Kiến thức cơ bản về thuế sử dụng đất nông nghiệp
Thuế nông nghiệp ở nước ta được ban hành ngày 11/5/1951 theo sắc lệnh số 031/SL của chủ tịch nước và được áp dụng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và đấu tranh giải phóng dân tộc ở Miền Nam, sắc lệnh thuế nông nghiệp đã được bổ sung và sửa đổi cho phù hợp với nhiệm vụ xây dựng và cải tạo nền kinh tế nước nhà. Theo sắc lệnh này, thuế nông nghiệp được coi là thuế hoa lợi trên đất.
- KHÁI
NIỆM THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
- ĐỐI
TƯỢNG CHỊU THUẾ VÀ NỘP THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
- Đối
tượng nộp thuế
- Đối
tượng chịu thuế
- Đối
tượng không thuộc diện chịu thuế
- CĂN
CỨ TÍNH THUẾ
- Diện
tích tính thuế
- Hạng
đất tính thuế
- Định
suất thuế
- MIỄN
GIẢM THUẾ
- Miễn
thuế
- Giảm
thuế
I. KHÁI NIỆM THUẾ SỬ
DỤNG ÐẤT NÔNG NGHIỆP
Thuế nông nghiệp ở nước
ta được ban hành ngày 11/5/1951 theo sắc lệnh số 031/SL của chủ tịch nước và
được áp dụng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong thời kỳ xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và đấu tranh giải phóng dân tộc ở Miền Nam,
sắc lệnh thuế nông nghiệp đã được bổ sung và sửa đổi cho phù hợp với nhiệm vụ
xây dựng và cải tạo nền kinh tế nước nhà. Theo sắc lệnh này, thuế nông nghiệp
được coi là thuế hoa lợi trên đất.
Ðầu năm 1983, Nhà nước
ban hành Pháp lệnh thuế nông nghiệp áp dụng thống nhất trong cả nước. Tuy
nhiên, để phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, từ năm 1989 Nhà nước
đã ban hành Pháp lệnh sửa đổi bổ sung Pháp lệnh về thuế nông nghiệp để chuyển
từ hình thức hoa lợi trên đất sang thuế bao hàm cả thuế đất và thuế hoa lợi
trên đất. Việc chuyển nến kinh tế từ bao cấp sang nền kinh tế thị trường đòi
hỏi phải đổi mới toàn diện mọi mặt quản lý kinh tế của đất nước trong khi Pháp
lệnh thuế nông nghiệp năm 1983 và Pháp lệnh sửa đổi bổ sung năm 1989 đã bộc lộ
nhiều hạn chế và tỏ ra không phù hợp. Ðể khuyến khính sử dụng đất nông nghiệp
có hiệu qủa, đảm bảo thực hiện công bằng, hợp lý trong việc đóng góp thu nhập
cuả các tổ chức, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp , ngày 10/7/1993 Quốc hội khóa
9 kỳ họp thứ III đã thông qua Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp và có hiệu lực
thi hành từ 1/1/1994. Chính phủ đã có Nghị định số 73, 74 ngày 25/10/1993 và Bộ
tài chính có Thông tư số 89 ngày 9/1/1993 hướng dẫn thi hành chi tiết Luật thuế
sử dụng đất nông nghiệp.
Như vậy, thuế sử dụng đất nông
nghiệp gồm thuế đất và hoa lợi trên đất, chủ yếu nhằm vào sản xuất nông
nghiệp.
II. ÐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ VÀ CHỊU
THUẾ SỬ DỤNG ÐẤT NÔNG NGHIỆP
1. Ðối
tượng nộp thuế.
Theo quy định của pháp luật
hiện hành, tổ chức, cá nhân sử dụng đất vào mục đích sản xuất nông nghiệp đều
phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Hộ được giao quyền sử dụng đất
nông nghiệp mà không sử dụng vẫn phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu
tư vào Việt Nam có sử dụng
đất nông nghiệp thì phải nộp tiền thuê đất tại Việt Nam, không phải nộp thuế sử dụng
đất nông nghiệp theo quy định của Luật này.
2. Ðối
tượng chịu thuế.
Việc xác định đối tượng chịu
thuế sử dụng đất nông nghiệp được thực hiện trên nguyên tắc đất dùng vào sản
xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản thì phải chịu thuế sử dụng
đất nông nghiệp. Dựa theo nguyên tắc này, Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp quy
định đối tượng chịu thuế bao gồm:
·
Ðất trồng trọt.
