Lạm phát ở Việt Nam hiện nay và sự cần nhìn nhận lại thuyết tiền tệ - Vũ Quang Việt
Lại một lần nữa lạm phát đe doạ nền kinh tế Việt Nam. Sau nhiều năm lạm phát rất thấp, năm 2004, lạm phát có thể lên đến 10%. Có người đổ lỗi cho việc tăng giá xăng dầu trên thế giới. Nhưng rõ ràng nhà nước Việt Nam vẫn tiếp tục kìm hãm giá xăng dầu còn như ở Mỹ thị trường để hoàn toàn tự do, Việt Nam lại tiêu thụ xăng dầu so với GDP thấp hơn nhiều so với Mỹ, thế nhưng lạm phát ở Mỹ vẫn dưới 3%.
Điều này cho thấy là lạm phát ở Việt Nam bắt nguồn
từ việc tăng tín dụng quá nhiều nhằm kích cầu nền kinh tế trong nhiều năm
qua. Thành quả của chính sách chống lạm phát trước đây là rất lớn. Nó tạo sự
bình ổn, và kỳ vọng bình ổn làm cơ sở cho nền kinh tế phát triển. Việc hiểu
biết về chính sách tiền tệ trong tình hình hiện nay là cần thiết.
Lạm phát là gì?
Lạm phát, theo nghĩa mặt bằng tổng thể giá tăng, ở mọi nơi
và mọi lúc là kết quả của chính sách tiền tệ. Kết luận này nghe ra rất cực đoan
nhưng kinh nghiệm chống lạm phát trên thế giới và cả ở Việt Nam trước đây, mà
tác giả có đóng góp tìm giải pháp, cho thấy là kết luận trên là đúng đắn. Kết
luận này đưa đến một hệ luận quan trọng mà các nhà kinh tế tiền tệ theo trường
phái Milton Friedman rút ra là: chính sách bơm thêm tiền tệ và tín dụng nhằm
đẩy mạnh thêm tốc độ phát triển kinh tế chỉ có tác dụng ngắn hạn; về dài hạn nó
mang lại vừa lạm phát vừa phát triển trì trệ. Do đó lạm phát theo nghĩa tăng
lượng tín dụng và tiền tệ đồng nghĩa với tăng mặt bằng giá. Từ đây trở đi, từ lạm
phát đồng nghĩa với giá tăng.
Lý thuyết về tiền tệ
Cần nói qua về đóng góp của Milton Friedman về lý thuyết
tiền tệ. Đóng góp lớn nhất của ông ta là lý thuyết về giá cả. Chống lại lý
thuyết của Keynes và những người theo trường phái Keynes đang lúc trường phái
này có ảnh hưởng sâu rộng trong đại học, Friedman đưa ra các bằng chứng ủng hộ
lý thuyết lượng tiền tệ (quantity theory of money) vào năm 1956[1].
Ông cho rằng lượng cung tiền tệ quyết định mặt bằng giá, hay nói rõ hơn ra là
về dài lâu tăng tiền sẽ làm tăng giá và sẽ có ảnh hưởng rất ít, hoặc thậm chí
không có ảnh hưởng gì đến sản lượng. Về ngắn hạn tất nhiên nó có ảnh hưởng như
lý thuyết Keynes đưa ra. Friedman khuyến nghị rằng nếu ngân hàng
trung ương đều đặn tăng lượng cung tiền tệ bằng với tốc độ tăng (theo giá cố
định) của nền kinh tế thì lạm phát sẽ biến mất. Năm 1963, Anna Schwartz và
Friedman xuất bản Monetary History of the United States, 1867-1960, cho
rằng nguyên nhân của đại khủng hoảng năm 1929 là do chính sách sai lầm của ngân
hàng trung ương Mỹ trong việc cắt giảm lượng cung tiền tệ.
