Lao động có kỹ năng: Lỗ hổng nghiêm trọng trong phát triển ở Việt Nam - Hồng Lê Thọ
Con số 70% lao động chưa qua đào tạo và 80% chưa qua đào tạo nghề khi tham gia thị trường lao động (theo báo cáo của Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội) đang trở thành rào cản, kìm hãm tốc độ phát triển kinh tế-xã hội.
Phần 1: Từ con số điển hình ở Đồng bằng sông Cửu
long (ĐBSCL)
Trong
báo cáo về “Nguồn nhân lực ở Đồng bằng sông Cửu Long” (tháng 1/2005) của
nhóm nghiên cứu do GS Võ Tòng Xuân làm trưởng đã công bố trên cơ sở những số
liệu của Tổng cục Thống kê và khảo sát tại chỗ các tỉnh, kết luận rằng “nguồn nhân lực ở vùng nầy tương đối thấp, tỷ lệ mù
chữ là 6%, 33% không học hết tiểu học; 14% tốt nghiệp bậc tiểu học là cấp học
bắt buộc theo hiến pháp; 8% tốt nghiệp trung học cơ sở. Như thế, 77% đội ngũ lao động có trình độ học vấn căn bản (trung học cơ
sở) trở xuống (!) và 83% lực lượng lao động không được đào tạo tay nghề” (xem Hộp 1 và 2). Chính con số nầy cho thấy đó
một trong những yếu tố cản trở sự phát triển của nền kinh tế địa phương cũng
như gây lo ngại đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước khi đặt chân đến làm
ăn. Có người gọi đó là một trong “nút thắt” ngăn chặn dòng chảy của vốn đầu tư
trực tiếp của nước ngoài (FDI) về các địa phương.
|
Hộp 1: Số người trong độ tuổi lao động
+ Năm 2006 số người trong độ tuổi
lao động là 43-44 triệu người, số lao động trong độ tuổi thanh niên là 47%
(từ 15-34 tuổi), cả nước mới có 25,4% số lao động qua đào tạo (trong đó 20%
qua đào tạo nghề).
+ Số thanh
niên tham gia lực lượng lao động bình quân tăng 200.000 người/năm, 50% là tốt
nghiệp THCS, THPT.
Nguồn: Vụ LĐ-Việc làm (Bộ
Lao động-Thương Binh & Xã hội, tháng 4/2007)
|
|
Hộp 2: Thanh niên lao động
+ Cả nước hiện có khoảng 17 triệu thanh niên nông thôn trong độ tuổi 16-33, chiếm 74% tổng số
thanh niên và 50% lực lượng lao động trong nông nghiệp.
+ Lao động thanh niên đô thị trong độ tuổi 15-30
chiếm khoảng 25% tổng số thanh niên cả nước và chiếm 43% dân đô thị, 90%
thanh niên đô thị có việc làm, thất nghiệp khoảng 6 %.
Nguồn: Vụ LĐ-Việc làm (Bộ Lao động-Thương Binh & Xã hội,
tháng 4/2007)
|
Chú thích: Cách tính tuổi bước vào lao động là từ 16 tuổi ở nông thôn
và 15 tuổi ở thành thị của Bộ LD-TB-XH có sự sai biệt 1 năm với lý do gì không
rõ, tuy nhiên theo tác giả, tuổi bước vào lao động còn thấp hơn vì theo nghiên
cứu của GS Võ Tòng Xuân thì trẻ em độ tuổi 10-14 cũng là nguồn lao động đáng kể
ở Đồng bằng Sông Cửu Long (xem đoạn nhấn mạnh trong phần kết. Vì vậy những con
số trên cũng chỉ là tương đối, để tham khảo). Có thể cách tính này của Bộ
LD-TB-XH là dùng vào việc lập dự toán ngân sách chi tiêu (cho các chương trình
do bộ nầy quản lý) hàng năm? Xem thêm thống kê về lực lượng lao động từ nay đến
năm 2030 của TS Vũ Quang Việt (Chiều hướng phát triển dân số và học sinh, hiện
tại và tương lai-25/12/2007). Trong báo cáo điều tra của ADB, IMF…đều lấy độ
tuổi 15 làm chuẩn nhân lực lao động.
