Một số điểm mới về thuế tiêu thụ đặc biệt
Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB)là loại thuế gián thu, áp dụng đối với một số loại hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước cần điều tiết thu nhập và định hướng sản xuất, tiêu dùng theo các mục tiêu chính sách dài hạn.
Ở nước ta, Luật Thuế TTĐB lần đầu tiên được ban hành vào
năm 1990 trong chương trình cải cách thuế giai đoạn I. Quá trình thực hiện, thuế TTĐB đã được sửa đổi và hoàn thiện nhiều lần để đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn và các
yêu cầu đặt ra trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Những lần sửa đổi, bổ
sung quan trọng nhất là các Luật được ban hành trong các năm 1998, 2003 và
2005.
Tổng kết
gần 20 năm thực hiện Luật Thuế TTĐB và các Luật sửa đổi, bổ sung đã cho thấy về
cơ bản, thuế TTĐB đã đạt được mục tiêu đặt ra là hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng
của xã hội, điều tiết thu nhập của người tiêu dùng một cách hợp lý, và tăng
cường quản lý sản xuất, kinh doanh đối với một số hàng hoá và dịch vụ. Thuế
suất cao áp dụng đối với nhiều mặt hàng như thuốc lá, rượu, bia, ôtô du lịch,
kinh doanh vũ trường,... không chỉ nhằm mục tiêu động viên nguồn thu cho NSNN
mà còn thực hiện vai trò định hướng tiêu dùng. Chính sách miễn, giảm thuế TTĐB
được công bố trước theo lộ trình giảm dần bảo hộ đối với doanh nghiệp sản xuất
bia hơi, sản xuất, lắp ráp ôtô trong nước,... tạo điều kiện thuận lợi cho việc
sắp xếp lại SXKD trong nước và cùng với thuế nhập khẩu đã góp phần vào việc
hình thành nên một ngành công nghiệp mới. Mặc dù đạt được nhiều kết quả thiết
thực nhưng trước đòi hỏi của sự phát triển kinh tế xã hội hiện nay và trong
thời gian tới, Luật Thuế TTĐB của nước ta vẫn cần được tiếp tục hoàn thiện.
Ngày 14/11/2008,
tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội Khoá XII đã thông qua Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt
với nhiều nội dung đổi mới. Đến nay, Chính phủ, Bộ Tài chính đã hoàn tất công
việc ban hành văn bản hướng dẫn để triển khai thực hiện Luật đúng thời điểm
hiệu lực từ ngày 01/4/2009. Dưới đây là những thông tin mới về nội dung chính
sách và công tác quản lý thuế TTĐB được thể hiện trong Luật và các văn bản
hướng dẫn.
Về
đối tượng chịu thuế
Trong lần sửa
đổi này, Luật Thuế TTĐB có phạm vi điều chỉnh rộng, ngoài các mặt hàng truyền
thống (đồ uống có cồn như rượu, bia; thuốc lá; xăng và các chế phẩm dùng để pha
chế xăng, điều hoà nhiệt độ, ôtô du lịch dưới 24 chỗ ngồi,... một số mặt hàng
mới được bổ sung vào đối tượng chịu thuế, đáng lưu ý là:
- Xe mô tô có
dung tích xi lanh trên 125 phân khối (cm3), với đặc thù là đại bộ phận thuộc
loại xe tay ga, xe đua, thường có giá trị lớn, chủ yếu được sử dụng và lưu
thông ở các thành phố lớn, người sử dụng phần đông là bộ phận dân cư có thu
nhập cao. Việc đưa loại xe môtô có dung tích xi - lanh trên 125 cm3 vào diện
chịu thuế TTĐB không ảnh hưởng đến các đối tượng sử dụng xe máy phổ thông là bà
con nông dân, người lao động có thu nhập trung bình trở xuống mà vẫn bảo đảm
được yêu cầu định hướng tiêu dùng, khuyến khích sử dụng năng lượng có hiệu quả,
tiết kiệm nhiên liệu và góp phần giảm ô nhiễm môi trường.
- Tàu bay và du
thuyền (trừ loại được sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hoá, hành
khách, khách du lịch) là những mặt hàng cao cấp phục vụ cho các đối tượng có
thu nhập rất cao. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và thiên hướng tiêu
dùng xã hội, một bộ phận dân cư có thu nhập cao có khả năng sở hữu tàu bay, du
thuyền để phục vụ nhu cầu tiêu dùng riêng. Vì vậy, Luật Thuế TTĐB đã bổ sung
vào diện chịu thuế TTĐB các đối tượng này nhằm thực hiện chính sách điều tiết
thu nhập.
