vụ nộp Hồ sơ công ty đại chúng cho UBCKNN theo quy
định tại khoản 2 Điều 25 và Điều 26 LCK . UBCKNN có trách nhiệm công bố
tên, nội dung kinh doanh và các thông tin khác liên quan đến công ty
đại chúng trên phương tiện thông tin của UBCKNN. Đây chính là nguồn
thông tin làm cơ sở cho NĐT xem xét, đánh giá trước khi đưa ra quyết
định đầu tư vào CK của công ty đại chúng.
Bên cạnh đó, Luật còn quy định các tổ chức, cá nhân
trở thành cổ đông lớn của công ty đại chúng phải báo cáo với UBCKNN
theo Điều 29 LCK ; trường hợp tổ chức, cá nhân chào mua công khai (chào
mua cổ phiếu có quyền biểu quyết dẫn đến việc sở hữu từ 25% trở lên số
cổ phiếu đang lưu hành của một công ty đại chúng hoặc chào mua mà đối
tượng được chào mua bị bắt buộc phải bán cổ phiếu mà họ sở hữu), thì
phải gửi đăng ký chào mua đến UBCKNN và chỉ được thực hiện việc chào
mua công khai sau khi UBCKNN chấp thuận. Quy định này nhằm bảo vệ quyền
lợi của cổ đông nhỏ trong công ty đại chúng.
c. Quản lý thị trường giao dịch chứng khoán
Theo quy định của LCK , chỉ có SGDCK và TTGDCK mới
được phép tổ chức thị trường giao dịch CK . Ngoài hai chủ thể này,
không tổ chức, cá nhân nào được phép tổ chức thị trường giao dịch chứng
khoán (Điều 33 Luật Chứng khoán). Theo quy định của LCK thì SGDCK,
TTGDCK là pháp nhân thành lập và hoạt động theo mô hình công ty trách
nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần. Đây là một điểm mới, khác với quy
định của Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ về CK
và thị trường CK Theo Nghị định 144/2003 thì TTGDCK là đơn vị sự nghiệp
có thu, trực thuộc UBCKNN còn SGDCK là một pháp nhân tự chủ về tài
chính, chịu sự giám sát và quản lý của UBCKNN.. Tuy nhiên, cho đến nay
mới chỉ có hai TTGDCK, chưa thành lập SGDCK. Theo quy định của LCK thì
việc thành lập, giải thể, chuyển đổi cơ cấu tổ chức, hình thức sở hữu
của SGDCK, TTGDCK phải do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo đề nghị
của Bộ trưởng Bộ Tài chính chứ không thực hiện theo quy định của Luật
Doanh nghiệp; SGDCK, TTGDCK phải chịu sự quản lý, giám sát của UBCKNN.
Bộ Tài chính có thẩm quyền phê chuẩn Điều lệ và các chức vụ Chủ tịch
Hội đồng quản trị, Giám đốc SGDCK, TTGDCK sau khi có ý kiến của chủ
tịch UBCKNN theo quy định tại Điều 35 và Điều 36 LCK .
Thời hạn để thực hiện việc chuyển đổi TTGDCK hiện
nay thành SGDCK, TTGDCK theo quy định của LCK là 18 tháng, kể từ ngày
Luật có hiệu lực. Vì vậy, trong thời gian tới, Chính phủ cần sớm ban
hành Nghị định hướng dẫn vấn đề này.
d. Quản lý niêm yết chứng khoán
Niêm yết CK là việc đưa các chứng khoán có đủ điều
kiện vào giao dịch tại SGDCK hoặc TTGDCK (khoản 18 Điều 6 LCK ). SGDCK,
TTGDCK có quyền chấp thuận, huỷ bỏ niêm yết chứng khoán và giám sát
việc duy trì điều kiện niêm yết CK của các tổ chức niêm yết, đây cũng
là một điểm mới của LCK so với quy định của Nghị định 144/2003 (theo
Nghị định 144/2003, tổ chức phát hành muốn niêm yết chứng khoán phải
được UBCKNN cấp giấy phép). Tuy vậy, tổ chức phát hành khi niêm yết
chứng khoán tại SGDCK, TTGDCK phải đáp ứng các điều kiện về vốn, hoạt
động kinh doanh và khả năng tài chính, số cổ đông hoặc số người sở hữu
CK , nhằm bảo đảm CK được niêm yết, giao dịch tại SGDCK, TTGDCK phải là
hàng hoá có chất lượng cao, qua đó bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư.
