Luật sở hữu trí tuệ - Sản phẩm của trí tuệ
Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, Nhà nước Việt Nam đã ghi nhận những quyền cơ bản của công dân, trong đó có các quyền liên quan đến quyền tác giả, thể hiện tư tưởng tiến bộ, nhân văn về quyền con người. Đó là quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, là việc Nhà nước cam kết bảo vệ quyền lợi của trí thức, tôn trọng quyền tư hữu tư nhân về tài sản.
Quyền tư hữu về
tài sản được hiểu bao gồm cả quyền đối với đồ vật là các tài sản hữu hình là
các giá trị văn học nghệ thuật kết tinh tại các tác phẩm văn học nghệ thuật và
khoa học do công dân sáng tạo nên. Tư tưởng lập pháp đó được ghi nhận tiếp
trong các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992. Đến bản Hiến pháp 1992, Nhà nước Việt
Nam đã công khai tuyên bố: “công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ
thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất,
sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hóa khác.
Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp” (Điều 60).
Năm 1986 với Nghị
định 142/HĐBT, lần đầu tiên ở Việt Nam một văn bản riêng biệt về quyền tác giả
được ban hành với một số quy định về quyền tác giả, có sự giúp đỡ của hãng VAB
(Hãng bảo hộ quyền tác giả của Liên Xô cũ). Tháng 10.1994, Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội đã thông qua pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả. Trước yêu cầu của sự phát
triển, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa IX đã biểu quyết thông qua Bộ luật Dân sự
trong đó có các quy định về quyền tác giả. Với 36 điều quy định tại phần 6,
phần 7 Bộ luật Dân sự, các quy định này đã điều chỉnh hầu hết các quan hệ dân
sự về quyền tác giả và quyền liên quan. Trong điều kiện chuyển đổi cơ chế quản
lý từ tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường. Nhằm thúc đẩy họat đông bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ tại các quốc gia và hội nhập quốc tế, Quốc hội khóa XI kỳ
họp thứ 7 đã thông qua Bộ luật Dân sự sửa đổi, trong đó có 14 điều quy định về
quyền tác giả và quyền liên quan tại Chương XXXIV, Phần thứ 6. Tiếp theo tư
tưởng đổi mới từ việc sửa đổi Bộ luật Dân sự, Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 8 đã
biểu quyết thông qua Luật Sở hữu trí tuệ. Luật Sở hữu trí tuệ có bố cục 6 phần,
18 chương với 222 điều, điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến hoạt động
sáng tạo và bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp
và quyền đối với giống cây trồng mới.
Liên quan tới các
quy định về quyền tác giả và quyền liên quan tại Luật Sở hữu trí tuệ, tác giả
viết bài này xin đề cập tới giá trị của văn bản pháp luật đã được quốc hội
thông qua, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2006.
Luật Sở hữu trí
tuệ, với các quy định về quyền tác giả và quyền liên quan là thành quả của hoạt
động trí tuệ từ việc tổ chức nghiên cứu xây dựng đề án, đến việc xem xét, biểu
quyết thông qua của Quốc hội. Có thể dánh giá trị của Luật sở hữu trí tuệ trên
các khía cạnh sau:
1. Luật Sở
hữu trí tuệ đã kế thừa các tư tưởng lập pháp, giá trị của pháp luật về quyền
tác giả và quyền liên quan từ các văn bản pháp luật đã được kiểm nghiệm trong
thực tiễn.
Tư tưởng lập pháp
tiến bộ, nhân văn về quyền con người của Nhà nước Việt Nam đã được hình thành
và thể hiện trong các văn bản pháp luật trước, nay tiếp tục được ghi nhận và cụ
thể hóa tại Luật Sở hữu trí tuệ. Bởi lẽ, thực chất của quyền tác giả chính là
quyền của con người, là nhân quyền. Trong nhiều quyền của công dân được
ghi tại Hiến pháp, các bộ luật và các luật thì, quyền tác giả là một loại quyền
đặc biệt. Vì vậy, đối tượng được pháp luật bảo hộ là các quyền nhân thân và
quyền tài sản. Khách thể của quyền tác giả là các tác phẩm văn học, nghệ thuật
và khoa học, chủ thể quyền chính là công dân - tác giả. Đây là tư tưởng chỉ
đạo, xuyên suốt quá trình lập pháp về lĩnh vực này ở Việt Nam.
Tuy nhiên, cùng với sự tiến bộ của họat động lập pháp, Luật Sở hữu trí tuệ 2005
đã thể hiện rõ và đầy đủ hơn các quyền của tác giả. Trong đó, quyền tài sản
được thể hiện chuẩn xác, đúng nội hàm của quyền này.