- Bổ sung mặt
hàng ôtô dưới 24 chỗ ngồi vừa chở người vừa chở hàng vào đối tượng chịu thuế
TTĐB. Các Luật Thuế TTĐB ban hành trước đây đều quy định áp thuế đối với ô tô
chở người dưới 24 chỗ ngồi. Trên thực tế, có loại xe dưới 24 chỗ ngồi có tính
chất lưỡng dụng: vừa chở người, vừa chở hàng nhưng chủ yếu phục vụ cho nhu cầu
tiêu dùng cá nhân (như xe VAN, xe pick-up có từ hai hàng ghế ngồi trở lên). Để
phù hợp mục tiêu của thuế TTĐB và bảo đảm tính bao quát của Luật nên loại xe
này được bổ sung vào đối tượng chịu thuế TTĐB, tuy nhiên, có tính đến tính chất
lưỡng dụng của loại xe này nên áp dụng thuế suất thấp hơn loại xe chỉ chở người.
- Bổ sung vào
diện áp thuế TTĐB đối với những mặt hàng là “các chế phẩm khác từ cây thuốc lá”
để bao quát hết các sản phẩm thuốc lá. Nội dung này nhằm đáp ứng đòi hỏi
của thực tiễn cuộc sống là trên thị trường hiện nay, ngoài thuốc lá điếu, xì gà
còn có các chế phẩm khác từ cây thuốc lá nhưng không hút mà dùng để nhai, ngửi.
- Đổi mới quy
định về kinh doanh đặt cược: Trên giác độ quản lý xã hội thì hoạt động cá cược,
một số loại hình “vui chơi có thưởng” mang nặng tính “ăn thua” không cần khuyến
khích. Do đó, trong khung khổ Luật Thuế, các văn bản hướng dẫn đã quy định hoạt
động kinh doanh đặt cược “bao gồm: đặt cược thể thao, giải trí và các hình thức
đặt cược khác theo quy định của pháp luật” để có thể mở rộng diện điều chỉnh
trong trường hợp cần thiết.
Về đối
tượng không thuộc diện chịu thuế
Với mục tiêu
điều tiết và định hướng sản xuất, tiêu dùng, Luật Thuế TTĐB lần này quy định cụ
thể diện điều chỉnh, có bổ sung thêm một số mặt hàng phải nộp thuế TTĐB. Tuy
nhiên, thực tiễn cuộc sống cho thấy mặt hàng thuộc diện chịu thuế TTĐB cũng có
thể được sử dụng cho các mục đích không hẳn là tiêu dùng cá nhân. Do đó, trong
điều kiện của nước ta, Luật Thuế TTĐB số 27/2008/QH12 và các văn bản hướng dẫn
có quy định cụ thể những đối tượng không thuộc diện chịu thuế TTĐB như sau:
- Tàu bay, du
thuyền sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hoá, hành khách, dịch vụ
du lịch (loại không dùng cho tiêu dùng cá nhân). Quy định này nhằm không gây
ảnh hưởng đến các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh vận tải, du lịch.
- Thực tế có
một số chủng loại xe ôtô dưới 24 chỗ ngồi được sử dụng cho mục đích chuyên dùng
như: xe cứu thương, xe chở phạm nhân, xe tang lễ; xe ôtô thiết kế vừa có chỗ
ngồi, vừa có chỗ đứng chở được từ 24 người trở lên (xe buýt nội thành và liên
tỉnh, xe buýt vận chuyển khách trong sân bay, nhà ga). Để phù hợp với mục tiêu
của thuế TTĐB đối với mặt hàng ôtô, thực hiện điều tiết đúng đối tượng nên đã
bổ sung các loại ôtô chuyên dụng vào diện không chịu thuế.
- Theo qui định
của pháp luật hiện hành, thì quan hệ trao đổi hàng hoá giữa thị trường nội địa
và khu phi thuế quan được coi như quan hệ xuất nhập khẩu, hàng hoá nhập khẩu từ
nước ngoài vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trong khu phi thuế quan, hàng
hoá từ khu phi thuế quan này sang khu phi thuế quan khác không phải chịu các
loại thuế gián thu như thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế GTGT. Để bảo đảm
tính đồng bộ của hệ thống chính sách, pháp luật thuế, Luật Thuế TTĐB đã bổ sung
các loại hàng hoá đưa vào các khu phi thuế quan vào đối tượng không chịu thuế TTĐB.
