Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi và sự tác động của nó.
Liên quan đến Dự án Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, bài viết này sẽ đề cập khái quát về hệ thống pháp luật hiện hành, hoạt động thực thi, yêu cầu của việc sửa đổi, bổ sung, quan điểm của việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ và cuối cùng là sự tác động của các điều khoản sửa đổi trong thực tiễn thi hành sau khi được Quốc hội thông qua.
Luật Sở hữu trí tuệ và việc sửa đổi bổ
sung:
Việc Quốc
hội ban hành Bộ luật Dân sự sửa đổi năm 2005 và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã
đánh dấu bước phát triển mới, thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong
việc thúc đẩy hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam và hội nhập
quốc tế. Để cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí
tuệ, Chính phủ đã ban hành 2 Chỉ thị, 5 Nghị định; các Bộ, ngành liên quan đã
ban hành 4 Thông tư và 4 Quyết định.
Hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành đã tạo
hành lang pháp lý an toàn, khuyến khích các hoạt động sáng tạo, bảo hộ thành
quả của lao động sáng tạo kết tinh tại các tài sản trí tuệ. Các quy định pháp
luật về sở hữu trí tuệ đã đi vào cuộc sống và phát huy vai trò của nó. Hoạt động
thực thi của các cơ quan có thẩm quyền, hoạt động tự bảo vệ quyền của các chủ
thể đã có bước tiến bộ đáng kể. Tuy nhiên, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí
tuệ vẫn còn diễn ra đối với hầu hết các đối tượng được bảo hộ, từ quyền tác
giả, quyền liên quan đến các đối tượng sở hữu công nghiệp và giống cây trồng.
Nạn sao chép tác phẩm, vi phạm về nhãn hiệu hàng hóa đã gây thiệt hại không nhỏ
cho các nhà đầu tư. Hầu hết các bản ghi âm, ghi hình, chương trình máy tính có
giá trị bị sao chép lậu, nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng bị làm giả, làm nhái. Môi
trường kỹ thuật số nói chung, mạng thông tin điện tử nói riêng đã bị khai thác với
động cơ vụ lợi, xâm phạm nghiêm trọng quyền tác giả đối với các loại hình tác
phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học. Một số vụ việc đã được các tổ chức quốc
tế, các quốc gia, doanh nghiệp nước ngoài yêu cầu các cơ quan nhà nước Việt Nam
xem xét, xử lý.
Nguyên nhân của tình trạng này là nhận thức, hiểu
biết trong công chúng, người có quyền và nghĩa vụ còn nhiều hạn chế, đặc biệt
là ý thức chấp hành pháp luật không nghiêm. Mặt khác, bản thân Luật sở hữu trí
tuệ cũng còn một số tồn tại thể hiện tại một số điều, khoản chưa tương thích
với pháp luật quốc tế và bộc lộ những hạn chế, bất cập từ thực tiễn thực thi
trong những năm qua.
Để giải quyết các tồn tại, bất cập trên về pháp
luật và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, cần thiết phải thể chế hóa Nghị quyết số
71/2006/NQ-QH11 của Quốc hội về việc phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định
thành lập WTO của Việt Nam, đồng thời sửa đổi một số điều khoản khác hiện đang
chưa tương thích với luật pháp quốc tế, một số điều khoản chưa phù hợp gây khó
khăn cho hoạt động thực thi, cũng như những vấn đề mới phát sinh trong quá
trình thực hiện. Việc sửa đổi này nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn hội nhập,
khắc phục các tồn tại bất cập, đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích của cá nhân, tổ
chức Việt Nam bình đẳng với công dân và pháp nhân của các quốc gia, nhằm thúc
đẩy các hoạt động thực thi tại Việt Nam và hội nhập quốc tế. Việc sửa đổi đồng
thời sẽ góp phần quan trọng phát huy năng lực sáng tạo, khuyến khích cạnh tranh
lành mạnh, thu hút đầu tư trong và ngoài nước, phát triển thị trường công nghệ,
từ đó nâng cao hiệu lực của pháp luật, hiệu quả thực thi, góp phần phát triển
kinh tế - văn hóa - xã hội.
Năm quan điểm xây dựng, trình và phê duyệt Luật Sở
hữu trí tuệ năm 2005 tiếp tục được quán triệt để triển khai thực hiện Dự án
Luật, bao gồm: thể chế hóa quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, quy phạm
hóa nội dung Nghị quyết số 71/2006/QH11 của Quốc hội; bảo vệ lợi ích quốc
gia; bảo đảm nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa người sáng tạo, nhà sử dụng và
công chúng hưởng thụ; kế thừa các giá trị pháp luật đã được thực tiễn kiểm
nghiệm, tiếp thu các chuẩn mực quốc tế; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, minh
bạch, khả thi, đầy đủ và hiệu quả của hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ. Từ
các quan điểm này, 3 hướng chính cho việc sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ
gồm: sửa đổi một số điều, khoản có nội dung chưa tương thích với các điều ước
quốc tế đa phương, các điều, khoản khác phù hợp nhằm bảo vệ lợi ích tổ chức, cá
nhân Việt Nam trong hội nhập; sửa đổi một số điều, khoản đang nảy sinh các
vướng mắc trong thực thi; chỉnh sửa về kỹ thuật văn bản và các từ ngữ phù hợp
với hệ thống pháp luật hiện hành.