·
Ðất có mặt nước nuôi trồng thủy sản.
·
Ðất rừng trồng.
3. Ðối
tượng không thuộc diện chịu thuế.
Nhằm
phân biệt rõ phạm vi đất chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp, Nhà nước quy định
các loại đất sau đây không chịu sự điều chỉnh của Luật thuế sử dụng đất nông
nghiệp:
·
Ðất có rừng tự nhiên.
·
Ðất đồng cỏ tự nhiên.
·
Ðất ở.
·
Ðất chuyên dùng.
III. CĂN CỨ TÍNH THUẾ
Số thuế sử dụng
đất nông nghiệp phải nộp được xác định dựa trên những căn cứ nhất định, đó là:
diện tích đất, hạng đất và định suất thuế.
1. Diện tích tính thuế.
Diện tích tính thuế sử dụng đất
nông nghiệp là diện tích giao cho hộ sử dụng đất phù hợp với sổ địa chính Nhà
nước. Trường hợp chưa lập sổ địa chính thì diện tích tính thuế là diện tích ghi
trên tờ khai của hộ sử dụng đất.
2. Hạng đất tính thuế.
Căn cứ để xác định hạng đất gồm
các yếu tố sau:
·
Chất đất.
·
Vị trí.
·
Ðịa hình.
·
Ðiều kiện khí hậu, thời tiết.
·
Ðiều kiện tưới tiêu.
Hạng đất tính thuế được ổn định
10 năm. Ðối với những vùng Nhà nước có đầu tư lớn, đem lại hiệu qủa kinh tế
cao, Chính phủ sẽ điều chỉnh lại hạng đất. Căn cứ vào tiêu chuẩn của từng hạng
đất và hướng dẫn của UBND Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Sự chỉ đạo của
UBND cấp huyện; UBND cấp xã xác định hạng đất tính thuế cho từng hộ nộp thuế
sau đó trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.
3. Ðịnh suất thuế.
Ðịnh suất thuế một năm tính
bằng kg thóc trên 1 ha của từng hạng đất như sau:
·
Ðối với đất trồng cây hàng năm, đất trồng
cỏ dành cho chăn nuôi, đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản nằm trong vùng trồng
cây hàng năm thì tính theo đất trồng lúa:
·
Ðối với đất trồng cây lâu năm như cây công
nghiệp, cao su, trà, cà phê, hạt điều:
·
Ðối với cây ăn qủa lâu năm trồng trên đất
trồng cây hàng năm chịu mức thuế như sau:
+ Bằng 1,3 lần thuế đất trồng cây
hàng năm cùng hạng, nếu thuộc đất thuộc hạng 1, 2, 3.
+ Bằng thuế đất trồng cây hàng năm
cùng hạng, nếu thuộc đất hạng 4, 5, 6.
·
Ðối với cây lấy gỗ và các loại cây lâu năm
thu hoạch một lần như tre nứa, song mây chịu mức thuế bằng 4 % giá trị sản
lượng khai thác.
Các hộ gia đình sử dụng đất
nông nghiệp vượt qúa hạn mức quy định phải đóng thuế bổ sung trên phần diện
tích đất nông nghiệp vượt qúa hạn mức theo thuế suất 20 % mức thuế sử dụng đất
nông nghiệp.
Hạn mức đất nông nghiệp của mỗi
hộ gia đình được quy định theo từng loại và theo từng địa phương như sau:
·
Ðối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm: thì các Tỉnh thuộc miền Trung và
miền Bắc không qúa 02 ha; các tỉnh thuộc miền Nam không qúa 03 ha.
·
Ðối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm: thì các xã đồng bằng không qúa 10
ha; các xã trung du, miền núi không qúa 30 ha.
Căn cứ tính thuế sử dụng đất
nông nghiệp bổ sung là diện tích đất nông nghiệp sử dụng vượt qúa hạn mức quy
định, mức thuế bình quân cho từng loại đất nông nghiệp và thuế suất bằng 20 %
mức thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Ví dụ: Một hộ nông dân ở Cần
Thơ có sử dụng 4 ha ruộng thuộc loại đất hạng 2 thì mức thuế sử dụng đất nông
nghiệp vượt qúa hạn mức theo thuế suất sử dụng đất nông nghiệp tính như sau:
IV.