Luật Sở hữu trí
tuệ 2005 là văn bản luật được tiếp thu các giá trị từ các quy phạm pháp luật đã
kiểm nghiệm trong thực tiễn thi hành. Nhiều nội dung quy định tại các văn
bản pháp luật trước đã phù hợp, được thể hiện trong Luật sở hữu trí tuệ, với kỹ
thuật lập pháp tiến bộ hơn. Nhiều nội dung giá trị tại các thông tư của Bộ Văn
hóa Thông tin, liên bộ ngành đã được nâng lên thành quy phạm của luật sở hữu
trí tuệ.
Luật Sở hữu trí
tuệ 2005 còn là văn bản phản ảnh các tổng kết, đúc rút kinh nghiệm quản lý,
thực thi tại Việt Nam trong gần 20 năm, kể từ khi Nhà nước triển khai thực hiện
công tác quan trọng, mới mẻ và phức tạp này.
2. Luật sở
hữu trí tuệ thể hiện sự hài hòa lợi ích giữa các chủ thể sáng tạo với các chủ
thể sử dụng và công chúng hưởng thụ.
Khi đề cập tới
luật pháp là đề cập tới việc điều chỉnh lợi ích giữa các nhóm cộng đồng. Sự
thành công của một trật tự xã hội bắt nguồn trước tiên từ chính việc xác lập
các quy tắc xử sự, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận. Theo đó, luật sở hữu trí
tuệ đã thể hiện việc xử lý phù hợp các lợi ích của người sáng tạo, nhà sử dụng
và công chúng tiêu dùng (hưởng thụ). Các quyền của tác giả đối với tác phẩm văn
học nghệ thuật và khoa học, các quyền của người biểu diễn đối với cuộc biểu
diễn của mình, các quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, các quyền của
tổ chức phát sóng đối với chương trình phát sóng của mình được thể hiện đầy đủ,
rõ ràng tại luật sở hữu trí tuệ. Nhưng các giới hạn quyền cũng được đặt ra
trong trường hợp tác phẩm đã công bố, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà
sử dụng có thể tham gia tích cực vào việc đưa tác phẩm tới công chúng, vì lợi
ích công cộng hoặc vì chính sách nhân đạo. Công chúng luôn luôn là mục
đích phục vụ cuối cùng của các họat động sáng tạo. Họ là người hưởng thụ các
giá trị văn học nghệ thuật và thực chất họ là người thanh toán chi phí bản
quyền. Thông qua cảm thụ và chi trả thù lao gián tiếp của công chúng, mà tác
giả và các nghệ sĩ có thể thấy được giá trị sáng tạo của mình, tiếp tục đầu tư
cho sáng tạo. Vì lẽ đó mà quyền của tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản
ghi âm, tổ chức phát sóng không thể là quyền tuyệt đối.
3. Luật sở
hữu trí tuệ đã tương thích với các chuẩn mực bảo hộ quốc tế
Hầu hết các điều
khoản đã tương thích với các nội dung tương ứng tại các điều ước quốc tế
song phương và đa phương. Trong quá trình nghiên cứu xây dựng dự án Luật sở
hữu trí tuệ Ban soạn thảo đã tổ chức nghiên cứu, tham khảo luật mẫu của WIPO,
tám điều ước quốc tế về quyền tác giả và quyền liên quan, ba hiệp định song phương
giữa Việt Nam - Hoa Kỳ, Việt Nam - Thuỵ Sỹ, Luật của một số quốc gia như Mỹ,
Trung Quốc v.v. Ban soan thảo còn nhận được ý kiến tư vấn của chuyên gia
WIPO, chuyên gia dự án STAR Việt Nam, các tổ chức quốc tế liên quan như: Liên
đoàn quốc tế các nhà soạn nhạc và soạn lời (CISAC), liên đoàn quốc tế các tổ
chức ghi âm (IFPI). Việt Nam
cũng đã cử các đoàn tham gia các hội thảo quốc tế liên quan đến các nội dung
mới của luật pháp quốc tế do WIPO tổ chức. Hoa Kỳ mời một đoàn cán bộ Việt Nam
tham gia Ban soạn thảo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam
đến Hoa Kỳ để trao đổi về Luật này.
Chính vì quá
trình tổ chức nghiên cứu, xây dựng, thông qua được thực hiện với sự tư vấn của
chuyên gia quốc tế nên Luật sở hữu trí tuệ với các quy định về quyền tác giả và
quyền liên quan đã phù hợp với các chuẩn mực quốc tế.
Hiện còn một vài
quy định tại Luật sở hữu trí tuệ làm cho một số chuyên gia thuộc các quốc gia
phân vân. Trước tiên xin được các bạn thông cảm, bởi lẽ Luật sở hữu trí tuệ
Việt Nam
phải phù hợp với các đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội Việt Nam.
