Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy cơ cấu nại nên kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng
Tư tưởng kinh tế cốt lõi trong các văn kiện của Đại hội Đảng lần thứ XI là tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững. Tiền đề để thực hiện thành công nhiệm vụ này là triển khai hiệu quả ba đột phá chiến lược; trong đó, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường vừa là một đột phá then chốt, có tác động trực tiếp đến quá trình tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, lại là nhiệm vụ không đòi hỏi nhiều nguồn lực tài chính, nếu nhận thức đúng và quyết tâm cao có thể hoàn thành cơ bản trong một thời gian tương đối ngắn.
Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, nước ta
đã đạt được những thành tựu quan trọng trong việc xây dựng thể chế kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhờ đó, đã huy động được các
nguồn lực cho phát triển, bảo đảm tốc độ tăng trưởng cao, tạo nhiều việc
làm và cải thiện đời sống nhân dân.
Tuy nhiên, thể chế kinh tế thị trường vẫn chưa đồng
bộ, các yếu tố của kinh tế thị trường chưa hình thành đầy đủ. Thị trường
đất đai còn nhiều vướng mắc. Thị trường tài chính phát triển không cân
đối, thị trường trái phiếu còn sơ khai, thị trường chứng khoán thiếu
chiều sâu, chưa trở thành một kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh
tế, đang dồn gánh nặng lên thị trường tín dụng, làm cho thị trường này
rất dễ bị tổn thương. Thị trường khoa học công nghệ chậm phát triển. Thị
trường lao động tuy đã khá hoàn chỉnh nhưng chất lượng nguồn nhân lực
thấp cùng với sự bất hợp lý về tiền lương giữa các khu vực đang là rào
cản lớn cho việc chuyển dịch lao động đến những lĩnh vực thiết yếu trong
quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công. Giá cả một số hàng hóa và
dịch vụ chưa bù đắp được chi phí, chưa theo cơ chế thị trường, làm cản
trở việc thu hút nguồn lực và công nghệ cao cho phát triển.
Thể chế kinh tế thị trường là một chỉnh thể gồm nhiều
loại thị trường vận động đồng bộ trong chỉnh thể đó. Một loại thị
trường không phát triển đầy đủ sẽ kìm giữ sự vận động của các thị trường
khác và làm cản trở sự vận động chung. Trong bối cảnh đó, rất dễ dẫn
đến sự can thiệp hành chính vào các quá trình kinh tế. Sự can thiệp này
có thể giải quyết những khó khăn trước mắt nhưng chi phí sẽ lớn hơn cơ
hội tạo ra và làm sai lệch quá trình phát triển. Rốt cuộc, những vấn đề
cơ bản vẫn không được giải quyết. Đây có thể là một nghịch lý trong sự
vận động của tư duy mà những người làm công tác quản lý phải nhận thức
được để có cách hành xử đúng đắn và nhất quán.
Từ thực tiễn này, trong năm 2012, phải tập trung
sức hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường theo quan điểm đã được Đại hội
Đảng lần thứ XI đã xác định.
Trong điều kiện toàn cầu hóa và cạnh tranh gay gắt,
để đất nước có thể tăng tốc phát triển, rút ngắn khoảng cách với các
nước trong khu vực, phải xây dựng thể chế kinh tế thị trường hiện đại,
tạo điều kiện cho các nguồn lực dịch chuyển trong các ngành và đến các
vùng của đất nước theo tín hiệu của thị trường quanh trục lợi nhuận bình
quân, bảo đảm sự phát triển hài hòa, cân đối của nền kinh tế. Điều này
sẽ kích thích các doanh nghiệp phát triển nguồn nhân lực, ứng dụng và
sáng tạo công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý mới, tạo lập lợi thế
cạnh tranh động để tìm kiếm lợi nhuận vượt trội so với các chủ thể kinh
doanh khác, qua đó thúc đẩy sự chuyển dịch tương đối liên tục cơ cấu đầu
tư, sản xuất, tạo ra một nền kinh tế có khả năng sáng tạo cao với nhiều
sản phẩm mới, bảo đảm hiệu quả và sức cạnh của nền kinh tế. Đây chính
là biện chứng của sự phát triển.