MIỄN, GIẢM THUẾ

Ðể khuyến khích nông
nghiệp phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng đẩy mạnh thâm canh tăng năng
suất, tăng vụ, chuyển đổi cây trồng có hiệu qủa và tận dụng đất đai, khai thác
đồi núi trọc, đầm lầy, bãi bồi, đất ở vùng cao miền núi...đưa vào sản xuất,
thuế sử dụng đất nông nghiệp hiện hành thực hiện điều khoản miễn, giảm thuế cho
nông dân.
1. Miễn thuế.
·
Miễn thuế cho đất đồi núi trọc dùng vào sản xuất
nông nghiệp, lâm nghiệp, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng.
·
Ðất trồng cây lâu năm chuyển sang trồng lại mới
và đất trồng cây hàng năm chuyển sang trồng cây lâu năm, cây ăn qủa được miễn
thuế trong thời gian xây dựng cơ bản cộng thêm 3 năm kể từ khi có thu hoạch.
·
Ðất khai hoang dùng vào sản xuất. Thời gian miễn
thuế được quy định cụ thể cho từng loại đất và tùy thuộc vào mục đích sử dụng.
Cụ thể:
+ Ðối với đất trồng cây hàng
năm thời gian miễn thuế là 5 năm và 7 năm nếu là đất ở miền núi, đầm lầy, lấn
biển.
+ Ðối với đất trồng cây lâu
năm: được miễn thuế trong thời gian xây dựng cơ bản cộng 3 năm kể từ khi có thu
hoạch hoặc chỉ miễn trong thời gian chưa có thu hoạch nếu đó là cây lâu năm thu
hoạch 1 lần.
+ Ðối với đất khai hoang bằng
nguồn vốn cấp phàt của Ngân sách Nhà nước dùng vào sản xuất nông nghiệp cũng
được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp như đối với đất khai hoang nhưng thời
gian ít hơn.
·
Các hộ gia đình di chuyển đến vùng kinh tế mới
được giao đất sản xuất nông nghiệp cũng được miễn thuế với thời gian tùy thuộc
vào tính chất và mục đích sử dụng đất.
Ngoài các trường hợp nêu trên,
việc miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp còn được áp dụng cho các đối tượng diện
chính sách như các hộ nông dân ở vùng núi, biên giới, hải đảo, vùng dân tộc
thiểu số hoặc các hộ nông dân là người tàn tật, già yếu, cô đơn, không nơi
nương tựa, không có khả năng lao động và các hộ nộp thuế có thương binh hạng
1/4, 2/4, bệnh binh 1/3 và 2/3 mà đời sống còn rất khó khăn. Hộ gia đình liệt
sĩ có người hưởng trợ cấp sinh hoạt phí nuôi dưỡng theo quy định hiện hành.
2. Giảm thuế.
·
Giảm tối đa không qúa 50 % số thuế cho hộ nông
dân sản xuất ở vùng cao, miền núi, biên giới, hải đảo, các hộ nông dân thuộc
dân tộc thiểu số mà sản xuất và đời sống còn nhiều khó khăn ngoài đối tượng
được miễn nêu trên.
·
Giảm thuế cho hộ nộp thuế có thương binh, bệnh
binh.
·
Trường hợp thiên tai, địch họa làm thiệt hại mùa
màng, thuế sử dụng đất nông nghiệp được miễn hoặc giảm cho từng hộ nộp thuế
theo từng vụ sản xuất như sau:
+ Thiệt hại từ 10 % đến 20 %, giảm thuế tương ứng
theo mức thiệt hại.
+ Thiệt hại từ 20 % đến dưới 30 %, giảm thuế 60
%.
+ Thiệt hại từ 30 % đến dưới 40 %, giảm thuế 80
%.
+ Thiệt hại từ 40 % trở lên, miễn thuế 100 %.
·
Ðối với những hộ chính sách đã được xét giảm
thuế theo quy định mà bị thiệt hại do thiên tai, địch họa thì thực hiện xét
giảm thuế theo diện chính sách trước, sau đó mới xét giảm do thiên tai. Mức
giảm tối đa không qúa 50 % số thuế ghi thu.
Danh sách các hộ được đề nghị
miễn, giảm thuế của xã phải được niêm yết để nhân dân tham gia ý kiến trong
thời hạn 20 ngày trước khi trình UBND cấp trên duyệt. Quyết định miễn, giảm
thuế của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải được niêm yết công khai.
(SUN LAW FIRM)