Riêng ôtô chở người dưới 24 chỗ ngồi được nhập khẩu vào các khu phi thuế quan
nhưng thực tế do chúng chủ yếu được sử dụng trong nội địa Việt Nam nên vẫn
thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB để tránh gian lận thương mại và phù hợp với thực
tiễn.
Về
thuế suất thuế TTĐB
Việc sửa đổi
mức thuế suất lần này nhằm mục tiêu vừa khắc phục những tồn tại, bất cập của
Luật Thuế TTĐB trước đây, vừa đảm bảo việc thực hiện các cam kết quốc tế của
nước ta trong Hiệp định gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), cụ thể như
sau:
Đối với mặt
hàng ôtô du lịch, trong nhiều năm, Luật Thuế TTĐB quy định mức thuế suất áp
dụng đối với ôtô chở người được phân biệt theo tiêu chí số chỗ ngồi. Theo đó,
ôtô từ 5 chỗ ngồi trở xuống áp thuế suất 50%; ôtô từ 6 đến 15 chỗ áp thuế suất
30%; ôtô từ 16 đến dưới 24 chỗ áp thuế suất 15%. Quy định như vậy trong thực tế
thực hiện đã bộc lộ hạn chế, bất cập. Đối với loại xe từ 6 đến 9 chỗ ngồi được
sử dụng chủ yếu làm phương tiện đi lại cho cá nhân, song chỉ chịu mức thuế suất
bằng 60% so với mức thuế suất áp dụng cho xe từ 5 chỗ ngồi trở xuống. Kinh
nghiệm quốc tế cho thấy, tại nhiều nước, bên cạnh việc sử dụng tiêu chí số chỗ ngồi,
họ còn kết hợp với một số tiêu chí khác để định ra mức thuế TTĐB như dung tích
xi lanh (hoặc công suất động cơ), kích thước xe liên quan đến diện tích chiếm
chỗ,... Trong lần sửa đổi này đã có sự lựa chọn kết hợp nhiều tiêu chí phân
loại để sắp xếp, cơ cấu lại thuế suất giữa các nhóm xe, có tính đến diện tích
chiếm chỗ ảnh hưởng đến giao thông, nguồn năng lượng sử dụng.
Đối với
chủng loại xe từ 6 đến 9 chỗ ngồi sẽ được xếp vào cùng nhóm với các chủng loại
xe 5 chỗ ngồi trở xuống để áp dụng một mức thuế suất phân biệt theo dung tích
xi lanh với nguyên tắc: dung tích xi lanh lớn hơn sẽ phải chịu mức thuế suất
cao hơn; Đối với loại xe có dung tích từ 2.000 cc trở xuống áp dụng mức thuế
suất là 45%, dung tích trên 2.000 cc đến 3.000 cc mức thuế suất áp dụng là 50%,
dung tích trên 3.000 cc sẽ áp mức thuế 60% là mức thuế suất cao nhất.
Các mức thuế
suất mới được áp dụng sẽ không gây ảnh hưởng đến hoạt động và hiệu quả kinh
doanh của các nhà sản xuất, lắp ráp trong nước: Với cơ cấu hiện tại, các chủng
loại xe từ 5 chỗ ngồi trở xuống phần lớn có dung tích xi lanh dưới 2000 cc nên
sẽ có lợi hơn (thuế suất giảm từ 50% xuống còn 45%); Trong khi đó, xe sản xuất
trong nước loại dung tích xi lanh trên 3.000 cc (chịu mức thuế suất tăng từ 50%
lên 60%) chiếm tỷ trọng rất nhỏ (khoảng 3% số lượng xe sản xuất và tiêu thụ
thuộc diện chịu thuế TTĐB). Đối với loại xe từ 6 đến 9 chỗ ngồi sẽ chịu tác
động của việc điều chỉnh cách tính thuế do mức thuế suất được điều chỉnh tăng
từ 30% lên 45%, 50% và 60% tuỳ theo dung tích xi lanh. Tuy nhiên, trong từng
doanh nghiệp sản xuất xe ôtô hiện nay đều có sản xuất cả loại xe từ 5 chỗ ngồi
trở xuống và xe từ 6 đến 9 chỗ, do đó về cơ bản sẽ không ảnh hưởng lớn đến tình
hình sản xuất kinh doanh. Mặt khác, loại xe từ 6 đến dưới 9 chỗ có dung tích
trên 3.000cc với mức tăng thuế cao nhất (từ 30% lên 60%), hiện trong nước sản
xuất không đáng kể, chỉ chiếm khoảng 0,8% tổng số xe sản xuất trong nước thuộc
diện chịu thuế TTĐB.