Theo đó, có 35 Điều được sửa đổi, bổ sung đã được
Chính phủ trình Quốc hội tại Tờ trình số 48 ngày 9/4/2009, với 4 nhóm vấn đề
gồm: sửa đổi, bổ sung đối với các điều, khoản liên quan tới nội dung quyền tác
giả, quyền liên quan và quyền đối với giống cây trồng, thuộc Phần thứ hai và Phần
thứ tư Luật hiện hành; sửa đổi, bổ sung đối với các điều, khoản liên quan tới
trình tự, thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp, thuộc Phần thứ ba và Phần
thứ sáu Luật hiện hành; sửa đổi, bổ sung đối với các điều, khoản liên quan tới
chính sách về sở hữu trí tuệ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, thuộc Phần thứ
nhất và Phần thứ năm Luật hiện hành; sửa đổi, bổ sung đối với các điều, khoản
liên quan tới kỹ thuật văn bản và thay đổi từ ngữ phù hợp với các quy định pháp
luật liên quan.
Tác động của việc sửa đổi, bổ sung Luật Sở
hữu trí tuệ:
Với việc sửa đổi như đã nêu trên, nếu được Quốc
hội thông qua thì sự tác động tích cực của nó sẽ thể hiện trên các khía cạnh
chính sau:
Thứ nhất: tạo ra sự phù hợp hơn của Luật
Sở hữu trí tuệ với các chuẩn mực quốc tế, các cam kết của Việt Nam khi tham gia
WTO
Các Điều, khoản được sửa đổi, bổ sung để phù hợp
với các Điều ước quốc tế đa phương, các cam kết của Việt Nam khi tham gia WTO
sẽ tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam trong hội
nhập, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Việc sửa đổi này thể hiện quyết
tâm của Việt Nam trong việc hội nhập quốc tế với các chuẩn mực chung, phù hợp.
Khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài yên tâm
đầu tư vào Việt Nam với cơ chế pháp luật rõ ràng, mang tính quốc tế.
Hạn chế tối đa tranh chấp về việc hiểu và thi hành
Luật Sở hữu trí tuệ trong các quan hệ quốc tế. Loại trừ các ý kiến của các quốc
gia tại các diễn đàn quốc tế liên quan về những tồn tại của Luật Sở hữu trí tuệ
hiện hành.
Thứ hai: lợi ích quốc gia được bảo vệ
trong quá trình hội nhập; tạo ra sự bình đẳng về lợi ích giữa công dân, pháp
nhân Việt Nam với công dân, pháp nhân nước ngoài
Các sửa đổi, bổ sung sẽ bảo vệ được quyền và lợi
ích của tổ chức, cá nhân Việt Nam, đảm bảo sự hài hoà về lợi ích giữa các chủ
thể quyền trong và ngoài nước, khắc phục các hạn chế trong các cam kết quốc tế,
tạo vị thế và thuận lợi cho các chủ thể quyền trong các giao dịch quốc tế liên
quan.
Việc sửa để kéo dài thời hạn bảo hộ tới 75 năm đối
với loại hình tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, sân khấu, mỹ thuật ứng dụng, tác
phẩm khuyết danh; bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, để cân bằng lợi
ích giữa các loại hình, phù hợp với xu thế chung trên thế giới, vì tuổi thọ
bình quân của con người đã được nâng lên (người Việt Nam có tuổi thọ bình quân
là 73 tuổi); đồng thời khắc phục sự đối xử bất bình đẳng về thời hạn bảo hộ đã
cam kết tại BTA. Sửa đổi này cũng nhằm để công dân, pháp nhân Việt Nam được
hưởng các lợi ích như công dân, pháp nhân các nước thành viên WTO khi Việt Nam thực
hiện nguyên tắc đối xử tối huệ quốc của Hiệp định Trips.
Việc bổ sung quy định về sáng chế mật để có thể
bảo vệ được bí mật quốc phòng, bí mật quốc gia; quy định về chỉ dẫn địa lý đối
với nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận sẽ bảo vệ được tài sản quốc gia
trong hoạt động thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Việc này hoàn toàn phù hợp
với thông lệ quốc tế.
Thứ ba: công dân, doanh nghiệp được tiếp
cận các quy định rõ ràng và cụ thể hơn về trình tự, thủ tục xác lập quyền
Các sửa đổi, bổ sung tạo điều kiện cho công dân,
doanh nghiệp tiếp cận các thủ tục rõ ràng, minh bạch trong việc tiến hành xác
lập quyền, phù hợp với yêu cầu về cải cách hành chính. Giảm các chi phí về tài
chính cũng như thời gian vật chất liên quan đến việc lập hồ sơ, thủ tục nộp
đơn, xin cấp văn bằng bảo hộ. Khuyến khích các chủ sở hữu nộp đơn đăng ký xác
lập quyền để được bảo hộ. Ngăn chặn các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà có
thể xảy ra tại các cơ quan có thẩm quyền.