Trong thời gian tới, để triển khai thi hành LCK , Chính phủ cần sớm ban
hành Nghị định hướng dẫn cụ thể về điều kiện, hồ sơ, thủ tục niêm yết
chứng khoán để tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý niêm yết CK .
e. Quản lý việc đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán
Theo quy định của pháp luật, để hoàn tất một giao
dịch CK , sau khi lệnh giao dịch CK được thực hiện sẽ được chuyển sang
hệ thống thanh toán, bù trừ, đăng ký và lưu ký CK . Hệ thống này sẽ
thực hiện việc bù trừ để xác định được bên sẽ phải giao chứng khoán và
bên phải trả tiền; thực hiện các nghiệp vụ chuyển giao CK và thanh toán
số tiền mua CK đó thông qua tài khoản của các bên; đăng ký các thông
tin về CK và quyền sở hữu CK của người nắm giữ CK và lưu giữ, bảo
quản CK của khách hàng, giúp khách hàng thực hiện các quyền của mình
đối với CK . Các hoạt động này góp phần quan trọng vào việc quản lý có
hiệu quả thị trường CK ; giảm rủi ro cho hoạt động của thị trường; giảm
thiểu chi phí cho các chủ thể tham gia thị trường CK ; đồng thời góp
phần giúp các đối tượng của hệ thống tăng nhanh vòng quay vốn; qua đó
góp phần bảo vệ quyền lợi cho các NĐT. Các hoạt động này sẽ do Trung
tâm lưu ký chứng khoán (TTLKCK) và các thành viên lưu ký (TVLK) thực
hiện. Theo Điều 42 LCK, TTLKCK là pháp nhân thành lập và hoạt động theo
mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định
của LCK . Việc thành lập, giải thể, chuyển đổi cơ cấu tổ chức, hình
thức sở hữu của TTLKCK do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo đề nghị
của Bộ trưởng Bộ Tài chính. TTLKCK chịu sự quản lý và giám sát của
UBCKNN. Bộ trưởng Bộ Tài chính có thẩm quyền phê chuẩn các chức vụ Chủ
tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc TTLKCK theo đề nghị của Hội đồng quản
trị sau khi có ý kiến của Chủ tịch UBCKNN. Đây cũng là một quy định mới
của LCK so với Nghị định 144/2003 và Quyết định của 189/2005/QĐ-TTg
ngày 27/7/2005 về việc thành lập TTLKCK Theo các quy định trước đây thì
TTLKCK là đơn vị sự nghiệp có thu, trực thuộc UBCKNN, có tư cách pháp
nhân, có con dấu và tài khoản riêng, kinh phí hoạt động do Ngân sách
Nhà nước cấp. Vì vậy, trong thời gian tới, Chính phủ cần sớm ban hành
nghị định hướng dẫn về việc chuyển TTLKCK sang mô hình mới theo quy
định của LCK .
g. Quản lý các tổ chức kinh doanh chứng khoán
Các tổ chức kinh doanh CK bao gồm các công ty CK ,
công ty quản lý quỹ đầu tư CK . Các chủ thể này tham gia vào thị trường
CK với nhiều tư cách: vừa là nhà môi giới CK , giúp các NĐT thực hiện
việc mua, bán CK để hưởng hoa hồng; vừa trực tiếp tham gia mua bán CK
để hưởng lợi. Điều đó có thể dẫn đến khả năng công ty CK vì quyền lợi
của mình mà làm thiệt hại đến lợi ích của NĐT là khách hàng của công
ty. Vì vậy, pháp luật có những quy định nhằm quản lý chặt chẽ hoạt động
của các tổ chức kinh doanh CK .