Khảo sát từ khu vực trù phú về nông thủy hải sản đã đưa ra
những con số đáng báo động như vậy. Nếu khảo sát tại vùng nghèo khác như cao
nguyên trung bộ, đồng bằng miền Trung hay vùng cao các tỉnh phía Bắc, e rằng
kết quả còn bi đát đến nhường nào.
Tại các địa phương khác cũng không mấy sáng sủa hơn, mặc dù
mỗi tỉnh đều có chủ trương dạy nghề để xóa đói giảm nghèo. Số người lao động trẻ
(tuổi từ 15-30) ở nông thôn các địa phương ngày càng đổ dồn về các tỉnh thành
có khu công nghiệp, chế xuất như TP.HCM, Hà Nội, Bình Dương, Đồng Nai, Hải
Dương… ngày càng nhiều, tương tự như hiện tượng “bỏ nông” và “ly thôn” ở các
tỉnh nghèo phía bắc. Dân số ở các đô thị phát triển tăng đột biến, người di dân
sang vùng dễ kiếm công ăn việc làm đang là vấn đề xã hội, kinh tế nghiêm trọng
khi sự phân bố về lao động, nghề nghiệp trong cả nước mất cân đối như hiện nay (xem Hộp 3 về trường hợp yêu cầu lao động ở TP.HCM đến năm
2010)
|
Hộp 3: Nhu cầu lao động
đến năm 2010 ở TP HCM
Từ nay đến cuối năm 2010, các khu chế xuất, khu công
nghiệp của TPHCM cần 300.000 lao động trong đó:
các khu
công nghiệp cần 119.190 lao động
Khu chế
xuất Linh Trung (1) và (2) 98.810 lao động
KCX Tân
thuận 82.000 lao động
Nguồn:
Báo Lao Động ngày 23/8/2007
|
Trong
3 năm nay, tính từ năm 2005, kim ngạch đăng ký đầu tư trực tiếp của nước
ngoài (FDI) từ tốc độ dưới 2 tỷ đô la Mỹ vào năm 2005, đã vọt lên hơn 4 tỷ đô
la năm 2006 và tăng cao hơn nhiều sau khi Việt Nam gia nhập WTO[1].
Tương tự, kim ngạch xuất hoặc nhập khẩu ở mức
50-60 tỷ, với tổng số đã vượt hơn 110 tỷ, lớn gần gấp đôi GDP. Tăng
trưởng GDP cũng có tốc độ tăng 8-8,5 % bình quân trên cả nước. Những điều
đó cho thấy yêu cầu lao động của những doanh nghiệp và công ty nước ngoài sẽ
không còn dừng lại ở mức phổ thông (thô), mà ngày càng
đòi hỏi một lực lượng lao động có tay nghề chuyên nghiệp, được đào tạo bài bản.
Mặt
khác, nhờ có chủ trương xuất khẩu lao động của chính phủ cho nên trong 5 năm
gần đây, số người trẻ đi lao động ở nước ngoài ngày càng tăng nhanh chóng, năm
2006 đã đạt mức 74.800 người/ năm (riêng năm 2007 là 85.020 người) với tổng số
khoảng 400,000-500.000 công nhân Việt nam đang có mặt ở các nước.[2]
Nhưng nhìn vào cơ cấu, thành phần thì 90% số ấy lại là lao động giản đơn (lao
công, phụ hồ, tạp dịch, giúp việc trong nhà…) xuất thân từ những tỉnh nghèo chứ
không phải những người có kỹ năng như hàn, mộc, đúc, tiện, cơ khí… được ưu đãi
và hưởng lương gấp 5-10 lần tùy theo nghề và nước họ đến.
|
Hộp 4. Lao Động VN ra nước ngoài năm 2006 và kiều
hối từ họ
-Malaysia
26.700 người
-Đài loan
23.600 người
-Hàn quốc
12,200 người
-Nhật bản
5.500 người
-Qatar
4.700 người
-UEA
2.100 người
Kiều hối qua con đường
lao động: 1,6-2 tỷ đô la/năm
Nguồn: *Hồng Khánh
vnexpress 3/1/2008. *Đỗ Minh vietnamnet 12/2007
|
Từ
những thực tế nầy vấn đề lớn đang đặt ra cho nước ta
là sớm có biện pháp đột phá để giải quyết nhằm đem lại lợi ích và duy trì phát
triển ở tốc độ cao, cân đối lực lượng lao động giữa nông thôn và thành thị,
nhằm từng bước “đô thị hóa” trải đều trên cả nước thay vì chỉ tập trung
vào một hai thành phố, và ngăn chận hiện tượng “sa mạc hóa” nông thôn như nguy
cơ hiện nay mà làng An Bằng ở Huế (xem báo Pháp luật
TPHCM ngày 19/12/2007) không phải là trường hợp duy nhất. Một số làng ở Tỉnh Hải
Dương đa số chỉ còn người già và con trẻ là hiện tượng đáng lưu ý.