Vào những năm 1960 và 1970, lý thuyết theo trường phái
Keynes về vai trò chi phối của nhà nước bằng ngân sách chi (được phổ biến trong
sách giáo khoa Economics của Paul Samuelson từ ấn bản năm 1960 đến năm
1985[2])
cho rằng có sự đánh đổi (trade-off) giữa lạm phát và thất nghiệp, tức là muốn
tạo nhiều việc làm hay là nhằm đạt tốc độ phát triển kinh tế cao thì cái giá
phải trả là lạm phát cao. Ngược lại, muốn giữ lạm phát thấp, thất nghiệp sẽ
cao. Tại sao giá tăng cao lại có thể đưa đến phát triển, ít nhất là trong
ngắn hạn? Đó là vì giá tăng cao, tiền lương không tăng hoặc không tăng kịp do
đó đưa đến lợi nhuận cao và có tác dụng khuyến khích tăng sản xuất. Friedman đả
phá quan điểm này, cho rằng khi lạm phát cao và kéo dài, người dân không ngu
lâu, sẽ kỳ vọng là lạm phát tiếp tục cao, đòi hỏi lương cao, do đó về dài lâu
không có sự đánh đổi này, mà sẽ tạo ra vừa lạm phát cao vừa suy thoái
(stagflation). Điều này đã xảy ra vào đầu thập niên 1970 và kéo dài mãi
tận đầu những năm 1990 ở Mỹ và những nước theo chính sách kinh tế kiểu Keynes.
Nước Anh dưới chính phủ Thatcher đã áp dụng chính sách của Friedman vào năm
1979 để giải quyết tình trạng vừa suy thoái vừa lạm phát ở đó. Ít rõ rệt hơn
nhưng chính sách đó cũng được áp dụng ở Mỹ vào cuối nhiệm kỳ của tổng thống
Carter, đưa đến việc ông ta thất cử do việc nhất thời tạo ra lãi suất cao và
kinh tế suy thoái.
Về mặt lý thuyết, Friedman đã cố gằng giải thích lại nội
dung lý thuyết lượng tiền tệ (quantity theory of money) của các nhà kinh tế cổ
điển mà chủ nghĩa Keynes đả phá. Lý thuyết lượng tiền tệ cổ điển cho
rằng:
(1)
MV = PQ
M là lượng tiền, V là vòng quay đồng tiền, P là mặt bằng giá
và Q là sản lượng (hay GDP theo giá cố định chẳng hạn).
Từ định nghĩa trên có thể rút ra hệ luận (2) là:
(2) Tỷ lệ
thay đổi lượng tiền + tỷ lệ thay đổi vòng quay ≈ tỷ lệ thay đổi giá
+ tỷ lệ thay đổi sản lượng[3]
Hay là:
(3)
Tỷ lệ thay đổi giá ≈ Tỷ lệ thay đổi lượng tiền + tỷ
lệ thay đổi vòng quay – tỷ lệ thay đổi sản lượng
Từ định nghĩa (1) và (3), các nhà kinh tế cổ điển cho rằng
vòng quay V cố định, tức là tỷ lệ thay đổi vòng quay bằng zero do đó khi
việc M tăng cao hơn sản lượng sẽ chỉ làm tăng P. Theo họ, Q
là do lực sản xuất tạo ra chứ M không thể ảnh hưởng đến nó, hay nói khác
đi, cung tạo ra cầu. Dùng một định nghĩa để giải thích sự liên hệ kinh tế thì
quá là sai lầm. Cuộc cách mạng về lý thuyết kinh tế của Keynes chống lại lý
thuyết cổ điển này, cho rằng cầu không nhất thiết bằng cung theo định nghĩa
sau:
Cung = cầu + tồn kho.
Khi cầu nhỏ hơn cung vì lo sợ tương lai không an toàn
chẳng hạn, hàng hoá phải tồn kho do đó nhà sản xuất phải giảm hoạt động. Điều
này đưa đến lợi tức thấp hơn, cầu giảm cho đến lúc cung bằng cầu gặp nhau ở mức
thấp. Để giải quyết khủng hoảng, Keynes chủ trương tăng cầu của nhà nước.