Theo Điều 59 LCK , công ty CK , công ty quản lý quỹ
đầu tư CK phải được UBCKNN cấp giấy phép thành lập và hoạt động (giấy
phép). Giấy phép này đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Để được cấp giấy phép, tổ chức kinh doanh chứng khoán phải có đủ các
điều kiện về trụ sở, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ hoạt động kinh
doanh chứng khoán, điều kiện về mức vốn pháp định, điều kiện về chứng
chỉ hành nghề kinh doanh CK của người điều hành và các nhân viên kinh
doanh của công ty. Trong quá trình hoạt động, nếu có sự thay đổi hoặc
tổ chức lại thì phải được sự chấp thuận của UBCKNN theo quy định tại
các Điều 68 và Điều 69 LCK . Trường hợp vi phạm các quy định tại khoản
1 và khoản 2 Điều 70 LCK thì có thể bị đình chỉ hoạt động hoặc bị thu
hồi giấy phép.
h. Thanh tra chứng khoán
Thanh tra CK là hoạt động quản lý nhà nước nhằm
phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về CK và
thị trường CK ; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách,
pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp
khắc phục; phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu
quả quản lý nhà nước; bảo vệ nhà đầu tư khỏi những rủi ro phát sinh từ
những hoạt động không đúng đắn của các đối tượng thanh tra.
1.2. Biện pháp xử lý vi phạm hành chính
Trong lĩnh vực CK , vi phạm hành chính có thể biểu
hiện dưới nhiều dạng, trong đó có những vi phạm ảnh hưởng trực tiếp đến
quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT như:
- Vi phạm quy định về chào bán CK ra công chúng: giả
mạo hồ sơ, công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật, sử dụng
thông tin ngoài Bản cáo bạch để thăm dò thị trường, phân phối CK không
đúng với nội dung của đăng ký chào bán…
- Vi phạm quy định về công ty đại chúng: không nộp
hồ sơ công ty đại chúng cho UBCKNN theo quy định của pháp luật, không
tuân thủ các quy định về quản trị công ty…
- Vi phạm quy định về niêm yết CK : có sự giả mạo
trong hồ sơ niêm yết CK ; không chấp hành đầy đủ các quy định về thời
gian, nội dung và phương tiện công bố thông tin về việc niêm yết…
- Vi phạm quy định về hoạt động kinh doanh chứng
khoán và chứng chỉ hành nghề chứng khoán: không thực hiện đúng quy định
của LCK về quản lý tiền, chứng khoán của khách hàng; làm trái lệnh của
NĐT ; không thực hiện chế độ bảo mật thông tin của khách hàng; cho mượn
tiền, chứng khoán trên tài khoản của khách hàng; cầm cố hoặc sử dụng
tiền, chứng khoán trên tài khoản của khách hàng khi chưa được khách
hàng uỷ thác…
- Vi phạm quy định về giao dịch chứng khoán: sử dụng
thông tin nội bộ để mua, bán CK cho chính mình hoặc cho người khác;
tiết lộ, cung cấp thông tin nội bộ hoặc tư vấn cho người khác mua, bán
CK trên cơ sở thông tin nội bộ; thao túng giá CK , tạo ra giá CK giả
tạo, giao dịch giả tạo…
- Vi phạm quy định về đăng ký, lưu ký, bù trừ và
thanh toán CK : xác nhận số liệu, chuyển giao CK không đúng thời hạn;
sửa chữa giả mạo chứng từ trong thanh toán; vi phạm chế độ bảo quản CK
; chế độ đăng ký, lưu ký, bù trừ, thanh toán CK ; chế độ bảo mật tài
khoản lưu ký của khách hàng; không cung cấp kịp thời danh sách người
nắm giữ CK cho tổ chức phát hành…
- Vi phạm quy định về công bố thông tin: các chủ thể
có nghĩa vụ công bố thông tin như tổ chức phát hành, công ty đại chúng,
tổ chức niêm yết, công ty CK, công ty quản lý quỹ và công ty đầu tư CK
công bố thông tin không đầy đủ, kịp thời, đúng hạn, đúng phương tiện
theo quy định, công bố thông tin sai sự thật hoặc làm lộ bí mật số
liệu, tài liệu hoặc không công bố thông tin theo quy định của LCK …
Điều 119 LCK quy định: tổ chức, cá nhân có hành vi
vi phạm hành chính nêu trên có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo
các hình thức sau:
- Hình thức xử phạt chính: phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền;
- Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức cá
nhân vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ
sung bao gồm: đình chỉ hoạt động; thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận
liên quan đến hoạt động chứng khoán và thị trường CK , chứng chỉ hành
nghề CK ; tịch thu toàn bộ các khoản thu từ việc thực hiện các hành vi
vi phạm mà có và số CK được sử dụng để vi phạm.