Cần
đổi tư duy dạy nghề
Như
đã nói trên, điều cơ bản là xem xét lại chủ trương “dạy nghề” hiện nay ở địa
phương, đặc biệt tại các tỉnh nghèo ở miền Bắc. Mục đích của chương trình hiện nay là “xóa đói giảm
nghèo”, tạo công ăn việc làm cho những nông dân trong thời gian nông nhàn, cải
thiện cuộc sống thiếu thốn của người dân không có nghề nghiệp chứ không phải
nhằm mục đích phát triển kinh tế. Nói khác đi là việc dạy nghề cho những người
nầy nằm ngoài những chính sách phát triển, chiến lược chuyển đổi cơ cấu
công-nông nghiệp của địa phương, nhằm nâng cao
sức sản xuất. Chính vì vậy, việc dạy nghề này không
đủ hấp dẫn và không đảm bảo để họ trở thành một lực lượng công nhân hay nông
nhân có tay nghề, kỹ năng mà nhà đầu tư hay doanh nghiệp mong đợi. Cho nên hầu
hết các chương trình dạy nghề nhằm mục đích “xóa đói giảm nghèo” ở nông thôn
đều là những chương trình ngắn hạn, chắp vá “được chăng hay chớ”, hầu hết là
những chương trình dạy nghề ngắn hạn từ 2 tuần đến 1 tháng, thời gian chỉ đủ
làm quen với một nghề nào đó vì vậy không lôi kéo được thanh niên, hay giữ chân
được lực lượng lao động này ở lại nông thôn vì cuộc sống khó khăn.[3]
Theo
một báo cáo khác của đại học An Giang năm 2005[4]
hơn 83% người nghèo ở thị xã Long Xuyên đều không có nghề cố định, làm phu bốc
vác, phụ hồ, lơ xe vận tải hay lao động theo thời vụ, không ổn định… đây là một trong những lí
do giải thích tại sao số người ở tuổi lao động sung sức bỏ thôn làng lên thành
phố. Vì thế, việc đào tạo nghề ở nông thôn (thuộc ĐBSCL) cần phải được xem lại
cho phù hợp với những chính sách phát triển nông-công nghiệp-thủy hải sản trong
ít nhất là một thập kỷ tới. Cần có trường dạy
nghề khuyến nông-ngư nghiệp-cây trồng và công nghiệp chế biến (nông-thủy-hải
sản), chăn nuôi và các ngành công nghiệp nhẹ khác tùy theo từng tỉnh và địa
phương cụ thể. Đây chính đây là cái nôi đào tạo những chuyên gia có tay nghề
cao cho từng ngành để phát huy thế mạnh trên mảnh đất đó.
Một trong những kinh nghiệm quí về đào tạo nguồn nhân lực
mà các nhà làm chính sách có thể tham khảo là ở Nhật Bản. Tiền thân của đại học
Tơ sợi Kyoto (Kyoto University Of Textile) ngày nay xuất phát từ trường trung
cấp kỹ thuật dạy nghề dệt, hay đại học Gunma (phía bắc Kanto thuộc tỉnh
Saitama) phát xuất từ trường dạy trồng dâu nuôi tằm, là thế mạnh truyền thống
của tỉnh Gunma từ thời Minh Trị Duy Tân. Không những các trường kỹ thuật, thực
nghiệp của nhà nước, mà ngay trường đại học tư nổi tiếng như Đại học Waseda
(Tokyo) ngày nay cũng phát xuất từ trường Tokyo Senmon Gakko (Trường Chuyên môn
Tokyo) thành lập năm 1882 đến năm 1920 mới chính thức được công nhận là đại
học.