Keynes cho rằng in tiền, tăng tín dụng không giải quyết được cầu. Chủ trương
này của Keynes tất nhiên không nên hiểu là phê phán cách giải thích của
Friedman về nguyên nhân sự kéo dài đại khủng khoảng năm 1929. Điều gì tạo
ra lo sợ bấp bênh này để khủng hoảng “cầu” không giải quyết được thì Keynes gần
như không đụng tới.
Friedman vẫn dùng định nghĩa (1) trên, nhưng cho rằng V
không cố định như các nhà kinh tế cổ điển nghĩ và cũng không cho rằng cầu tất
bằng cung, nhưng phương trình quyết định V là ổn định theo nghĩa nó là
phương trình của nhiều biến số khác như lãi suất, mặt bằng giá P, Q và
cả kỳ vọng về lạm phát tức là kỳ vọng về P. M tăng đều đặn quá
mức đưa đến giá (P) tăng. Điều này sẽ đưa đến việc là người dân cho rằng
giá cả sẽ tiếp tục leo thang, tức là kỳ vọng là P tăng, do đó vòng quay V
tăng. Vòng quay tăng tất đưa đến mức lạm phát cao hơn dù lượng tiền tăng có
thấp đi. Giải quyết lạm phát không dễ vì việc hạn chế lượng tiền đòi hỏi
thời gian lâu dài để người dân thay đổi kỳ vọng, và qua đó đưa đến sự bình ổn
của vòng quay V.
Vấn đề đo lường
Học thuyết là thế nhưng việc cụ thể hoá đo lường không là
đơn giản. Tiền là gì? Làm sao đo vòng quay V? Làm sao đo Q? Q
theo nghĩa của định nghĩa (1) là sản lượng hàng hoá và dịch vụ, và P là
giá của hàng hoá và dịch vụ này. Nếu dùng GDP để thay thế PQ thì
liệu V ở định nghĩa (1) có phản ánh giá trị vòng quay không?
Friedman lại cho rằng sự liên hệ trên là sự liên hệ trên cơ sở dài lâu chứ
không phải ngắn hạn hay trung hạn. Điều này đưa đến những cuộc tranh luận nảy
lửa về phương pháp đo lường thống kê, dường như dẫn đến việc là khó đánh giá ai
đúng, ai sai. Nhưng thực tế lạm phát cao ở Mỹ và các nước phương tây kéo dài từ
những đầu thập kỷ 1970 đến năm 1985 trong khi tốc độ phát triển kinh tế lại
thấp cho thấy là chính sách hạn chế tăng lượng cung tiền và tín dụng đã giải
quyết được lạm phát ở những nước này và tạo tiền đề cho kinh tế phát triển mạnh
trở lại. Điều này đã mang lại uy tín cho lý thuyết tiền tệ của
Friedman. Paul Samuelson trong quyển sách giáo khoa Economics viết chung
với William D. Nordhaus (Ấn bản 12, 1985) đã sửa lại là ảnh hưởng của việc tăng
lượng cung tiền tệ với phát triển kinh tế chỉ có tính cách ngắn hạn.
Tiền là gì?
Một điều cũng cần nói thêm là việc đo lượng tiền tệ. Tiền
ở các liên hệ trên được hiểu là phương tiện thanh toán. Nó có thể là tiền mặt,
vàng, ngoại tệ và các phương tiện thanh toán như tiền chẳng hạn như check (tức
là tài khoản ký quĩ không thời hạn ở ngân hàng) và có thể kể cả tiền để dành
trong ngân hàng mà có thể rút ra bất cứ lúc nào. Ở các nước có dùng thẻ tín
dụng thì tín dụng cấp sẵn khi có thẻ tín dụng về nguyên tắc cũng có thể gọi là
tiền. Tuy nhiên hiện nay trong hệ thống thống kê dùng để tính vào tiền, tín
dụng cấp sẵn này không được tính trong thống kê ngân hàng vì tiêu chuẩn quốc tế
về tiền tệ và tín dụng quyết định là những gì chỉ có thể thành hình khi một số
điều kiện xảy ra thì không tính.[4]
Tiền là phương tiện thanh toán nằm ngoài hệ thống ngân
hàng. Như thế tiền bao gồm phương tiện thanh toán do hộ gia đình, cơ sở nhà nước
(không phải ngân hàng), đơn vị kinh doanh nắm giữ. Chúng bao gồm: tiền mặt, tài
khoản ký quĩ vô thời hạn (demand deposit), tài khoản để dành vô thời hạn
(saving deposit) và có thể gồm cả tài khoản ký quĩ có thời hạn có thể dễ dàng
biến thành phương tiện thanh toán.