Ngoài các hình thức xử phạt nêu trên, tổ chức, cá
nhân vi phạm còn phải thực hiện các biện pháp như: buộc chấp hành quy
định của pháp luật; buộc huỷ bỏ, cải chính những thông tin sai lệch,
thông tin sai sự thật; buộc phải thu hồi số CK đã phát hành, hoàn trả
tiền đặt cọc hoặc tiền mua CK cho các nhà đầu tư.
Theo quy định tại Điều 120 LCK thì thẩm quyền xử
phạt vi phạm hành chính trong hoạt động CK và thị trường CK thuộc về
Chánh Thanh tra CK và Chủ tịch UBCKNN, theo đó Chánh Thanh tra CK có
quyền áp dụng các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền,
còn Chủ tịch UBCKNN có quyền áp dụng tất cả các hình thức xử phạt
chính, xử phạt bổ sung và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo
quy định tại Điều 119 LCK .
LCK cũng quy định giao cho Chính phủ quy định cụ thể
thẩm quyền, mức độ xử phạt đối với từng hành vi vi phạm hành chính
trong hoạt động CK và thị trường CK . Vì vậy, trong thời gian tới Chính
phủ cần khẩn trương ban hành nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành
chính trong hoạt động CK và thị trường CK để cụ thể hoá các quy định
của LCK , thay thế cho Nghị định 161/2004/NĐ-CP ngày 7/9/2004.
2. Biện pháp giải quyết tranh chấp về đầu tư chứng khoán
Trong quan hệ về đầu tư CK , khi xảy ra tranh chấp,
ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT , các bên tranh chấp có
thể giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hoà giải hoặc yêu cầu
Trọng tài hoặc Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
2.1. Biện pháp thương lượng
Thương lượng là biện pháp giải quyết tranh chấp theo
đó các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, thoả thuận để giải quyết các
bất đồng, mâu thuẫn mà không cần có sự tham gia của bên thứ ba. Pháp
luật về CK và thị trường CK của một số nước trên thế giới còn coi
thương lượng là một điều kiện bắt buộc trước khi các bên sử dụng các
hình thức giải quyết tranh chấp khác. Ví dụ: khoản 2.2. Điều 202 Luật
về chứng khoán và giao dịch chứng khoán Hàn Quốc quy định: khi nhận
được yêu cầu giải quyết tranh chấp của các bên liên quan đến việc mua,
bán hoặc các giao dịch chứng khoán khác thì trưởng ban giám sát của
UBCK Hàn Quốc có thể thông báo cho các bên liên quan về việc yêu cầu tự
thương lượng, hoà giải trong vòng 30 ngày, kể từ khi có yêu cầu này.ở
Việt Nam, trong các nghị định về CK và thị trường CK trước đây và Điều
131 LCK cũng có quy định “tranh chấp phát sinh trong hoạt động CK và
thị trường CK tại Việt Nam có thể được giải quyết thông qua thương
lượng”. Tuy nhiên, thủ tục thương lượng như thế nào và việc bảo đảm thi
hành các giải pháp đã được thoả thuận trên cơ sở thương lượng ra sao
thì chưa có quy định pháp luật điều chỉnh, chính vì vậy cơ chế giải
quyết tranh chấp bằng thương lượng chưa phát huy được hiệu quả mặc dù
nó có ưu điểm là giảm thiểu được xung đột xã hội và chi phí xã hội, bảo
vệ được uy tín, bí mật kinh doanh của các bên.
2.2. Biện pháp hoà giải
Khác với thương lượng, hòa giải là một biện pháp
giải quyết tranh chấp đòi hỏi phải có sự tham gia của một bên thứ ba,
đóng vai trò làm trung gian hoà giải, để giúp các bên phân tích, nhận
thức rõ vấn đề tranh chấp, hỗ trợ, thuyết phục các bên tìm kiếm các
giải pháp nhằm giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn. Tuy nhiên, bên thứ
ba là trung gian hoà giải không quyết định tranh chấp của các bên và
các bên có quyền chấm dứt vai trò của bên thứ ba bất kỳ lúc nào. Thực
tế cho thấy, kết quả hoà giải phụ thuộc rất nhiều vào uy tín, kinh
nghiệm và kỹ năng của bên trung gian hoà giải.