Những trường hợp tương tự như vậy rất phổ biến trong quá
trình hình thành hệ thống giáo dục đại học của Nhật Bản ngày nay. Đây là nhân tố thúc đẩy
phát triển các ngành công-nông nghiệp, thương nghiệp… trong lộ trình hiện đại
hoá (trong tiếng Nhật, họ dùng chữ “cận đại hoá”) từ những năm cuối thế
kỷ 19: Dựa vào lực lượng lao động được đào tạo chính qui từ thấp lên cao trong
một hệ thống dạy nghề (thực nghiệp, trung cấp kĩ thuật, cán sự và chuyên tu)
hoàn chỉnh. Tỉnh nào mạnh ngành gì thì ưu tiên xây dựng trường kĩ thuật dạy
nghề cho ngành đó và không có hiện tượng trường dạy nghề tràn lan mạnh ai nấy
làm như ở ta. Xem thêm bài “Giáo dục dạy nghề ở Nhật bản: chìa khóa đi
vào hiện đại hóa”.
Kinh nghiệm trong việc tạo lực lượng lao động thích hợp, có
chọn lựa để đẩy mạnh phát triển kinh tế địa phương của Nhật bản phải chăng là
bài học quí báu mà ta nên tiếp thu, tránh chạy đua nơi nào cũng có trường, lớp
dạy nghề tràn lan mà không có chất lượng và na ná bắt chước nhau để thu hút học
sinh mà thôi.
Phần 2: Tổ chức lại hệ thống dạy nghề
Trên cơ sở của Luật Dạy Nghề vừa mới thông qua vào
tháng 6 năm 2007, dựa theo kinh nghiệm nhiều năm của Nhật bản, có thể gợi ý một
mô hình đào tạo nghề chia làm 3 cấp như sau:
“Trung học thực nghiệp” cho
những em tốt nghiệp Tiểu học với chương trình học nghề cụ thể trong 2 năm và 1
năm thực tập để đào tạo công nhân kỹ thuật;
“Trung học kỹ thuật” hay “Trung
học Chuyên nghiệp” dành cho những em tốt nghiệp trung học cơ sở (cấp 2) với
thời gian đào tạo 3 năm có nội dung chuyên sâu hơn phù hợp với trình độ văn hóa
để có lớp công nhân bậc trung;
“Cao đẳng Kỹ thuật” dành cho
các em tốt nghiệp trung học phổ thông (cấp 3) có chương trình 3-5 năm nhằm tạo
ra Cán sự, chuyên viên đủ khả năng quản lý, chủ nhiệm các cơ sở sản xuất vừa và
nhỏ.
Thiết nghĩ với qui mô từ nhỏ (khoảng 1000-2000 em/trường)
đến vừa, có số lượng 5.000-10.000 em một trường, chỉ sau 5 năm đầu tiên chúng
ta đã có một lực lượng công nhân có kỹ năng đáng kể như đã nói ở trên để đáp
ứng yêu cầu phát triển của tỉnh. Nếu bài toán này được áp dụng khắp 64 tỉnh
thành trên cả nước và có nguồn ngân sách đảm bảo kề cả những chính sách cho vay
để học, khuyến khích việc lập trường tư thục dạy nghề, ngoài những cơ sở đào
tạo công hay bán công… thì triển vọng phát triển với nguồn nhân lực dồi dào là
điều hoàn toàn khả thi, không những thế, còn góp phần xuất khẩu lao động có kỹ
năng cao hơn.