Ở các nước đang phát triển bị ngoại tệ hoá, tiền ngoại tệ
trong dân gian cũng phải tính nhưng thu thập thông tin rất khó khăn. Nếu nước
nào dùng vàng để thanh toán thì vàng cũng phải tính vào lượng tiền tệ. Đây là
trường hợp của Việt Nam
với việc sử dụng rộng rãi ngoại tệ và vàng làm phương tiện thanh toán. Ở các
nước phát triển, nhiều phương tiện thanh toán mới mẻ ra đời do đó hiện nay hệ
thống tài khoản quốc gia của Liên Hợp Quốc và chuẩn của IMF, thay vì đưa ra một
danh sách các phương tiện mà mọi nước phải theo như trước đây, đã khuyến nghị
rằng mỗi nước phải tự làm quyết định về những phương tiện nào nên đưa vào tiền
tệ trên cơ sở đánh giá phương tiện nào có khả năng thanh toán như tiền mặt[5].
Chính điều này đã đưa đến nhiều ý niệm về tiền tệ, ngoài M1, M2, M3
còn có thêm những M khác. M1 là tiền mặt cộng với tài khoản ký
quĩ vô thời hạn, M2 là M1 cộng với ký quĩ để dành vô thời hạn, M3
là M2 cộng với các ký quĩ để dành có thời hạn dưới một năm. Tiền mà ngân
hàng trung ương có thể hạn chế dễ dàng là tiền mặt, nó là một phần của M1,
sau đó là M2.[6]
Vấn đề chính là các nhà kinh tế cần đánh giá và theo dõi tình hình giá cả và
lượng tiền dựa vào nhiều ý niệm khác nhau. Hơn nữa ở Mỹ, ký quĩ vô thời hạn từ
năm 1985 trở lại đây cũng có lãi cho nên việc chuyển từ ký quĩ vô thời hạn sang
có thời hạn để lấy lãi không còn cần thiết so với trước đó đưa đến việc M1
tăng nhanh hơn trước, kết qủa là việc theo dõi chuỗi số trở thành vấn đề và sự
thay đổi vòng quay đồng tiền rút ra từ chuỗi số này cũng mất một phần ý nghĩa
sơ khởi của chúng. Dù vậy, M1 và M2 vẫn là chỉ tiêu quan trọng
nhất nhằm theo dõi lượng tiền trong nền kinh tế.[7]
Sản lượng Q
là gì?
Sản lượng Q
thường được đo bằng GDP theo giá cố định. Thế nhưng điều này không hoàn
toàn đúng, đặc biệt đối với các nước đang phát triển mà ở đó việc hàng đổi hàng
hoặc sản xuất tự cung tự cấp vẫn còn rất lớn. Sản lượng Q trong định
nghĩa mang ý nghĩa đầu tiên là các sản vật được trao đổi và thanh toán bằng
tiền. Giả dụ ở một nền kinh tế có một khu vực tự cung tự cấp, không trao đổi gì
với khu vực thanh toán bằng tiền thì việc tăng sản lượng không ảnh hưởng đến
giá cả. Nếu như phần tự cung tự cấp của nền kinh tế này được hoà đồng vào thị
trường chung và thanh toán bằng tiền thì tất nhiên nó đòi hỏi phương tiện thanh
toán cao hơn trước, vòng quay đồng tiền giảm, và việc này có thể không ảnh
hưởng gì đến giá cả. Đó là vấn đề tiền tệ hoá trong nền kinh tế. Vấn đề
tiền tệ hoá đòi hỏi lượng tiền tệ tăng cao hơn tốc độ tăng GDP. Đây cũng
là lý do tôi đã từng đề nghị là lượng cung tiền tệ ở Việt Nam không nên quá 15%
một năm. Với sức phát triển 7-8% năm thì 7-8% còn lại là để giải quyết vấn đề
tiền tệ hoá và một phần đi vào lạm phát ở mức độ chấp nhận được.