Trước đây, theo quy định của Nghị định 144 thì
“Trung tâm giao dịch CK , Sở giao dịch CK và UBCKNN có thể làm trung
gian hoà giải các tranh chấp phát sinh” (khoản 1 Điều 113 Nghị định
144). Điều 37 LCK cũng quy định SGDCK, TTGDCKcó quyền làm trung gian
hoà giải theo yêu cầu của thành viên giao dịch khi phát sinh tranh chấp
liên quan đến hoạt động giao dịch CK . Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, nếu
tranh chấp phát sinh giữa NĐT với thành viên giao dịch hoặc giữa thành
viên giao dịch với các chủ thể có liên quan trong hoạt động giao dịch
chứng khoán thì thành viên giao dịch có quyền đề nghị SGDCK, TTGDCK làm
trung gian hoà giải, vậy nhà đầu tư có quyền này không? nếu NĐT không
có quyền đề nghị SGDCK, TTGDCK làm trung gian hoà giải thì có thể yêu
cầu tổ chức, cá nhân nhân khác làm trung gian hoà giải được hay không?
Kết quả hoà giải thành có mang tính bắt buộc đối với các bên tranh chấp
và có được bảo đảm thi hành hay không? Mặt khác, hoà giải có phải là
thủ tục bắt buộc trước khi NĐT sử dụng các hình thức giải quyết tranh
chấp khác không?… Những vấn đề này cần phải có văn bản hướng dẫn thi
hành.
2.3. Biện pháp trọng tài
Trọng tài là một biện pháp giải quyết tranh chấp khá
phổ biến trên thế giới. ở Việt Nam, việc giải quyết tranh chấp trong
hoạt động CK bằng trọng tài cũng đã được quy định trong các Nghị định
48/1998, Nghị định 144/2003 và tại Điều 131 LCK . Tuy nhiên, LCK không
quy định cụ thể thẩm quyền của trọng tài thương mại cũng như trình tự,
thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài mà những vấn đề này được
thực hiện theo quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 và các
văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.
Theo thủ tục trọng tài, thì tranh chấp về đầu tư CK
sẽ được đưa ra trọng tài giải quyết nếu giữa các bên (NĐT và chủ thể có
liên quan) đã có thoả thuận trọng tài. Hội đồng trọng tài (do Trung tâm
Trọng tài tổ chức hoặc do các bên thành lập) sẽ quyết định tranh chấp
của các bên. Quyết định của Hội đồng trọng tài có hiệu lực bắt buộc đối
với các bên tranh chấp, các bên phải thi hành, trừ trường hợp Toà án
huỷ quyết định trọng tài theo quy định của Pháp lệnh trọng tài thương
mại.
Một vấn đề vướng mắc hiện nay trong việc giải quyết
tranh chấp trong hoạt động CK theo thủ tục trọng tài là việc xác định
thẩm quyền của trọng tài thương mại. Theo Điều 2 Pháp lệnh trọng tài
thương mại 25/2/2003 thì Trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết
các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại. Vậy, hoạt động
đầu tư CK có phải là hoạt động thương mại không? Nếu theo quy định của
Luật Thương mại 2005 thì hoạt động thương mại là hoạt động của thương
nhân nhằm mục đích sinh lợi, mà thương nhân là tổ chức kinh tế được
thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập,
thường xuyên và có đăng ký kinh doanh (Điều 6 Luật Thương mại). Trong
quan hệ đầu tư CK , NĐT có thể là cá nhân không có đăng ký kinh doanh
hoặc là tổ chức đầu tư CK (công ty CK , công ty bảo hiểm, các quỹ đầu
tư…). Vậy nếu căn cứ vào quy định nêu trên thì chỉ khi quan hệ đầu tư
có sự tham gia của NĐT là tổ chức mới thoả mãn các điều kiện của hoạt
động thương mại. Mặt khác, nếu căn cứ vào khoản 1 Điều 29 BLTTDS thì
tranh chấp về kinh doanh, thương mại phải là tranh chấp giữa cá nhân,
tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
Như vậy, quan hệ đầu tư của các NĐT cá nhân, không có đăng ký kinh
doanh thì chỉ là hành vi dân sự, tranh chấp phát sinh từ hoạt động đầu
tư này có thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại không?