Hiện nay tỷ lệ ngân sách giáo dục dành cho dạy nghề và
trung cấp chuyên nghiệp là 6,05% (1.910 tỷ đồng năm 2006).[5]
Theo Phó Thủ tướng – Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân mới công bố gần đây, trong
tương lai 10-12% ngân sách Giáo dục của nhà nước (tương đương với 7000-7500 tỷ
đồng/năm) có thể sẽ được phân bổ dành cho việc dạy nghề[6]
và vào ngày 10/1/2008 Chính phủ đã chính thức phê duyệt một ngân
sách 20,000 tỷ đồng cho 7 chương trình giáo dục và dạy nghề.[7]
Hơn thế nữa, mới đây lại nổi lên đề xuất của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng
sản HCM, với số tiền 16.000 tỷ đồng (một tỷ USD!).[8]
Đây là đề án nhằm đào tạo nghề cho thanh niên. Số tiền khổng lồ này sẽ có ý
nghĩa hơn nếu được dùng vào việc xây dựng cơ sở, trường đào tạo nghề thay vì
giao phó cho Trung ương Đoàn (là một tổ chức chính trị xã hội chuyên làm phong
trào) đứng ra “tác nghiệp” ở một lĩnh vực ngoài tầm tay của mình, không
có kinh nghiệm và nghiệp vụ chuyên môn. Thiết nghĩ việc chi 16.000 tỷ đồng chỉ để cho vay tài
chính (qua việc
kết hợp với qua ngân hàng), vận động học nghề và hỗ trợ giới thiệu việc làm…
cho thanh niên (đoàn viên) như bản dự thảo đề án thì có quá “xa xỉ”? Dư luận
cho rằng, đây chỉ là động thái nhằm tạo uy thế và củng cố vai trò của một đoàn
thể quần chúng thuộc hệ thống của Đảng đang ngày càng mờ nhạt?
Điều quan trọng hơn cả là hệ thống dạy nghề của chúng ta
hiện nay nên để cho Tổng cục dạy nghề quản lý thống nhất từ trung ương đến địa
phương, thay vì phân tán quyền qua Sở Lao động-Thương Binh-Xã hội như lâu nay
mang trách nhiệm dạy nghề để xóa đói giảm nghèo hay để giúp những người phạm
pháp “phục hồi nhân phẩm”(!). Mặt khác, việc huy động vay vốn ODA, hợp tác với những cơ
quan quốc tế như ILO, UNIDO, UNESCO… và những tổ chức dạy nghề ở các nước phát
triển để nâng cao chất lượng, thiết bị dạy nghề là điều có thể thực hiện
dễ dàng. Song bấy
lâu nay, công tác đối ngoại này còn ở mức “ai cho gì làm nấy”. Chẳng hạn như các dự án dạy nghề được tài trợ bởi chính phủ
Đức, Na-uy, Singapore, Hàn quốc hay vài
tổ chức dân sự của Nhật bản tại một số địa
phương… đã không tạo nên một chiến lược tổng thể phát triển lâu dài và có hệ
thống.
Một
thí dụ cụ thể là trường hợp dự án Dung Quất xây dựng com-bi-nat về hóa dầu đã
bị chựng lại, trục trặc vì nhiều lí do. Trong đó, một vấn đề đáng lưu ý là nhà thầu kỹ thuật Pháp
Technip khi bắt tay vào lắp đặt trang thiết bị thì “té ngửa” ra rằng, tìm người thợ hàn bậc cao tại chỗ
đủ khả năng hàn cao áp không dễ . Một mặt họ
huy động thợ hàn Malaysia,
Thái Lan sang làm chuyên gia để đảm bảo tiến độ, mặt
khác chi viện ngân sách gần một triệu đô la để tỉnh Quãng Ngãi lập cơ sở
đào tạo 4.000 thợ hàn cho công trình. Điều nầy cho thấy, khả năng đáp ứng thợ
chuyên nghiệp cho những chương trình trọng điểm phát triển kinh tế của chúng ta
còn quá yếu và ngày càng lộ rõ trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa
từ nay cho đến năm 2020 theo chủ trương của nhà nước.
Nhiều
nhà đầu tư Nhật hăm hở sang Việt Nam với nhiều
kì vọng, trong đó họ từng đánh giá công nhân của ta rất ‘tinh xảo”, “khéo tay”
nhưng khi bước vào thực hiện đề án lại phải thuê công nhân từ các nước láng
giềng, kể cả từ các tỉnh Quảng Đông, Thẩm Quyến… sang vì không tìm ra lực lượng
tại chỗ có thể đảm trách (xem Hộp 5). Có những
công ty Nhật Bản yêu cầu số lượng rất lớn, chẳng hạn
gần đây, hãng lắp ráp linh kiện điện tử của Nhật bản NIDEC cần tuyển 20.000
công nhân cho nhà máy lắp ráp nhưng đành bó tay khi thị
trường cung ứng lao động quá hạn chế.[9]
Ngày 28/8/2007 Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện
Nhân đã nêu lên trường hợp một công ty Đài Loan mở hai nhà máy tại Bắc Giang và
Bắc Ninh, với nhu cầu trên 300.000 kỹ sư cùng thợ chuyên nghiệp, mà Việt Nam
không thể cung ứng. Hãng này đã phải quyết định huấn luyện chuyên viên của họ ở
nước ngoài.[10]
Liệu khả năng cung ứng 100.000 lao động cho Qatar vừa mới kí kết vào đầu tháng
1/2008 có thực hiện được không? Lao động cho dự án 1 tỷ USD của tập đoàn Intel
ở Thành phố HCM hay 5 tỷ của Foxcom vào tỉnh Phú yên sẽ ra sao?