Phải từ những đặc điểm của thể chế kinh tế thị trường
hiện đại để làm chuẩn mực cho quá trình hoàn thiện thể chế. Có thể nêu
ra những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, các loại thị trường phát triển
đồng bộ, các yếu tố của kinh tế thị trường hình thành đầy đủ, vận động
cùng nhịp, hỗ trợ lẫn nhau, cùng tương tác trong một chỉnh thể thống
nhất. Đây là điều kiện để thị trường vận hành thông suốt, các nguồn lực
dịch chuyển thuận lợi, được phân bổ hợp lý, hiệu quả.
Trong năm 2012 và cả những năm tiếp theo, phải tập
trung sức sửa đổi Luật đất đai, tạo điều kiện hình thành loại thị trường
này, thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của thị trường bất động sản; phát
triển thị trường trái phiếu, mở rộng thị trường bảo hiểm; phát triển
mạnh thị trường khoa học công nghệ. Đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân
lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với cải cách tiền lương,
tạo điều kiện cho thị trường lao động vận hành thông suốt. Kiên trì
thực hiện lộ trình giá thị trường đối với những sản phẩm Nhà nước còn
định giá…
Thứ hai, thể chế kinh tế thị trường hiện đại
đòi hỏi phải tạo lập được môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ
thể tham gia thị trường. Cạnh tranh là thuộc tính của kinh tế thị
trường, là một trong những tiêu chí đo lường tính thị trường của nền
kinh tế. Một thị trường cạnh tranh cao có tác dụng kiềm giữ giá tốt hơn
sự kiểm soát giá của nhà nước. Điều quan trọng là cạnh tranh buộc doanh
nghiệp phải tiết giảm chi phí, nâng cao năng suất, bảo đảm hiệu quả.
Chính phủ sẽ chỉ đạo rà soát, đánh giá mức độ cạnh tranh trong từng
ngành sản xuất, dịch vụ, loại bỏ sự phân biệt đối xử còn tồn tại trong
thực tế giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Hoàn thiện
pháp luật về cạnh tranh, kiểm soát độc quyền tự nhiên; tăng cường năng
lực của cơ quan bảo vệ tài sản trí tuệ và cơ quan quản lý cạnh tranh
trong việc xử lý các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh và lợi dụng vị
thế thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh.
Thứ ba, thực hiện công khai minh bạch và
trách nhiệm giải trình về các chính sách quản lý, các đề án phát triển
cũng như trong hoạt động của các chủ thể kinh doanh. Thể chế kinh tế thị
trường cùng với tác động của quá trình mở cửa, hội nhập gắn liền với
việc hình thành cấu trúc đa sở hữu và cơ cấu đa chủ thể kinh tế dẫn đến
sự hình thành các “nhóm lợi ích”. Về khách quan, các “nhóm lợi ích” này
có thể tác động đến quá trình ra quyết định. Công khai minh bạch không
những tạo cơ hội bình đẳng trong tiếp cận thông tin, mà quan trọng hơn,
thực hiện công khai minh bạch và đề cao trách nhiệm giải trình, tạo điều
kiện cho người dân giám sát các quyết định của các cơ quan quản lý, là
biện pháp cơ bản để ngăn ngừa tham nhũng và sự tác động của các “nhóm
lợi ích” vào quá trình ra quyết định, bảo đảm cho các quyết định theo
chuẩn “giá trị chung”, vì lợi ích của đất nước. Công khai minh bạch cũng
hạn chế đầu cơ, giảm chi phí kinh doanh và tăng hiệu quả của thị
trường.
Trong những năm qua, nhờ thực hiện Luật ban hành các
văn bản quy phạm pháp luật cũng như hoạt động chất vấn trong các Kỳ họp
Quốc Hội và Hội đồng nhân dân các cấp, chúng ta đã đạt được những tiến
bộ rất lớn về thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình
của các cơ quan Nhà nước. Tuy vậy, kết quả này vẫn chưa đáp ứng được yêu
cầu.