Quy định rõ ràng về điều kiện tham gia kinh doanh
dịch vụ sở hữu trí tuệ để các tổ chức nước ngoài có thể thực hiện dịch vụ này
tại Việt Nam. Tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài được tham gia
thực hiện các dịch vụ về sở hữu công nghiệp, bình đẳng. Theo đó, người dân,
doanh nghiệp được hưởng lợi từ các dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp có cạnh
tranh lành mạnh.
Thứ tư: các cơ quan quản lý, thực thi về
sở hữu trí tuệ được hưởng các chính sách phù hợp, tạo điều kiện cho các hoạt
động thực thi có hiệu quả
Bổ sung quy định chính sách về tài chính, nhằm bảo
đảm các điều kiện vật chất phù hợp với đặc thù của lĩnh vực sở hữu trí tuệ, để
hỗ trợ các cơ quan quản lý, thực thi về sở hữu trí tuệ còn non trẻ, đang gặp
nhiều khó khăn trong cơ chế chung hiện nay, góp phần thúc đẩy các hoạt động
thực thi đạt hiệu quả.
Theo đó, các bộ, ngành có thẩm quyền quan tâm xử
lý các vấn đề liên quan đến tài chính, cũng như các điều kiện vật chất khác, để
các cơ quan quản lý, thực thi sở hữu trí tuệ hoàn thành nhiệm vụ theo quy định
pháp luật.
Việc các bộ, ngành liên quan thành lập các tổ chức
sự nghiệp để tham gia hoạt động giám định sẽ khắc phục tình trạng bất cập về
chuyên môn sở hữu trí tuệ trong lực lượng thực thi thuộc bộ máy nhà nước, các
tổ chức hỗ trợ thực thi như tổ chức tư vấn, dịch vụ sở hữu trí tuệ, tổ chức đại
diện tập thể. Chủ trương này còn nhằm tận dụng năng lực chuyên môn của đội ngũ
chuyên gia trong các cơ quan nhà nước, nhằm hỗ trợ hoạt động của các cơ quan
thực thi trong điều kiện các cơ quan này chưa đủ năng lực chuyên môn về sở hữu
trí tuệ.
Thứ năm: nâng cao nhận thức, hiểu biết và
ý thức chấp hành pháp luật cho công chúng, các tổ chức, cá nhân có quyền và
nghĩa vụ liên quan
Việc sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ lần này
tạo ra dư luận xã hội quan tâm hơn nữa tới vấn đề sở hữu trí tuệ còn mới mẻ và
rất phức tạp tại Việt Nam. Đây cũng là dịp củng cố, tiếp tục nâng cao nhận
thức, hiểu biết, đặc biệt là ý thức chấp hành pháp luật của cộng đồng. Các văn nghệ
sỹ, trí thức phấn khởi, yên tâm hơn trong các hoạt động sáng tạo để có được các
sản phẩm có giá trị tư tưởng, văn học, nghệ thuật và khoa học phục vụ công
chúng, vì có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh.
Các cơ quan bảo vệ pháp luật được trang bị thêm
kiến thức mới, đầy đủ, cụ thể hơn để có thể thực thi pháp luật có hiệu quả. Các
cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuận lợi hơn trong việc áp
dụng khung hình phạt phù hợp với thẩm quyền. Cơ quan hải quan có điều kiện chủ động
hơn trong việc xử lý hàng hoá xuất, nhập khẩu vi phạm quyền sở hữu trí tuệ tại
cửa khẩu biên giới.
Tóm lại, các sửa đổi, bổ sung
Luật Sở hữu trí tuệ sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa để các tổ chức, cá
nhân tiếp cận được hệ thống pháp luật hoàn thiện, hiện đại, phù hợp với thực
tiễn; tăng cường năng lực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý, thực thi,
các cơ quan hỗ trợ thực thi, góp phần tạo ra chuyển biến tích cực, có hiệu quả
của hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại quốc gia và hội nhập quốc tế./.
TS.
Vũ Mạnh Chu
Cục
trưởng Cục Bản quyền tác giả
(Thành
viên Ban soạn thảo Dự án Luật)
Thông tin chi tiết Quý khách hàng vui lòng liên hệ với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW
Địa chỉ: Số 47, Phố Chính Kinh, Phường Thanh Xuân Trung, Quận Thanh
Xuân, thành phố Hà Nội.
Tel: 04-39916057 Fax: 04-39916058
Số điện thoại TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ: 0986 11 66 05 & 043- 9916057
Email: contact@sunlaw.com.vn
Website: www.sunlaw.com.vn &
www.lawdata.com.vn