|
Hộp 5. Lao động nước ngoài ở VN
2007
34,000 người
2005
21,117
2004
12,602
Trong
đó: trên 50% là các nước Châu Á, 14% là người Châu Âu
Và
chia ra:
- Chuyên gia kỹ thuật: 41,2 % (làm quản lý 33,3 %)
- Lao dộng: 27 %
- Nghề khác: nghệ nhân, ngành nghề truyền thống.
Nguồn: *Hồng Khánh vnexpress 3/1/2008
*Đỗ Minh vietnamnet 12/2007
|
Lời Kết
Liệu mục tiêu mà chính phủ chủ trương hiện nay là đến năm
2010 có 50% lao động ở nước ta được học nghề tử tế, có thực hiện được không nếu
không có những quyết sách về đào tạo nguồn nhân lực thỏa đáng? Trong thời
kỳ huy động tích cực nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ bên ngoài để tăng tốc phát
triển, vấn đề cơ sở hạ tầng như điện lực, thông tin, bến cảng, giao thông, cầu
đường, sân bay… đòi hỏi phải được nhanh chóng hoàn thiện và mở rộng hơn nữa để
đáp ứng nhu cầu của các phương án đề xuất. Nguồn nhân lực, lao động có kỹ năng cũng được các
nhà đầu tư xem như là nút cổ chai quyết định
tính khả thi của dự án, cho nên việc đào tạo nghề, kỹ năng cho thanh niên, lao
động nông thôn vô cùng cấp bách trong tình hình hiện nay, khi mà cac dự án đầu
tư nước ngoài có xu hướng (hay được phân bổ) về địa phương.
Thật
vậy, số dự án và kim ngạch đầu tư trực tiếp tăng lên đáng kể trong hai năm 2006
- 2007 và có khuynh hướng lan tỏa ra các địa phương[11]
mặc dù Ông Phan hữu Thắng, Cục trưởng cục quản lý đầu tư nhận định “vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và triển vọng của các địa
phương cũng như cơ hội thu hút FDI hiện có. Nhiều đối tác tiềm năng từ các nước
và vùng lãnh thổ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ðài Loan, Hoa Kỳ, khu vực Trung
Ðông... đã đến Việt Nam và đang tìm hiểu tại các địa phương với nhiều dự án
lớn. Ðiều quan trọng là các địa phương đã chuẩn bị đón nhận những dự án này như
thế nào. Số vốn FDI chuẩn bị đổ vào Việt Nam là rất lớn nhưng thực tế, khả
năng hấp thụ nguồn vốn này đến đâu trong khi cơ sở hạ tầng của nước ta (điện,
cấp thoát nước, giao thông, vận tải...) hiện chưa phát triển theo kịp nhu cầu
của các nhà đầu tư. Hơn nữa, tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực có trình độ cao,
lao động có tay nghề sẽ ảnh hưởng tiến độ triển khai nhiều dự án. Ðây chính là
một trong những khó khăn, thách thức lớn trong thu hút FDI giai đoạn tới”
(Tlđd)
Nhóm
nghiên cứu của GS Võ Tòng Xuân đưa ra lời cảnh báo rằng: “Phần lớn các doanh
nghiệp (ở ĐBSCL) được phỏng vấn cho rằng, cần có sự thay đổi trong chính sách
giáo dục và đầu tư của Việt Nam, nhằm cải thiện nguồn nhân lực trong tương lai”.(Tlđd)
Điều đáng
ngạc nhiên hơn, có hiện tượng “nhiều hộ gia
đình, nhất là các hộ nông nghiệp nhận định rằng, học vấn không có tác dụng tích
cực trực tiếp đến cơ hội việc làm trong tương lai của con em họ. Gia đình
không sẵn sàng hỗ trợ con em mình đi học khi
chi phí cơ hội của việc đi học được xem là cao (vì trẻ em
độ tuổi 10-14 có thể cung cấp lao động đáng kể)”. Đây là lý do
chính khiến tỉ tệ trẻ em không tốt nghiệp bậc tiểu học ở ĐBSCL cao nhất so với
cả nước. Báo Đại Đoàn Kết ngày 12/1/2008 đưa tin khi hai trường mẫu giáo ở tỉnh Sóc Trăng
tăng học phí từ 25.000 đồng/tháng lên 250.000 đồng/tháng (gấp 10 lần) theo chủ
trương “xã hội hoá”, 50% đã bỏ học và cô giáo tại trường này cũng phải cho con
ở nhà. Bộ Giáo Dục và Đào tạo nghĩ sao về sự kiện đáng tham khảo này khi chủ
trương thực hiện tăng học phí và tích cực “xã hội hóa” giáo dục trong những năm
tới.