Vấn đề này cần được hướng dẫn cụ thể. Chúng tôi cho rằng, nên mở rộng
thẩm quyền cho Trọng tài thương mại được giải quyết cả các tranh chấp
này khi các bên có thoả thuận trọng tài.
2.4. Biện pháp tố tụng tư pháp
Tranh chấp trong quan hệ đầu tư CK có thể được Toà
án giải quyết theo thủ tục tố tụng tư pháp khi có một bên khởi kiện ra
trước Toà, yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Toà án với tư cách là cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ quyết định
tranh chấp của các bên. Bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp
lý bắt buộc đối với các bên tranh chấp, các bên phải thi hành theo thủ
tục thi hành án dân sự. Việc giải quyết tranh chấp được tiến hành theo
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (BLTTDS).
Vấn đề cần lưu ý là việc xác định Toà án có thẩm
quyền giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư CK . Để làm rõ vấn
đề này phải xuất phát từ tính chất của quan hệ đầu tư CK có tranh chấp.
Trong hoạt động đầu tư CK , tranh chấp phát sinh có thể là tranh chấp
hợp đồng Ví dụ: hợp đồng mở tài khoản giữa công ty chứng khoán và nhà
đầu tư là khách hàng của công ty; hợp đồng quản lý danh mục đầu tư; hợp
đồng tư vấn đầu tư chứng khoán… ; tranh chấp về mua, bán CK ; tranh
chấp về quyền sở hữu CK ; tranh chấp giữa các NĐT là cổ đông của công
ty với nhau, giữa cổ đông với công ty liên quan đến thành lập, hoạt
động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ
chức của công ty, phân phối lợi nhuận…
Để xác định thẩm quyền của Toà án trong việc giải
quyết các tranh chấp nêu trên, chúng tôi cho rằng cần phải căn cứ vào
quy định tại Điều 25, Điều 29 và Điều 33 BLTTDS. Theo đó, thẩm quyền
giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư CK được xác định như sau:
- Trường hợp tranh chấp về mua, bán CK (mua bán cổ
phiếu, trái phiếu hoặc các CK khác) phát sinh giữa các NĐT với các chủ
thể có liên quan mà các bên tranh chấp đều có đăng ký kinh doanh và đều
có mục đích lợi nhuận, hoặc tranh chấp phát sinh giữa các nhà đầu tư là
cổ đông của công ty với nhau, giữa cổ đông với công ty liên quan đến
thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển
đổi hình thức tổ chức của công ty, phân phối lợi nhuận, thì được coi là
tranh chấp về kinh doanh, thương mại theo quy định của Điều 29 BLTTDS
và Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đó theo thủ tục sơ thẩm
là Toà kinh tế Toà án nhân dân cấp tỉnh;
- Trường hợp tranh chấp về đầu tư CK là tranh chấp
về hợp đồng dân sự hoặc về quyền sở hữu CK thì được coi là tranh chấp
về dân sự theo quy định tại Điều 25 BLTTDS và Toà án có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp đó theo thủ tục sơ thẩm là Toà án nhân dân cấp huyện
hoặc là Toà dân sự Toà án nhân dân cấp tỉnh (nếu có đương sự hoặc tài
sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự Việt
Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài).
Tuy nhiên, trên thực tế việc phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa Toà kinh tế và Toà dân sự cũng gặp phải không ít những khó khăn,
vướng mắc, nhất là trong quan hệ về đầu tư CK, việc xác định tính chất
của quan hệ đầu tư là tranh chấp về kinh doanh, thương mại hay tranh
chấp về dân sự là không đơn giản. Ví dụ: quan hệ giữa NĐT là cá nhân
với công ty CK trong việc mua, bán CK thì được coi là quan hệ kinh
doanh, thương mại (điểm l khoản 1 Điều 29 BLTTDS); nhưng cũng là quan
hệ giữa NĐT và công ty CK đó trong hợp đồng tư vấn đầu tư CK thì lại
được coi là tranh chấp về hợp đồng dân sự, điều này rõ ràng có điểm
chưa hợp lý, thiếu sức thuyết phục.