Từ quan điểm chính trị chủ đạo là Đảng và Nhà nước ta
phải bảo đảm quyền của người dân trong tiếp cận thông tin và phản biện
xã hội, Chính phủ sẽ nghiên cứu hoàn thiện các quy định về công khai
thông tin và quyền tiếp cận thông tin, đồng thời tăng cường đối thoại
chính sách, các đề án phát triển giữa các cơ quan quản lý Nhà nước với
các chuyên gia độc lập và người dân, không chỉ ở công đoạn “hậu kiểm”
như đang làm hiện nay mà quan trọng hơn là ở công đoạn “tiền kiểm”,
trước khi các quyết định được ban hành. Tiếp tục đổi mới và nâng cao
chất lượng hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn, tập trung vào những
nội dung thuộc chính sách phát triển và tác động của nó đến các tầng lớp
dân cư.
Thứ tư, thể chế kinh tế thị trường hiện đại
trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu
rộng đòi hỏi phải định vị lại mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường.
Theo đó, Nhà nước chuyển từ việc can thiệp trực tiếp vào các quá trình
kinh tế sang thực hiện chức năng kiến tạo phát triển: bảo đảm ổn định
kinh tế vĩ mô, tạo lập môi trường thuận lợi cho đầu tư và kinh doanh;
tạo cơ chế phát triển và nâng cao chất lượng các dịch vụ công.
Một thách thức đặt ra cho quản lý của Nhà nước trong
điều kiện toàn cầu hóa là mỗi biến động trên thị trường thế giới tác
động rất nhanh, rất mạnh đến thị trường trong nước. Tình hình đó đòi hỏi
Nhà nước phải nâng cao năng lực dự báo và khả năng phản ứng chính sách
nhằm hạn chế những tác động xấu đến nền kinh tế. Kinh tế thi trường và
toàn cầu hóa cũng làm cho một bộ phận dân cư dễ bị tổn thương, làm gia
tăng chênh lệch giàu nghèo. Nhà nước cần có các chính sách đúng đắn, sử
dụng những công cụ điều tiết nhằm khắc phục mặt trái của kinh tế thị
trường và quá trình toàn cầu hoá, bảo đảm tăng trưởng kinh tế đi đôi với
tiến bộ và công bằng xã hội. Cần khẳng định rằng thị trường hoạt động
theo quy luật của nó, trước hết là quy luật cạnh tranh, quy luật lợi
nhuận. Sự phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa là chức năng của
Nhà nước. Một mặt, Nhà nước cần phát huy “sức mạnh tự điều chỉnh” của
thị trường, m��t khác phải “hoá giải” được tác động tiêu cực của thị
trường, bảo đảm định hướng của sự phát triển. Từ đó, vai trò của Nhà
nước không hề giảm đi mà phải được tăng cường trên những nội dung mới,
theo những phương thức tác động mới.
Phải từ những quan điểm cơ bản về xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà Đại hội Đảng lần thứ XI đề ra mà hoàn
thiện bộ máy nhà nước các cấp cả về chức năng, cơ cấu tổ chức, các quy
định về phân cấp và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhà nước và thị
trường.
Thứ năm, một thể chế kinh tế thị trường
hiện đại phải hướng về người tiêu dùng, lấy người tiêu dùng làm chủ thể.
Phải không ngừng hoàn thiện các thiết chế bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng, phát triển các trung tâm bảo vệ người tiêu dùng. Chính phủ sẽ tập
trung chỉ đạo hoàn thiện các tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn vệ sinh an
toàn thực phẩm; tăng cường công tác kiểm tra hàng hoá nhập khẩu và hàng
hoá lưu thông trên thị trường nội địa; bổ sung các chế tài xử lý nghiêm
các vi phạm. Rà soát, hoàn thiện các văn bản hướng dẫn Luật bảo vệ người
tiêu dùng để đưa pháp luật vào cuộc sống; tạo lập các cơ sở pháp lý để
khuyến khích phát triển các tổ chức phi chính phủ về bảo vệ người tiêu
dùng.
Một thể chế kinh tế thị trường hiện đại với những đặc
điểm nêu trên sẽ tạo điều kiện để đất nước tận dụng cơ hội, vượt qua
thách thức trong một thế giới đang toàn cầu hoá ngày càng sâu rộng và
cạnh tranh gay gắt.