Vấn
đề chính đặt ra là cần thoát khỏi tư duy xem thường việc dạy nghề trong nền
giáo dục phổ thông, dừng lại ở nhận thức “xoá đói giảm nghèo” không hiệu quả mà
đặt mục tiêu dạy nghề là trang bị và sửa soạn cho thanh niên có tay nghề vững,
mà nền kinh tế đang phát triển đòi hỏi. Khi thanh niên nhận thức được là giáo
dục dạy nghề sẽ đưa đến công ăn việc làm và thu nhập cao họ sẽ không thấy
chuyện đi học là phù phiếm và tốn kém. Ông Kotaro Uchiyama, tổng giám đốc công
ty TNHH Stanley (Nhật bản) cho rằng “Việt Nam cần phải rà soát, bổ sung quy
hoạch mạng lưới các cơ sở dạy nghề đáp ứng nhu cầu lao động có nghề cho các
doanh nghiệp FDI, trong đó khuyến khích thành lập cơ sở dạy nghề trong doanh
nghiệp FDI, nhất là trong doanh nghiệp có quy mô sử dụng lao động lớn”. [12]
Điều
nầy cho thấy nếu không giải đáp được yêu cầu lao động có kỹ năng thì làm sao có
thể hấp thu đầu tư nước ngoài trong những lĩnh vực công nghệ cao, thay vì chỉ
có công nhân là thợ gia công giản đơn. Thiết nghĩ đây chính là bài toán cần
được giải đáp càng sớm càng tốt nhằm đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế một
cách bền vững. Chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gần đây cũng đã xác nhận: “Tôi
còn đang rất lo lắng về nguồn nhân lực khi mà các tập đoàn công nghệ cao cứ vào
liên tục: Intel, Samsung rồi Hồng Hải đầu tư 5-7 tỷ USD, họ yêu cầu ta cung cấp
50.000 lao động có đào tạo lấy đâu? ”)[13]mở ra một khả năng thực tế là ngày càng có nhiều chuyên gia
kỹ thuật nước ngoài vào thị trường lao động trong nước như khuyến cáo của ông
Quentin Dupriez của UNTAC trong cuộc họp ngày 18/12/2007 tại Hà nội.[14]
3/2008
[1]
Xem Thống kê đầu tư trực nước ngoài được cấp giấy phép (chỉ kể phần đóng góp
của đối tác nước ngoài) trên mạng của Tổng cục Thống kê: http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=392&idmid=3&ItemID=6211.
[2]
http://vneconomy.vn/?home=detail&page=category&cat_name=06&id=928b483be21fcf
http://www.ttvl.com/apm/modules.php?name=News&file=article&sid=4907
[3]
Xem thêm một số bài viết về thực trạng dạy nghề:
http://www.molisa.gov.vn/frmdocchitiet.asp?mbien1=01&mbien2=103&mbien3=11319
http://www.vnchannel.net/news/3-xa-hoi/200710/27666-80-lao-dong-chua-duoc-dao-tao-
nghe.html
http://www.molisa.gov.vn/frmdocchitiet.asp?mbien1=01&mbien2=103&mbien3=10643
http://www.cpv.org.vn/details.asp?id=BT2760751846
[4]
(3)”Thực trạng xóa đói giảm nghèo tại thành phố Long Xuyên, An Giang”(Huỳnh thị
Sương, đại học An Giang 5/2006)
[5]
Bộ GD-ĐT, Giáo dục Việt Nam Đầu tư và cơ cấu tài chính, Hà Nội tháng 10
năm 2007, Bảng 3.5.