Mặt khác, việc hiểu như thế nào là “tranh chấp về
mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác” cũng còn vướng
mắc: hiểu theo nghĩa đó là tranh chấp giữa bên mua và bên bán trong
việc mua bán CK hay là tất cả các tranh chấp liên quan đến việc mua,
bán CK (ví dụ: tư vấn về mua bán chứng khoán; môi giới mua, bán CK;
thực hiện các thủ tục mua, bán CK …). Vấn đề này cũng cần có hướng dẫn
cụ thể.
3. Biện pháp hình sự
LCK đã quy định việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một số hành vi vi phạm trong hoạt động CK và thị trường CK, cụ thể là:
- Hành vi giả mạo hồ sơ đăng ký chào bán CK ra công chúng (khoản 1 Điều 121) và giả mạo hồ sơ niêm yết CK (khoản 1 Điều 123);
- Hành vi cố ý thông tin sai lệch hoặc che giấu sự
thật, sử dụng thông tin ngoài Bản cáo bạch để thăm dò thị trường, phân
phối CK không đúng với nội dung của đăng ký chào bán về loại CK, thời
hạn phát hành và khối lượng tối thiểu theo quy định, thông báo phát
hành trên các phương tiện thông tin đại chúng không đúng nội dung và
thời gian quy định (khoản 2 Điều 121);
- Hành vi lợi dụng chức trách, nhiệm vụ để cho mượn
tiền, CK trên khoản của khách hàng; cầm cố hoặc sử dụng tiền, CK trên
tài khoản của khách hàng khi chưa được khách hàng uỷ thác (khoản 3 Điều
125);
- Hành vi sử dụng thông tin nội bộ để mua, bán CK ; tiết lộ thông tin hoặc đề nghị người khác mua, bán CK (khoản 1 Điều 126);
- Hành vi thao túng giá chứng khoán, tạo ra giá CK giả tạo, giao dịch giả tạo (khoản 3 Điều 126);
- Hành vi cố ý cung cấp tài liệu giả, làm giả, làm
sai lệch hoặc tiêu huỷ tài liệu giao dịch để lừa đảo; dụ dỗ khách hàng
mua, bán CK (khoản 4 Điều 126);
- Hành vi tạo dựng và tuyên truyền thông tin sai sự
thật gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thị trường CK, gây lũng đoạn thị
trường giao dịch CK (khoản 5 Điều 126);
- Hành vi vi phạm quy định về thời hạn xác nhận số
liệu; chuyển giao CK; sửa chữa giả mạo chứng từ trong thanh toán; vi
phạm chế độ bảo quản CK; chế độ đăng ký, lưu ký, bù trừ, thanh toán CK;
chế độ bảo mật tài khoản lưu ký của khách hàng; không cung cấp đầy đủ,
kịp thời danh sách người nắm giữ CK cho tổ chức phát hành (khoản 1 Điều
127);
Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành
vi vi phạm nêu trên phải căn cứ vào quy định của BLHS. Tuy nhiên, BLHS
hiện hành lại chưa có quy định cụ thể về các tội danh trong hoạt động
CK và thị trường CK. Hiện nay, có một số tội danh được quy định trong
Bộ luật hình sự 1999 (BLHS) có thể vận dụng để truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với một số hành vi phạm tội trong lĩnh vực CK như: tội cố ý
làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm
trọng (Điều 165 BLHS); tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS);
tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142 BLHS); tội làm giả con dấu, tài
liệu của cơ quan, tổ chức (Điều 267 BLHS); tội cố ý làm lộ bí mật công
tác (Điều 286 BLHS)… Tuy vậy, có những hành vi không thể căn cứ vào các
quy định của BLHS hiện hành để xử lý vì không phù hợp hoặc Bộ luật
chưa có quy định. Ví dụ: hành vi sử dụng thông tin nội bộ để mua, bán
CK; tiết lộ thông tin hoặc đề nghị người khác mua, bán CK (pháp luật
của một số nước gọi hành vi này là giao dịch nội gián); hành vi thao
túng giá CK, tạo ra giá CK giả tạo, giao dịch giả tạo (hành vi lũng
đoạn thị trường)… Đây là những hành vi vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc
công bằng, công khai, minh bạch của hoạt động CK và thị trường CK, ảnh
hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của NĐT, cần phải được quy định
thành các tội danh cụ thể trong BLHS.
SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP - THS. HOÀNG THỊ QUỲNH CHI – Viện Khoa học kiểm sát – VKSNDTC
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------