II
Khi nói các đột phá chiến lược là tiền đề của tái cơ
cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng hoàn toàn không có nghĩa
là phải đợi thực hiện xong các đột phá mới thực hiện tiến trình này.
Các tiền đề đã hình thành và sẽ được hoàn thiện trong suốt quá trình
phát triển. Tái cơ cấu là công việc diễn ra tương đối liên tục dưới tác
động của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ và sự dịch chuyển lợi thế
cạnh tranh giữa các quốc gia cũng như trong từng doanh nghiệp. Chính
trên quan điểm đó và từ tầm nhìn của Chiến lược phát triển kinh tế – xã
hội 2011 – 2020, Hội nghị Trung ương 3 khóa XI đã đặt yêu cầu thực hiện
tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng ngay trong thời
kỳ kế hoạch 2011 – 2015.
Mục tiêu của tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô
hình tăng trưởng là thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu các
ngành sản xuất, dịch vụ theo yêu cầu nâng cao năng suất, chất lượng,
hiệu quả và sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế để có
thể tham gia vào những công đoạn có giá trị gia tăng cao trong mạng sản
xuất và chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu. Theo mục tiêu này, quá trình
tái cơ cấu kinh tế sẽ được thực hiện đồng bộ trên các nội dụng sau:
Một là, tái cơ cấu các ngành sản xuất và
dịch vụ. Trong công nghiệp là chuyển từ một ngành công nghiệp gia công
lắp ráp có hàm lượng khoa học công nghệ và giá trị gia tăng thấp, sang
phát triển các ngành chế tạo và chế biến có giá trị gia tăng cao, tập
trung phát triển các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ và một số sản phẩm công
nghệ cao mà nước ta có tiềm năng và lợi thế.
Nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ, nhất là các
ngành là “mạch máu” của nền kinh tế như các dịch vụ tài chính, nâng cao
năng lực quản trị, bảo đảm phòng tránh rủi ro và an toàn hệ thống. Phát
triển các dịch vụ có giá trị gia tăng cao, các dịch vụ hỗ trợ kinh
doanh, đổi mới cơ chế nhằm khuyến khích phát triển và nâng cao chất
lượng các dịch vụ công.
Trong nông nghiệp là phát triển nền nông nghiệp hàng
hóa lớn, có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao; gắn phát triển nông
nghiệp với xây dựng nông thôn mới và cải thiện đời sống nông dân. Thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp và nông thôn. Đưa công
nghiệp và khoa học công nghệ tác động vào nông nghiệp trên tất cả các
công đoạn từ nuôi trồng, chăm sóc, thu hoạch, bảo quản, chế biến đến
phân phối. Gắn việc áp dụng khoa học công nghệ với tổ chức sản xuất,
phát triển các mô hình sản xuất lớn, từng bước hình thành các tổ hợp
nông công nghiệp công nghệ cao; gắn kết các công đoạn của quá trình tái
sản xuất trong một chuỗi giá trị bảo đảm phân phối hài hòa lợi ích giữa
các công đoạn trong chuỗi gia trị đó. Đây là con đường cơ bản để phát
triển nông nghiệp bền vững.
Hai là, tái cơ cấu doanh nghiệp. Quá trình
tái cơ cấu nền kinh tế được mở đường từ các chính sách vĩ mô nhưng lại
phải được thực hiện trong từng doanh nghiệp. Tái cơ cấu doanh nghiệp là
cơ sở tạo nên diện mạo mới của nền kinh tế. Để tái cơ cấu doanh nghiệp,
phải ứng dụng những thành tựu mới nhất về khoa học công nghệ trong sản
xuất và quản lý, phải đổi mới mô hình tổ chức và phương pháp quản trị
doanh nghiệp phù hợp với sự thay đổi công nghệ sản xuất và sự phát triển
của thị trường nhằm tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Ba là, điều chỉnh chiến lược thị trường.