[6] Tại hội nghị “Dạy nghề trình độ cao đẳng năm 2007” vào ngày
7/9/2007 Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân cho biêt sẽ ưu tiên dành 1 tỷ USD cho học
sinh,thanh niên vay vốn học nghề, lập nghiệp(Thanh nien online) và hppt://www.nld.com.vn/tintuc/viec-lam/217092.asp.
[7] Hơn 20.270 tỷ cho 7 dự án giáo dục và dạy nghề: Chính phủ
quyết định 7 dự án vào ngày 10/1/2008, gồm:
- Hổ trợ thực hiện phổ cập giáo dục THCS, duy trì kết
quả phổ cập giáo dục tiểu học và hỗ trợ phổ cập giáo dục trung học.(680 tỷ
đồng)
- Đổi mới chương trình giáo dục, sách giáo khoa và tài
liệu giảng dạy (2,830 tỷ đồng).
- Đào tạo cán bộ tin học, đưa tin học vào nhà trường.(960
tỷ đồng)
- Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, giảng viên và cán bộ quản
lý giáo dục.(700 tỷ đồng)
- Hỗ trợ giáo dục miền núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng
có nhiều khó khăn.(3,000 tỷ đồng)
- Tăng cường cơ sở vật chất các trường học (6,600 tỷ
đồng).
- Tăng cường năng lực dạy nghề.(5,500 tỷ đồng)
Tổng kinh phí để thực hiện 7 dự án trên là 20.270 tỷ đồng, trong đó, chủ yếu
là vốn ngân sách Trung ương cấp (16.420 tỷ đồng), vốn hỗ trợ phát triển chính
thức ODA (2.080 tỷ đồng) và ngân sách địa phương (1.770 tỷ đồng).
Riêng Dự án tăng cường năng lực dạy nghề do Bộ Lao động -Thương binh và Xã
hội tổ chức thực hiện. Còn lại 6 dự án khác sẽ do Bộ GD-ĐT quản lý, điều hành.
(Dân Trí online và
www.nhandan.com.vn/tinbai/?top=41&sub=74&article113586)
Bên cạnh đó, bà Nguyễn thị Hằng, Chủ tịch hội dạy nghề Việt nam cho biết Bộ
Lao động-Thương binh-Xã Hội còn đề xuất 7 dự án phát triển dạy nghề trong năm
nay cho giai đoạn 2008-2020. Xem:
http://vietbao.vn/Giao-duc/Bay-du-an-phat-trien-day-nghe/40248641/202/
[8]
VietNamNet “16,000 tỷ đồng xóa thất nghiệp ? Vừa làm vừa điều
chỉnh”,
hppt//www.vietnamnet.vn/chinhtri/2007/06/702944
[9]
http://www.hochiminhcity.gov.vn/left/tin_tuc/hoat_dong_dieu_hanh/2006/01/24-1-2006
[10]
VietNamNet –28/08/2007 – Hà Anh & Kiều Oanh - “Phó Thủ Tướng đọc giảng
tại lớp học hiệu trưởng”
http://www.vnchannel.net/news/7-giao-duc/200801/52770-hon-20-000-ty-dong-cho-chuong-trinh-giao-duc-dao-tao.html
[11]
”Thúc đẩy và trợ giúp các dự án FDI lớn”Thu Hà (Nhân
Dân)
http://www.binhthuan.gov.vn/news/PagePrint.asp?idnews=029973
[12]
Doanh nghiệp FDI:quá phân nửa chưa qua đào tạo”
http://vneconomy.vn/?home=detail&page=category&cat_name=11&id=61e9df71c411c3
[13]
Báo Pháp Luật TPHCM ngày 11/2/2008)
[14]
“Việt nam nên tăng cường nhập lao động ngoại” Thành Nam (18/12/2007)http://www.vnbh.com/?CatID=home&Key=ldvl&SubKey=xkld&id=5037
hoặc http://vneconomy.vn/printView.phtml?id=ac730dad5348
©
Thời Đại Mới - Số 13 - Tháng 3/2008