Sản lượng Q,
được đo bằng tốc độ phát triển GDP (theo giá cố định) như vậy là phản
ánh phần tăng thêm về hàng hoá và dịch vụ trong năm. Do đâu mà GDP tăng?
Chủ yếu là do việc sử dụng thêm lao động và tăng năng suất lao động. Vấn đề
tăng năng suất lao động không đều đặn mà có chu kỳ, có lúc nhảy vọt, có lúc
chậm. Nếu nhảy vọt, lợi nhuận doanh nghiệp cao hơn, đầu tư sẽ tăng tốc cao hơn
cả mức tăng sản lượng và tiêu dùng, đưa đến suy thoái vì hàng hoá tồn kho không
bán được. Đó là chưa kể đến lương tăng vì áp lực từ toàn dụng lao động. Đây là
đóng góp của Finn Kydland và Edward Prescott, hai người được giải thưởng Nobel
năm 2004.[8]
Như vậy hai nhà kinh tế này đã lập thuyết rằng yếu tố cung cũng tạo ra chu kỳ
kinh tế. Từ đó có thể rút ra rằng việc tăng giá xăng dầu thế giới như hiện nay
cũng có thể đưa đến suy thoái và tăng giá. Điều này là tất nhiên, tuy vậy việc
tăng giá đến đâu còn tùy thuộc vào lượng tiền ngân hàng cung cấp. Đóng góp của
hai nhà kinh tế này không nhằm giải thích cuộc đại khủng hoảng năm 1929. Cuộc
đại khủng hoảng này như Milton Friedman luận thuyết dựa vào phân tích số liệu
kinh tế là do sai lầm của Ngân hàng trung ương Mỹ hạn chế tiền và tín dụng quá
mức đưa đến việc các ngân hàng thương mại đóng cửa hàng loạt sau khủng hoảng
trên thị trường chứng khoán.[9]
Vòng
quay đồng tiền
Do định
nghĩa về tiền và sản lượng Q hoặc là thay đổi hoặc là không thể đo chính
xác được mà việc nghiên cứu về vòng quay đồng tiền cũng không đơn giản. Vòng
quay đồng tiền không tăng đột biến, nhưng không cố định, tuy vậy ít ai thành
công trong việc tiên đoán được nó. Mặc dù vậy những nghiên cứu gần đây
cho thấy có sự tương quan cùng chiều mạnh giữa vòng quay đồng tiền và tốc độ
tăng tiền khi chi phí dùng ngân hàng cao[10].
Điều này xác định một điều là về dài lâu khi tình hình đi vào ổn định, giá cả
ổn định, vòng quay đồng tiền (tính dựa vào M1 và M2) có khuynh
hướng giảm và đi vào ổn định. Thập kỷ 1920, vòng quay đồng tiền ở Mỹ (dựa vào M2)
là 1.9, thập kỷ khủng hoảng giảm phát năm 1930 vòng quay là 1.50, những năm
1960 vòng quay là 1.57. Từ năm 1985 đến nay như đã nói ở trên, vòng quay đồng
tiền tăng lên từ từ đến năm 2001 là 1.9. Sự thay đổi vòng quay ở Mỹ còn do sự
thay đổi về các phương tiện thay toán, thí dụ như nếu như dân chúng có thể trả
bằng thẻ tín dụng với tín dụng được cấp trước ($10.000 một thẻ) mà không được
tính vào lượng tiền thì khi dân chúng có thể ít dùng tới tiền theo định nghĩa
của M1 hoặc M2 (tiền mặt và tiền k�� gửi) do đó vòng quay có
khuynh hướng tăng.