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế mở ra thị trường rộng lớn cho
doanh nghiệp tăng khả năng tận dụng lợi thế do quy mô các dự án đầu tư
và tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng làm tăng tính tuỳ
thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế, nhất là những nền kinh tế có độ mở
lớn như nước ta. Điều đó cũng dễ dẫn đến những bất định nhiều khi vượt
khỏi khả năng dự báo. Vì vậy, phải đa dạng hóa sản phẩm và thị trường
xuất khẩu, hạn chế sự lệ thuộc vào một số ít thị trường, đồng thời phải
hết sức coi trọng thị trường nội địa, nhất là địa bàn nông thôn. Đối với
thị trường xuất khẩu, điều quan trọng không chỉ là tăng xuất khẩu vào
từng quốc gia, vùng lãnh thổ mà là xâm nhập vào chuỗi giá trị trong bối
cảnh mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu ngày càng phát triển. Tình
hình đó đặt ra yêu cầu phải hình thành chuỗi cung ngay trên thị trường trong nước. Đây là con đường để phát triển thương mại bền vững.
Gắn kết và thực hiện đồng thời với tái cơ cấu các
lĩnh vực nêu trên là tái cơ cấu đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh
tế xã hội theo một quy hoạch và một hệ thống phân cấp được rà soát chặt
chẽ theo tầm nhìn dài hạn và tư duy liên vùng. Khắc phục tình trạng đầu
tư dàn trải, phân tán, tập trung cho các công trình thiết yếu, sớm đưa
vào khai thác, tạo điều kiện cho các yếu tố sản xuất dịch chuyển thuận
lợi đến những vùng có tiềm năng phát triển, góp phần giảm chi phí vận
tải, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Giảm tỷ trọng đầu tư
công trong tổng đầu tư xã hội; hoàn thiện cơ chế khuyến khích để thu hút
mạnh đầu tư của khu vực tư nhân và các doanh nghiệp nước ngoài, phát
triển các phương thức đầu tư, đặc biệt là phương thức hợp tác công – tư
(PPP), nâng cao hiệu quả đầu tư.
Các nội dung cơ cấu lại nền kinh tế phải được thực
hiện trong suốt quá trình công nghiệp hóa nhưng phải được bắt đầu ở
những lĩnh vực cấp bách nhất, đó là tái cơ cấu đầu tư, trọng tâm là đầu
tư công; tái cơ cấu thị trường tài chính, trọng tâm là hệ thống các ngân
hàng thương mại và tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là các
tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước. Sự lựa chọn này là rất đúng
đắn và cần thiết vì đây là những lĩnh vực hiệu quả còn thấp, chưa tương
xứng với nguồn lực bỏ ra và tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn kinh tế vĩ mô,
ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Tái cơ
cấu các lĩnh vực này còn có tác động thúc đẩy quá trình tái cơ cấu theo
các nội dung toàn diện nêu trên. Chính phủ đang chỉ đạo sát sao việc xây
dựng đề án tái cơ cấu trong từng lĩnh vực để triển khai mạnh mẽ theo
những quy trình chặt chẽ cho từng bước với những mục tiêu cụ thể đặt ra
cho mỗi bước, xác định rõ các tiêu chí đo lường và đánh giá kết quả. Yêu
cầu đặt ra là phải bảo đảm sự đồng bộ khi thực hiện tái cơ cấu các lĩnh
vực nói trên do mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau giữa chúng, đồng thời tăng
cường công tác giám sát việc thực hiện ở mỗi Bộ, ngành, địa phương và
từng doanh nghiệp, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, không gây xáo động
lớn cho nền kinh tế, “rút dây” mà không “động rừng”.
Tái cơ cấu nền kinh tế đặt ra yêu cầu chuyển đổi mô
hình tăng trưởng. Ngược lại, chuyển đổi mô hình tăng trưởng là nội dung
cơ bản của tái cơ cấu doanh nghiệp, là điều kiện để tăng hiệu suất sử
dụng vốn, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, có tác
động mạnh mẽ đến tái cơ cấu đầu tư và tái cấu trúc thị trường tài chính,
góp phần giảm thiểu chi phí của quá trình tái cơ cấu. Phải chuyển mạnh
từ tăng trưởng theo chiều rộng dựa vào tăng vốn đầu tư, khai thác tài
nguyên đang ngày càng cạn kiệt và nguồn nhân lực chất lượng thấp sang mô
hình tăng trưởng dựa vào việc áp dụng những thành tựu của khoa học công
nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao và phương pháp quản trị hiện đại;
nâng cao mức đóng góp của các yếu tố tổng năng suất vào tăng trưởng.
