Ny-lon và giấy, xăng và dầu: cái nào bẩn hơn?
Theo dự thảo, có 5 nhóm hàng hóa, sản phẩm thuộc đối tượng chịu
thuế là xăng dầu, than (trừ than bùn), chất làm lạnh chứa hydro-chloro-fluoro-carbon
(dung dịch HCFC), túi ny-lon (trừ túi sinh học) và thuốc bảo vệ thực vật hạn
chế sử dụng. Ông Vũ Văn Trường, Vụ trưởng Vụ Chính sách thuế, Bộ Tài chính, cho
biết, đây là những sản phẩm gây tác động xấu đến môi trường và sức khỏe con
người, nên được xếp vào diện chịu thuế môi trường.
Tuy nhiên, ông Nguyễn Như Khuê, Giám đốc Điều hành Công ty
Trách nhiệm Hữu hạn RKW Lotus, chuyên sản xuất màng nhựa, túi nhựa, đặt câu
hỏi: “Thế nào là sản phẩm gây tác động xấu đến môi trường?”
“So với túi giấy, túi ny-lon thân thiện với môi trường hơn. Sản
xuất túi giấy đòi hỏi phải chặt cây và tiêu thụ nhiều năng lượng trong khi thời
gian sử dụng ngắn (chỉ dùng 1 lần). Quá trình tái chế túi giấy làm thải ra
lượng khí CO2 lớn và dùng nhiều chất tẩy rửa ô nhiễm môi trường. Tuổi thọ của
túi ny-lon lâu hơn, tính kinh tế và tiện dụng cũng cao hơn túi giấy. Vậy túi
ny-lon hay túi giấy gây ô nhiễm môi trường hơn? Tại sao không đánh thuế túi
giấy mà đánh thuế túi ny-lon?”, ông nói.
Ông Khuê nêu ví dụ, các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU) không
đánh thuế nhựa PET vì chưa chứng minh được nhựa PET không thân thiện với môi
trường như nhựa sinh học (có nguồn gốc từ thực vật hoặc vi khuẩn).
Đại diện Công ty Fotai Việt Nam, chuyên sản xuất bao bì nhựa,
túi xốp, giấy, cũng đồng tình rằng, chưa có một công trình nghiên cứu khoa học
cụ thể nào đánh giá tác động của túi ny-lon đối với môi trường. Vì thế, việc
đánh thuế 20.000-30.000 đồng/ký túi ny-lon (tương đương 100% giá vốn) là chưa
hợp lý.
Đối với nhóm hàng hóa xăng dầu, theo quy định tại Điều 9 Dự
thảo về biểu khung thuế môi trường, xăng bị áp mức thuế 1.000-4.000 đồng/lít
trong khi mức thuế đối với dầu diesel là 500-2.000 đồng/lít. Điều khiến nhiều
đại biểu thắc mắc là tại sao dầu diesel gây nguy hại hơn xăng mà lại áp mức
thuế thấp hơn?
“Trên thế giới, để đánh giá mức độ độc hại của nhiên liệu,
người ta dựa trên chất ô nhiễm SO2 được sinh ra từ việc đốt nhiên liệu để làm
căn cứ tính thuế. Như vậy, việc áp mức thuế suất cao hay thấp chủ yếu căn cứ
trên hàm lượng lưu huỳnh có trong loại nhiên liệu đó. Tuy nhiên, theo dự thảo,
hàm lượng lưu huỳnh trong xăng gần như bằng 0, nhưng lại bị đánh mức thuế cao
nhất, trong khi dầu mazut có hàm lượng lưu huỳnh có thể lên tới 3% thì được áp
mức thấp nhất. Điều này không hợp lý”, Phó Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Đinh Tuấn,
nguyên Chi cục Trưởng Chi cục Bảo vệ Môi trường TP.HCM, nhận xét.
Luật sư Thái Văn Chung, đại diện Hiệp hội Vận tải Hàng hóa
TP.HCM, cũng nhận định rằng, khung thuế suất của nhóm mặt hàng xăng dầu theo dự
thảo là quá cao. Điều này sẽ đẩy giá cước vận tải lên cao so với các nước trong
khu vực, làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước. Mức thuế hợp lý
nhất, theo ông Chung, là 1.000-2.000 đồng/lít.
Tính thuế như thế nào?