Kết luận
Vòng quay giảm
mạnh ở Việt Nam từ năm 1999 trở đi[11]
do tình hình kinh tế đã đi vào ổn định kể từ năm 1990, lạm phát giảm, kỳ vọng
lạm phát do đó giảm. Chính vì thế lượng tiền tăng rất cao một năm mà không tạo
ra lạm phát (coi bảng dưới). Nếu lạm phát hiện nay không được kiềm chế, tín
dụng hàng năm ở Việt Nam tăng tiếp tục tăng mạnh do chủ trương kích cầu (năm
2004 theo số liệu IMF thể tăng đến 35%), kết quả có thể là vòng quay tăng lên,
điều này đưa đến khó khăn trong việc kiềm chế lạm phát trong tương lai và giá
phải trả về tốc độ phát triển kinh tế có thể lớn. Vấn đề chính làm thay đổi
vòng quay là sự biến chuyển của tâm lý người dân về lạm phát do chính lạm phát
tạo ra.
Vòng quay V(tính theo M2) của Việt Nam giai đoạn 1996 –2003
|
|
M2
|
|
GDP
|
V
|
|
|
Tỷ
đồng
|
Tăng
tốc M2
|
Tỷ
đồng
|
GDP/M2
|
|
1997
|
70.8
|
|
313.6
|
4.4
|
|
1998
|
87.4
|
23%
|
361.0
|
4.1
|
|
1999
|
145.5
|
66%
|
399.9
|
2.7
|
|
2000
|
197.0
|
35%
|
441.6
|
2.2
|
|
2001
|
251.1
|
27%
|
481.3
|
1.9
|
|
2002
|
285.1
|
14%
|
535.8
|
1.9
|
|
2003*
|
329.9
|
16%
|
605.6
|
1.8
|
Nguồn : IMF, International Finance Statistics, May
2004, và Niên giám thống kê Việt Nam 2003
08 tháng 10, 2004
[1]
"The Quantity Theory of Money: A restatement", 1956, in Milton
Friedman, editor, Studies in Quantity Theory.
[2]
Sách giáo khoa, Economics: An Introductory Analysis, của Paul Samuelson
từ ấn bản đầu năm 1948 dựa trên việc truyền bá lý thuyết Keynes cho rằng kinh
tế tự do hoàn toàn (tức là không có bàn tay của nhà nước) không thể bảo đảm
toàn dụng lao động. Quyển sách giáo khoa này có ảnh hưởng rất lớn đối với nhiều
thế hệ sinh viên ngành kinh tế ở Mỹ. Năm 1955, ông ta viết: “Ngày nay ít
có nhà kinh tế nào cho rằng chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương là liều
thuốc kiểm soát chu kỳ lên xuống của nền kinh tế (Ân bản lần thứ 3, trang 316).
Vào năm 1975, sau khi cho là chủ thuyết tiền tệ là quan điểm quá khích, ông ta
viết “cả hai chính sách tài khoá và tiền tệ đều quan trọng.” (Ấn bản 9, trang
329). Cuối cùng khi viết lại chung với Nordhaus, họ viết: “Chính sách tài khoá
không còn là vũ khí của chính sách ổn định kinh tế ở Mỹ. Trong thời gian trước mắt,
chính sách ổn định sẽ là từ chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ượng (Ấn bản
15, trang 645). – Tác giả viết dựa trên phân tích của Mark Skousen, The
Perseverance of Paul Samuelson's Economics, đã đăng trên Journal of Economic Perspectives, và đưa
trên mạng: http://www.mskousen.com/Books/Articles/perserverance.html
[3]
Liên hệ này chỉ đúng nếu sự thay đổi có tính cực tiểu và chỉ có tính gần đúng
nếu sự thay đổi không quá một tỷ lệ nhất định. Liên hệ trên, có thể viết như
sau: logM + logV = logP + logQ. Nếu tính dựa vào sự thay đổi cực tiểu theo thời
gian, thì sự liên hệ trên có thể viết như sau: %ΔM+
%ΔV = %ΔP + %ΔY. Liên hệ này cũng có tìm được nếu ta viết (M+ΔM).(V+ΔV) =
(P+ΔP).(Q+ΔQ). Nhân từ hai phía, và loại trừ MV=PQ, ta có: MΔM
+ΔMV+ΔMΔV=PΔQ+ΔPQ+ΔPΔQ. Nếu như thay đổi cực tiểu, ΔMΔV≈ ΔPΔQ≈0, liên hệ trên trở
thành: MΔM +ΔMV≈PΔQ+ΔPQ. Chia hai bên cho
MV=PQ, ta có: ΔV/V + ΔM/M ≈ ΔP/P +
ΔQ/Q.