Trong trường hợp có xung đột với các điều ước song phương và đa phương mà
Việt Nam là thành viên thì, căn cứ pháp lý để bảo hộ quyền lợi của các tổ chức,
cá nhân các nước là thành viên của các điều ước quốc tế là chính các điều ước
quốc tế đó.
Với các lý do như
trên, chúng ta có thể tin tưởng rằng Luật Sở hữu trí tuệ là công cụ pháp lý hữu
hiệu để Việt Nam
thực hiện các điều ước quốc tế.
4. Luật sở
hữu trí tuệ bảo vệ lợi ích quốc gia
Luật quốc gia
đương nhiên phải phản ánh và phù hợp với đặc điểm chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội của quốc gia. Đó là đòi hỏi sống còn của mọi văn bản pháp luật. Luật sở
hữu trí tuệ cũng được tổ chức nghiên cứu, thông qua trên quan điểm đó. Tuy
nhiên vì là một luật góp phần quan trọng cho việc hội nhập quốc tế không riêng
về văn hóa, mà còn là kinh tế, thương mại, thu hút đầu tư từ nước ngoài. Vì
vậy, ngoài thỏa mãn các đòi hỏi điều chỉnh quan hệ xã hội nội tại của quốc gia,
nó còn phải đáp ứng các yêu cầu của hội nhập quốc tế. Ban soạn thảo, các cơ
quan có thẩm quyền trình, và quốc hội đã coi trọng lợi ích quốc gia thể hiện tại
các điều luật. Các quy định luật sở hữu trí tuệ về cơ bản là phù hợp giữa lợi
ích quốc gia với các chuẩn mực quốc tế. Trong một số trường hợp không nhiều mặc
dù có sự xung đột pháp luật, nhưng Quốc hội đã xuất phát từ điều kiện, đặc điểm
cụ thể của đất nước để biểu quyết dân chủ, công khai từng nội dung.
5. Luật Sở
hữu trí tuệ là văn bản được công khai trong suốt quá trình soạn thảo đến khi
xem xét thông qua; nội dung minh bạch, khả thi.
Dự thảo các lần
của Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan được đăng tải
trên website: quyền tác giả Việt Nam, được in nhân bản phân phát tại các hội
thảo, hội nghị tổ chức lấy ý kiến góp ý. Nó còn được chuyển đến các chuyên gia,
một số quốc gia thành viên WTO có yêu cầu, để bình luận về sự phù hợp với luật pháp
quốc tế.
Nội dung quy định
tại các điều khoản về cơ bản là minh bạch, rõ ràng. Tuy nhiên có một số từ ngữ
đã là thông lệ quốc tế, có thể khó hiểu đối với một số người, đã được lý giải
tại Nghị định của Chính phủ, đảm bảo cho sự thống nhất khi thi hành.
Hầu hết các quy
định được tiếp thu từ các văn bản quy phạm pháp luật cũ, được nâng lên và hoàn
thiện, tiếp nhận từ các điều ước quốc tế song phương và đa phương, vì vậy nó
chứa đựng khả năng đi vào đời sống để phát huy hiệu quả trong thực tế. Có một
số quy định tuy không phải là mới, bởi nó đã được thể hiện tại Bộ Luật dân sự
năm 1995, nhưng chưa được thực hiện trong thời gian qua, có thể sẽ là thách
thức đói với chúng ta.
Tóm lại, Luật sở
hữu trí tuệ được Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005, có
hiệu lực ngày 1/7/2006 là sản phẩm trí tuệ. Nó đã được tổ chức nghiên cứu xây
dựng công phu, với sự tham gia của các Hội văn học nghệ thuật, các tổ chức quản
lý tập thể quyền tác giả, các tổ chức, doanh nghiệp khai thác, sử dụng tác phẩm
như các cơ quan báo chí, xuất bản, nhà hát, hãng film, đài phát thanh truyền
hình và các cơ quan quản lý, thực thi từ trung ương tới địa phương. Kết quả đó
có vai trò quan trọng của các cơ quan giúp việc của Quốc hội, đặc biệt là tinh thần
làm việc nghiêm túc, dân chủ và có trách nhiệm cao của các đại biểu Quốc hội
tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá XI./.
TS.Vũ
Mạnh Chu
Cục
trưởng Cục Bản quyền
Tác
giả Văn học Nghệ thuật
Thông tin chi tiết Quý khách hàng vui lòng liên hệ với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW
Địa chỉ: Số 47, Phố Chính Kinh, Phường Thanh Xuân Trung, Quận Thanh
Xuân, thành phố Hà Nội.
Tel: 04-39916057 Fax: 04-39916058
Số điện thoại TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ: 0986 11 66 05 & 043- 9916057
Email: contact@sunlaw.com.vn
Website: www.sunlaw.com.vn &
www.lawdata.com.vn