Đối với
đồ uống có cồn
Thuế suất đối
với mặt hàng này được các nước đối tác dành sự quan tâm đặc biệt. Do đó, trong
lần sửa đổi này, bên cạnh việc khắc phục những tồn tại trong quy định của Luật
và thực tế thi hành về thuế suất,... còn đảm bảo việc thực hiện các cam kết
quốc tế khi Việt Nam gia nhập WTO.
Đối với
mặt hàng rượu, Viêt Nam cam kết trong vòng 3 năm kể từ ngày gia nhập WTO (tức
là từ năm 2010), tất cả các loại rượu được chưng cất có nồng độ từ 20 độ cồn
trở lên sẽ áp dụng một mức thuế tuyệt đối tính theo lít rượu cồn nguyên chất
hoặc một mức thuế phần trăm. Luật Thuế TTĐB trước đây quy định thuế suất đối
với mặt hàng rượu được phân biệt theo nồng độ cồn, trong đó rượu dưới 20 độ,
rượu hoa quả, rượu thuốc áp thuế suất 20%; rượu từ 20 độ đến dưới 40 độ cồn áp
thuế suất 30%; rượu từ 40 độ cồn trở lên áp thuế suất 65%. Hiện nay, rượu sản
xuất trong nước chủ yếu là các loại rượu có nồng độ cồn dưới 40 độ, trong đó
rượu có nồng độ cồn từ 20 độ đến dưới 40 độ chiếm tỷ trọng lớn về sản lượng (95%)
và số thu thuế TTĐB là 93,7%. Rượu từ 40 độ trở lên chiếm tỷ trọng nhỏ về sản
lượng (5%) và số thu thuế TTĐB (6,3%). Để thực hiện đúng cam kết WTO, Luật Thuế
TTĐB mới có quy định mức thuế suất đối với mặt hàng rượu từ 20 độ trở xuống là
25% thay cho mức thuế suất 20%. Các loại rượu có nồng độ cồn từ 20 độ trở lên
trong 3 năm đầu được áp dụng mức thuế suất là 45%, từ năm 2013 trở đi sẽ áp
dụng mức thuế suất là 50%.
Đối với mặt
hàng bia, theo cam kết thì trong vòng 3 năm kể từ khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ
phải quy định một mức thuế suất theo tỷ lệ phần trăm (%) áp dụng chung đối với
các loại bia, không phân biệt hình thức đóng gói bao bì. Luật trước đây quy
định bia chai, bia lon áp thuế suất 75%; bia hơi, bia tươi áp thuế suất là 40%
(năm 2006-2007 là 30%). Luật Thuế TTĐB sửa đổi quy định mức thuế suất áp dụng,
đối với mặt hàng bia là 50% nhưng có lộ trình áp dụng vì đây là cam kết bắt
buộc khi Việt Nam gia nhập WTO nhưng chúng ta cũng phải tính đến quyền lợi và
thực trạng của sản xuất kinh doanh trong nước. Việc áp dụng thuế suất đối với
mặt hàng bia hơi theo hướng tăng từ mức 40% lên 50% là có lộ trình đã được xác
định trước và công bố công khai nhiều năm qua. Mức 50% sẽ được áp dụng từ năm
2013. Trong 3 năm đầu kể từ khi Luật số 27/2008 có hiệu lực, mức thuế suất áp
dụng chung với tất cả các chủng loại bia, không phân biệt bao bì sẽ là 45% (với
bia hơi có tăng 5% so với trước). Mức tăng này sẽ không ảnh hưởng lớn đến các
doanh nghiệp bia hơi và với lộ trình 3 năm cũng sẽ tiếp tục tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp sản xuất bia hơi có thời gian sắp xếp lại sản xuất, thay đổi
cơ cấu mặt hàng (bia hơi, bia chai, bia lon) để ổn định và phát triển sản xuất
kinh doanh.
Đối với các
dịch vụ khác, Luật Thuế TTĐB sửa đổi giữ nguyên mức thuế suất đối với kinh
doanh dịch vụ mát xa, karaoke là 30%. Riêng đối với kinh doanh vũ trường được
sử dụng bởi phần lớn người có thu nhập khá, vì vậy Luật thuế mới đã điều chỉnh
tăng mức thuế suất từ 30% lên 40%. Đối với dịch vụ casino, trò chơi điện tử có
thưởng, kinh doanh đặt cược: trước đây áp mức thuế suất là 25%. Đây là loại
hình dịch vụ Nhà nước không khuyến khích kinh doanh và tiêu dùng. Do đó, Luật
Thuế TTĐB sửa đổi đã điều chỉnh tăng thuế suất lên mức 30%. Đối với kinh doanh
golf, là loại hình dịch vụ cao cấp, thu hút những người có thu nhập cao trong
xã hội, do đó Luật sửa đổi đã điều chỉnh mức thuế suất lên 20% (thay cho mức thuế
10%).
Quy
định về giá tính thuế
Thuế TTĐB thu
ngay tại khâu đầu (sản xuất hoặc nhập khẩu), do đó các Luật Thuế TTĐB từ trước
đến nay đều quy định giá tính thuế đối với hàng hóa sản xuất trong nước là giá
do cơ sở sản xuất bán ra tại nơi sản xuất chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt; đối
với hàng hóa nhập khẩu, giá tính thuế TTĐB là giá tính thuế nhập khẩu cộng với
(+) thuế nhập khẩu. Trong nhiều năm, giá tính thuế đối với mặt hàng bia lon
được trừ giá trị vỏ lon. Đối với bia chai, giá tính thuế theo quy định truyền
thống là giá bán của cơ sở sản xuất và trên thực tế đại bộ phận các cơ sở sản
xuất bia áp dụng chính sách đổi vỏ chai nên về cơ bản, giá tính thuế không bao
gồm giá trị vỏ chai (trừ số ít không thực hiện thu hồi vỏ).
Để thực hiện
được mục tiêu hướng dẫn tiêu dùng đối với mặt hàng bia, đồng thời đảm bảo thực
hiện cam kết khi gia nhập WTO, áp dụng một mức thuế suất đối với mặt hàng bia,
Luật Thuế TTĐB sửa đổi quy định giá tính thuế TTĐB đối với mặt hàng bia là giá
bán của cơ sở sản xuất, hoặc giá nhập khẩu chưa có thuế TTĐB. Việc quy định giá
tính thuế là giá do cơ sở sản xuất bán ra, vì vậy, giá tính thuế đối với bia
lon, bia chai là giá bao gồm cả vỏ lon, vỏ chai. Việc không trừ vỏ lon là phù
hợp với thông lệ quốc tế, bảo đảm bình đẳng với các mặt hàng khác cũng có bao bì
như rượu, thuốc lá, điều hoà nhiệt độ.
Điểm mới đáng
lưu ý trong Luật Thuế TTĐB sửa đổi lần này và các văn bản hướng dẫn thực hiện
là quy định về giá tính thuế đối với các mặt hàng được liên kết, hợp tác sản
xuất giữa các cơ sở kinh doanh dưới hình thức các hợp đồng gia công hoặc hợp
tác kinh doanh kèm theo các điều khoản uỷ nhiệm. Theo đó, giá tính thuế TTĐB
đối với hàng hoá gia công là giá tính thuế của hàng hoá bán ra của cơ sở giao
gia công hoặc giá bán của sản phẩm cùng loại hoặc tương đương tại cùng thời
điểm bán hàng, chưa có thuế GTGT và chưa có thuế TTĐB. Đối với hàng hoá sản
xuất dưới hình thức hợp tác kinh doanh giữa cơ sản xuất và cơ sở sở hữu thương
hiệu (nhãn hiệu) hàng hoá, công nghệ sản xuất, giá tính thuế TTĐB là giá bán ra
chưa có thuế GTGT của cơ sở sở hữu thương hiệu (nhãn hiệu) hàng hoá, công nghệ
sản xuất,... Những quy định này cho thấy pháp luật về thuế TTĐB tiếp tục được
hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho quản lý thuế được tốt hơn và hạn chế
được các trường hợp “lách thuế”, giảm thiểu thất thu thông qua cơ chế “chuyển
giá” giữa các doanh nghiệp./.
Tạp chí Thuế