[4]
Tín dụng credit card chỉ thành tiền khi người được cấp sử dụng nó. Khi chưa sử
dụng thì chưa thành tiền.
[5]
IMF, Monetary and Financial Statistics Manual, 2000. Chương VI,
đoạn 283.
[6]
Ngân hàng trung ương phát hành tiền mặt bằng việc mua trái phiếu nhà nước do bộ
tài chính phát hành. Đây là điều đã thực hiện ở Việt Nam sau đổi mới năm 1989,
trước đó nhà nước chỉ cần ra lệnh cho Ngân hàng in tiền. Nếu Ngân hàng trung
ương hạn chế mua thì tiền mặt bị hạn chế. Ngân hàng trung ương cũng có thể nâng
lãi suất đối với tiền họ cho ngân hàng thương mại vay ngắn hạn để đáp ứng yêu
cầu tiền mặt của ngân hàng thương mại hoặc nâng tỷ lệ dự trữ để giảm khả năng
cho vay, tức là giảm ký gũi tiền vô thời hạn.
[7]
Gary H. Stern (president of the Bank), “The Fed’s money supply ranges: still
useful after all these years”, 1985 Report of the Federal Reserve Bank of
Minneapolis.
[8]
Finn Kydland và Edward Prescott, “Time to build and aggregate fluctuations”, Econometrica,
50, 1345-1371.
[9]
Mới đây, năm 2003, Edward Prescott cùng với Ellen R. McGrattan đã in ra một bài
nghiên cứu cũng tạo dư luận, đó là: “Thị trường chứng khoán năm 1929: Irving
Fisher đã đúng.” Trong bài này, hai tác giả đã tính lại giá trị của chứng khoán
dựa trên chi phí của tài sản cố định và tài sản vô hình của các công ty ở Mỹ và
đưa đến kết luận là tỷ số giá chứng khoán trên lợi tức công ty (P/E ratio)
không cao. Họ kết luận là khủng hoảng ở Mỹ năm 1929 không phải là do giá trị
quá cao của chứng khoán trên thị trường. Đây là bài nghiên cứu cho chi nhánh
Ngân hàng trung ương Mỹ ở Minnesota, “The 1929 stock market: Irving Fisher
was right," Staff Report
294, Federal Reserve Bank of Minneapolis có thể lấy trên:
http://ideas.repec.org/e/pmc46.html
[10]
Hugo Rodrigue Mendizabal, “The Behavior of Money
Velocity in Low and High Inflation Countries”, Jan 3, 2004. Bản thảo chưa
xuất bản.
[11]
Đây là dựa vào số liệu M2 mới nhất Việt Nam cung cấp cho IMF đuợc xuất
bản chính thức với số liệu kể từ 1997. Khi so sánh số liệu về M2 này với
số liệu trong các tài liệu cung cấp có tính nội bộ trước đây, ta thấy có sự
thay đổi không giải thích được. Số liệu về tiền tệ của Việt Nam vẫn ở dạng đáng
nghi ngờ cho nên bảng phân tích về V chỉ có giá trị hạn chế. Sự thay đổi
đột ngột về V giữa hai năm 1998 và 1999 là không giải thích được. Một
trong những lý do để giải thích là số liệu về lượng tiền không tin cậy được;
điều này có thể thấy khi M2 là 66% năm 1999, quá khác biệt với những năm
khác.
©
Thời Đại Mới - Số 3 -
Tháng 11/2004
Nguồn: http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai3/200403_VQViet.htm
--------------------------------------------------------------------------------
Nếu Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW (SUN LAW FIRM)


TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM
--------------------------------------------------------------------------------