Tranh cãi càng trở nên sôi nổi khi chuyển sang đề tài pin, ắc
quy, thuốc lá, dung môi (dùng trong sản xuất sơn), thuốc trừ sâu, xi măng, chất
phóng xạ và các chất khác gây hại cho tầng ozone ngoài hợp chất HCFC. Theo đề
nghị của một số đại biểu, nên đưa các mặt hàng này vào diện chịu thuế vì chúng
tác động xấu đến môi trường.
Về vấn đề này, ông Trường, Vụ Chính sách thuế, giải thích:
“Pin, ắc quy, thuốc lá không được đưa vào diện chịu thuế vì đã có cơ chế thu
hồi để được tái sử dụng. Còn đánh thuế cao đối với xăng là nhằm chuyển dần từ
sử dụng xăng sang sử dụng nhiên liệu sinh học đặc biệt trong bối cảnh nhiên
liệu hóa thạch đang cạn kiệt dần. Mặt khác, sẽ giúp đảm bảo giá bán xăng trong
nước ngang bằng với các nước trong khu vực, tránh tình trạng xuất lậu xăng khi
Việt Nam phải giảm thuế nhập khẩu xăng vào năm 2015 theo cam kết với Tổ chức
Thương mại Thế giới”.
Có lẽ, vấn đề nằm ở chỗ chưa có một nghiên cứu khoa học nào
chứng minh mức độ gây ô nhiễm của từng nhóm hàng hóa để làm căn cứ tính thuế.
Do đó, các nhà làm luật chưa thể thuyết phục được các đại biểu.
Ngoài ra, dự thảo cũng chưa linh hoạt trong việc áp dụng hoặc
xét miễn giảm cho từng đối tượng chịu thuế như doanh nghiệp có đầu tư thiết bị
sản xuất và xử lý chất thải hiện đại, sản phẩm có tỉ lệ nội địa cao, sản phẩm
xuất khẩu… “Đánh thuế nên công bằng chứ không nên cào bằng. Nếu không, sẽ không
khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các công nghệ thân thiện với môi trường”,
ông Nguyễn Anh Tuấn, giảng viên Đại học Luật TP.HCM, nói.
Một tranh cãi khác là về cách tính thuế. Mục đích của các nhà
làm luật khi đưa ra mức thuế suất tuyệt đối là nhằm tạo điều kiện cho việc tính
thuế được đơn giản, đảm bảo ổn định nguồn thu cho ngân sách nhà nước và hạn chế
tình trạng trốn thuế. Tuy nhiên, Thạc sĩ Phan Phương Nam, giảng viên Đại học
Luật TP.HCM, cho rằng, nên áp dụng cách tính thuế tương đối (tỉ lệ % giá vốn x
đơn vị sản phẩm). Theo ông, cách tính này không hề phức tạp vì song song với
việc nộp thuế môi trường, doanh nghiệp cũng phải nộp thuế nhập khẩu và thuế giá
trị gia tăng. Hơn nữa, có thể lấy giá tính thuế của các loại thuế nhập khẩu, thuế
giá trị gia tăng để tính cho thuế môi trường.
Trong trường hợp áp dụng mức thuế suất tuyệt đối, số tiền thu
thuế sẽ ổn định qua từng năm. Tuy nhiên, với tình trạng giá cả leo thang như
hiện nay, mục đích của việc thu thuế (nhằm hạn chế tác hại gây ra cho môi
trường) có thể sẽ không đạt được. Còn nếu áp mức thuế tương đối thì khi giá cả
lên cao, số tiền thu thuế cũng sẽ tăng lên tương ứng. Như vậy, luật thuế mới đủ
mạnh để hạn chế việc sử dụng các sản phẩm gây hại cho môi trường.
Đồng tình với quan điểm trên, Thạc sĩ Võ Trung Tín, Đại học
Luật TP.HCM, cho rằng, cần phải xác định đâu là mục đích trọng tâm của việc thu
thuế môi trường. Nếu là để hạn chế việc sử dụng các sản phẩm gây ô nhiễm môi
trường thì nên áp dụng cách đánh thuế tương đối. Điều này sẽ giúp đạt được mục
đích “ai gây ô nhiễm nhiều hơn phải trả tiền nhiều hơn”. Còn nếu xác định đánh
thuế với mục đích chính là thu ngân sách thì nên áp mức thuế tuyệt đối.