Phát triển mạnh công nghiệp chế tạo, chế biến, nhất là các ngành công
nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn, giảm tỷ trọng của công nghiệp gia
công trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp.
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng vừa là yêu cầu cấp
bách vừa là nhiệm vụ lâu dài, gắn với phát triển nguồn nhân lực và quá
trình đổi mới công nghệ sản xuất và quản lý. Để thúc đẩy quá trình
chuyển đổi mô hình tăng trưởng, trong năm 2012, cùng với việc sớm phê
duyệt đề án phát triển thị trường công nghệ, Chính phủ sẽ ban hành các
chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp; quy
định tiêu chuẩn công nghệ trong Luật Đầu tư công và các dự án đấu thầu;
khuyến khích mạnh các dự án áp dụng công nghệ mới và các dự án có lập
trung tâm nghiên cứu phát triển công nghệ; tăng cường hợp tác công – tư
trong việc hình các quỹ đầu tư mạo hiểm về khoa học công nghệ… Xây dựng
văn bản pháp lý cao hơn để phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Cùng với tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình
tăng trưởng, trong năm 2012 phải tiếp tục quán triệt quan điểm chỉ đạo
trong kết luận số 02 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 11 của Chính phủ,
tăng cường ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát và duy trì tăng trưởng hợp
lý, bảo đảm an sinh xã hội. Đây là những nhiệm vụ rất nặng nề và khó
khăn, nhất là trong bối cảnh kinh tế thế giới đang diễn biến phức tạp,
thậm chí có nguy cơ rơi vào vòng suy thoái mới, đòi hỏi phải có sự nỗ
lực vượt bậc của các ngành, các cấp. Trong đó, Nhà nước đóng vai trò mở
đường, tạo cơ chế, chính sách và chỉ đạo thực hiện nhưng kết quả phải
được phản ánh trên từng cơ sở sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, doanh nghiệp
phải là chủ thể, có vai trò quyết định.
Chúng ta có thuận lợi cơ bản là đã tạo được sự thống
nhất cao về nhận thức trong cả hệ thống chính trị, có sự quyết tâm cao
trong các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương và cộng
đồng doanh nghiệp. Phải chuyển nhận thức, quyết tâm thành hành động và
hành động quyết liệt để vượt qua sức ỳ của quá trình khởi động, đặt tiến
trình phát triển của đất nước vào quỹ đạo mới – Quỹ đạo phát triển bền
vững./.
SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN ĐIỆN TỬ - NGUYỄN TẤN DŨNG – Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Trích dẫn từ:
http://tapchicongsan.org.vn/Home/Viet-nam-tren-duong-doi-moi/2012/14232/Hoan-thien-the-che-kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi.aspx
(SUNLAW FIRM:
Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật
và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý
kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)
THAM KHẢO MỘT SỐ DỊCH VỤ TƯ VẤN LUẬT CỦA
SUNLAW FRIM:
1.
Dịch vụ luật sư riêng cho doanh nghiệp:
2.
Tư vấn thành lập các loại hình doanh nghiệp:
3.
Tư vấn thay đổi đăng ký kinh doanh cảu doanh nghiệp:
4.
Tư vấn quản trị nội bộ doanh nghiệp:
5. Dịch vụ
tư vấn pháp luật Việt Nam:
6.
Dịch vụ cung cấp thông tin tài chính cho doanh nghiệp:
7.
Tư vấn soạn thảo quy chế cho doanh nghiệp:
8.Dịch
vụ đăng ký bảo hộ độc quyền nhãn hiệu hàng hóa tại thị trường Việt Nam
9.
Dịch vụ đăng ký bản quyền phần mềm máy tính:
10.
Đăng ký bảo hộ quyền tác giả:
11.
Tư vấn cấp phép đầu tư:
12.
Tư vấn điều chỉnh giấy phép đầu tư:
13.
Dịch vụ trước bạ sang tên nhà đất (tư vấn mua bán/chuyển nhượng nhà đất):
14.
Dịch vụ luật sư tranh tụng/giải quyết tranh chấp:
15.
Dịch vụ cung cấp văn bản pháp luật: