Một số vấn đề lý luận về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Độc quyền hoặc khống chế thị trường là mơ ước của hầu hết các nhà doanh nghiệp. Tất cả các doanh nghiệp đều có ước muốn tồn tại và phát triển mà không phải đương đầu với những cuộc cạnh tranh.
Vì vậy lịch sử của các
hành vi hạn chế cạnh tranh có một bề dày gần tương đương với lịch sử của kinh
tế thị trường. Thông thường người ta chia ra 3 loại hành vi hạn chế cạnh tranh
khác nhau là: hành vi thoả thuận, hành vi cản trở và hành vi tập trung.
Như vậy, hành vi thoả thuận là một trong 3 loại hành vi có thể dẫn đến nguy
cơ hạn chế cạnh tranh trên thị trường. Hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh
là sự thoả thuận phối hợp hành động với nhau (bằng văn bản và không bằng
văn bản) giữa các doanh nghiệp độc lập để nâng cao vị thế của mình, cản trở
cạnh tranh mà không cần phải có sự nỗ lực trên thị trường. Trên cơ sở mối quan
hệ giữa các doanh nghiệp tham gia thoả thuận, người ta chia các hành vi thoả
thuận ra 2 nhóm: thoả thuận theo chiều ngang và thoả thuận theo chiều dọc:
- Thoả thuận theo chiều ngang: là hình thức cartel để khống chế giá,
phân chia thị trường,… hoặc sự thoả thuận phối hợp hành động nào đó trong một
thời gian nhất định để cản trở cạnh tranh từ doanh nghiệp khác.
- Thoả thuận theo chiều dọc: thoả thuận có thể được thực hiện ở 3
hình thức như định giá, thương lượng giá và các thoả thuận license. Tuỳ theo
từng mục tiêu, mức độ, các thoả thuận này có tác động khác nhau, thậm chí một
số thoả thuận hoàn toàn có ý nghĩa tích cực cho nền kinh tế và cho xã hội.
Theo Luật Cạnh tranh của Việt nam (ban hành 2004), thoả thuận cạnh tranh
được xác định như sau:
Điều 8. Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh
Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm:
1. Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián
tiếp;
2. Thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá,
cung ứng dịch vụ;
3. Thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua,
bán hàng hoá, dịch vụ;
4. Thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư;
5. Thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua,
bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không
liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;
6. Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị
trường hoặc phát triển kinh doanh;
7. Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là
các bên của thoả thuận;
8. Thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận thắng thầu trong việc
cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ.
Theo định nghĩa này, khái niệm về hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh ở
Luật Cạnh tranh Việt nam không chỉ bao gồm những thoả thuận mang tính cartel
thông thường mà cả những thoả thuận để ngăn cản cạnh tranh của các doanh
nghiệp không tham gia thoả thuận.
Cũng theo Luật Việt nam, mức độ ngăn cấm các hành vi thoả thuận cũng khác
nhau:
.Điều 9. Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm
1. Cấm các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại các khoản 6, 7 và 8
Điều 8 của Luật này.
2. Cấm các thoả thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại các khoản 1, 2, 3,
4 và 5 Điều 8 của Luật này khi các bên tham gia thoả thuận có thị phần kết hợp
trên thị trường liên quan từ 30% trở lên.
Điều 9 là một điểm tương đối đặc biệt, phù hợp với những quốc gia mà thể chế
kinh tế thị trường chưa hoàn thiện, mức độ tự do kinh doanh (đặc biệt là tự do
gia nhập thị trường) còn bị hạn chế. Tại quốc gia mà thể chế kinh tế thị trường
đã ở mức độ tương đối hoàn chỉnh thì các hành vi thoả thuận cạnh tranh theo các
khoản 6 và 8 của điều 8 khó có thể thực hiện được, hoặc nếu có thực hiện thì
tác động làm cản trở cạnh tranh cũng chỉ ở mức độ rất hạn chế.
Trên cơ sở Luật Cạnh tranh (ban hành 2004), ngày 15/9/2005 Chính phủ Việt
nam đã ban hành Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số
điều của Luật Cạnh tranh. Toàn bộ mục 3 (từ Điều 14 đến Điều 21) của Nghị định
liên quan đến hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, theo đó, những khái niệm
về hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh ở Điều 8 của Luật Cạnh tranh đã được
cụ thể hoá và chi tiết hơn.
Hạn chế theo chiều ngang thông qua cartel và các hành vi thông đồng của các
doanh nghiệp
Cartel là gì?
Thoả thuận dạng Cartel được xác định qua 3 đặc điểm sau:
- Hạn chế sự tự do cạnh tranh của các doanh nghiệp khác trên thị trường liên
quan theo một hoặc nhiều thông số khác nhau.
- Có sự thoả thuận bằng văn bản hoặc không bằng văn bản (phối hợp hành động)
giữa các doanh nghiệp đang cạnh tranh (hoặc sẽ cạnh tranh) trên thị trường.
- Các doanh nghiệp tham gia cartel hoạt động độc lập với nhau.
Các hình thức cartel
Theo từng loại hình thông số, mức độ hạn chế cạnh tranh và mục tiêu trong
thoả thuận, người ta thường phân loại cartel theo các nhóm khác nhau
* Theo những thông số trong thoả thuận, có các loại cartel sau:
- Cartel giá: là thoả thuận thông nhất giá giữa các doanh nghiệp, có thể đó
là giá cố định của cartel, giá tối thiểu, giá tối thiểu, cách tính giá hoa
hồng, cách xác định giảm giá. Một số cartel giá được pháp luật chấp thuận và
được thực hiện trên thị trường.
- Cartel điều kiện: là loại thoả thuận, thống nhất những điều kiện về giao
hàng, thanh toán nói chung.
- Cartel về khối lượng sản phẩm: là loại thoả thuận phục vụ cho các nguyên
tắc về xác định khối lượng sản phẩm (sản xuất hoặc tiêu thụ), cartel phân chia
khu vực.
- Cartel sản xuất: là loại thoả thuận phục vụ nguyên tắc xác định các loại
sản phẩm và phương pháp sản xuất, ví dụ thoả thuận về những tiêu chuẩn trong
sản xuất (cartel định chuẩn).
* Theo mức độ hạn chế cạnh tranh từ tác động của thoả thuận, người ta thường
chia cartel theo 2 nhóm: ảnh hưởng thấp và ảnh hưởng cao.
- Nhóm ảnh hưỏng thấp (ví dụ cartel định chuẩn) sẽ được thực hiện sau khi
hoàn thành một số bước để hợp pháp như đăng ký và chờ giấy phép trong một thời
gian ngắn.
- Nhóm ảnh hưởng cao (ví dụ: cartel giá, cartel phân chia khu vực) thông
thường bị ngăn cấm vô thời hạn.
* Theo mục tiêu của thoả thuận, ví dụ để hợp tác tốt hơn hoặc để xử lý các
vấn đề trong quá trình khủng hoảng cơ cấu (cartel hợp tác, cartel khủng hoảng
cơ cấu)
Điều kiện để hình thành cartel
Khả năng và mức độ sẵn sàng của các doanh nghiệp trong việc hợp tác dạng
cartel thường lệ thuộc vào một số nhân tố cơ bản sau:
- Những nhân tố liên quan đến cấu trúc thị trường: số lượng các doanh
nghiệp ít, mức độ minh bạch (transparent) của thị trường và mức độ thuần nhất
của sản phẩm tương đối cao, mức độ “chín muồi” của sản phẩm và phương pháp sản
xuất đã tương đối phát triển. Như vậy, mức độ lệ thuộc giữa các doanh nghiệp
thông qua quá trình học hỏi giữa các doanh nghiệp dễ dàng được nâng cao, sự
liên kết sẽ được dễ dàng hơn đồng thời cũng dễ dàng dựng lên những rào cản (gia
nhập thị trường) về pháp lý và thực tế đối với những doanh nghiệp mới hình
thành.
- Điều kiện đối xứng: là sự tương đồng giữa các doanh nghiệp về các
điều kiện sản xuất trên giác độ chi phí trung bình và mối tương quan giữa chi
phí cố định với chi phí biến đổi cũng như tiềm lực nguồn tài chính.
- Độ co giãn về cung tương đối lớn: do hệ số huy động năng lực còn ở
mức độ thấp nên từng doanh nghiệp thường có xu hướng nâng cao thị phần của
mình, gây thiệt hại cho doanh nghiệp cạnh tranh khác. Trong trường hợp xem xét
tổng thể một ngành thì hiện tượng hệ số huy động năng lực sản xuất không cao sẽ
là một nhân tố thúc đẩy các doanh nghiệp hình thành cartel.
- Độ co giãn giá so với tổng cầu thấp: Trường hợp này (việc nâng giảm
giá ít ảnh hưởng đến tổng cầu) cũng dễ dẫn đến xu thế thoả thuận hình thành
cartel giá để nâng cao lợi nhuận vì phương thức này sẽ dễ dàng hơn phương thức
áp dụng giá cạnh tranh.
Đánh giá tác động của cartel từ góc độ chính sách cạnh tranh
Một số tác động tiêu cực:
- Mục tiêu phân bổ nguồn lực các nhân tố sản xuất một cách tối ưu sẽ bị
ảnh hưởng khi thoả thuận cartel dẫn đến thoả thuận nâng cao chi phí và giá
bán. Do thiếu hiệu quả (chi phí bị đẩy cao) hoặc quan hệ giá theo dạng thức
“độc quyền tập thể”, cartel sẽ tác động đến mối quan hệ giữa giá các nhân tố
sản xuất, làm cho mối quan hệ này không thể hiện được sự khan hiếm của
chúng. Từ đó sẽ dẫn đến hiện tượng phân bổ các nguồn lực theo tối ưu cục bộ và
dẫn đến hiện tượng ra những quyết định sai về phân bổ nguồn lực trong xã hội.
- Nguyên tắc phân phối thu nhập theo thành tích bị ảnh hưởng tiêu cực khi
xuất hiện sự phân bổ nguồn lực theo dạng tối ưu cục bộ. Việc hình thành
cartel sẽ nâng cao mức độ độc quyền và nhiều khi còn được sự ủng hộ của tổ chức
công đoàn ngành (thông qua việc hình thành 2 cực độc quyền ở thị trường lao
động và xu hướng độc quyền ở ngành này sẽ đưa lại lợi ích cho cả 2 phía).
- Cartel có thể tác động đến phát triển khoa học công nghệ theo 2 chiều:
thông qua việc nâng cao lợi nhuận, cartel có thể có điều kiện để đầu tư nghiên
cứu và phát triển (R&D), song có điều kiện và có ý muốn lại
là 2 việc khác nhau. Thông thường thì cartel được hình thành tại những lĩnh vực
mà độ “chín muồi” tương đối lớn hoặc đang ở tình trạng suy thoái, chính vì vậy
cartel ít có ý định dùng lợi nhuận để đầu tư cho nghiên cứu và phát triển.
- Sự linh hoạt để tạo ra sản phẩm thích nghi với điều kiện mới sẽ bị giảm
dưới những tác động của cartel.
Tuy vậy, cartel có thể có những ảnh hưởng hoặc tích cực lên cạnh tranh,
ví dụ:
- Cartel định chuẩn hoặc cartel hợp lý hoá có thể có vai trò
tích cực đến năng lực sản xuất cũng như năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp. Do vậy, loại hình cartel này không bị ngăn cấm ở các quốc gia.
- Cartel hình thành thông qua sự hợp tác của các doanh nghiệp vừa
và nhỏ sẽ làm nâng cao năng lực cạnh tranh của những doanh nghiệp này và
cải thiện điều kiện cạnh tranh trên thị trường. Với lý do đó, cartel của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng không bị pháp luật cấm đoán.
Hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc thông qua áp đặt giá hoặc đề xuất giá
Thoả thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc thường được thể hiện qua 3 đặc
điểm sau:
- Hạn chế tự do các hành động liên quan đến cạnh tranh theo một hoặc nhiều
thông số,
- Thông qua cái gọi là hợp đồng trao đổi để hạn chế ít nhất là một bên ký
kết hợp đồng trong việc ký kết với người thứ ba,
- Thoả thuận giữa những doanh nghiệp độc lập về mặt pháp lý, những doanh
nghiệp này có mối quan hệ là người bán – người mua trên thị trường.
Thoả thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc
Thoả thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc chủ yếu thể hiện qua những thoả
thuận về giá, nổi bật nhất là hình thức áp đặt giá. Trường hợp này xảy ra khi
có sự ép buộc giá bán giữa các giai đoạn khác nhau trong kinh doanh, thông qua
đó việc bán lại (các nhà bán buôn với bán lẻ) phải theo một giá cam kết với nhà
sản xuất.
Nếu như các nhà kinh tế, các trường phái kinh tế đều thống nhất với nhau ở
quan điểm ngăn cấm hầu hết thoả thuận theo chiều ngang vì tác động hạn chế cạnh
tranh của chúng thì đối với các thoả thuận theo chiều dọc lại có nhiều ý kiến
trái ngược nhau. Ngay cả trong một quốc gia, những điều ngăn cấm thoả thuận
theo chiều dọc cũng phải thường xuyên điều chỉnh do quan điểm nhìn nhận tác
động tích cực và tiêu cực của hình thức thoả thuận của giới cầm quyền.
Một số trường hợp miễn trừ
Một trong những vấn đề gây tranh chấp và bàn cãi nhiều trong lý thuyết là sự
“xung đột” giữa nguyên tắc hiệu quả theo quy mô và sự đảm bảo duy trì cơ chế
cạnh tranh vận hành trên thị trường, giữa vấn đề đảm bảo sự vận hành của cơ chế
cạnh tranh trên thị trường trong nước với việc nâng cao năng lực cạnh tranh
quốc tế của một ngành kinh tế trong nước. Dựa trên phân tích tác dụng và tác
hại của từng hình thức thoả thuận, tuỳ theo từng quan điểm của Chính phủ mỗi
quốc gia, người ta đưa ra những trường hợp miễn trừ cho một số hình thức thoả
thuận (cartel) trong luật cạnh tranh.
Thông thường, cartel sẽ được miễn trừ trong một số trường hợp sau:
- Cartel định chuẩn: mục tiêu của cartel này là tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp cung cấp các loại sản phẩm, vật liệu có thể “lắp lẫn” được
với nhau thông qua việc thống nhất tiêu chuẩn, định mức kỹ thuật. Với cartel ở
hình thức này, việc cung ứng hàng hoá sẽ được cải thiện và hợp lý hoá hơn.
- Cartel hợp lý hoá (rationalization): là cartel giữa một số
doanh nghiệp nhằm thực hiện những dự án hợp lý hoá trong công nghệ, thông qua
đó có thể nâng cao hiệu quả và năng suất lao động.
- Cartel chuyên môn hoá: là cartel giữa một số doanh nghiệp
trên cơ sở phân công lao động giữa các doanh nghiệp này. Sự hình thành cartel
này chỉ được phép khi mà nó không bóp méo cấu trúc thị trường theo hướng tạo ra
vị trí khống chế thị trường cho một (hoặc một vài) doanh nghiệp tham gia
cartel.
- Cartel hợp tác hoá: là cartel tạo điều kiện cho việc hợp tác
giữa các doanh nghiệp tham gia. Thông thường cartel này được chấp thuận đối với
các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Cartel xuất khẩu: là cartel liên kết giữa các doanh nghiệp
xuất khẩu có cùng một mặt hàng hoặc một thị trường xuất khẩu. Thông qua cartel
này, các doanh nghiệp sẽ tránh được phần nào sự chèn ép của các doanh nghiệp
lớn khác trên thị trường thế giới. (cần đặc biệt lưu ý: các hoạt động cho
phép đối với cartel này chỉ là những hoạt động ở thị trường ngoài nước chứ
không được áp dụng đối với các hoạt động ở thị trường trong nước (ví dụ thu mua
hàng xuất khẩu) để tránh hiện tượng độc quyền trong thu mua).
- Cartel nhập khẩu: mục tiêu và ý nghĩa tương tự như cartel
xuất khẩu.
- Cartel khủng hoảng cơ cấu: thông thường cartel này được cho
phép khi xuất hiện khủng hoảng ở một ngành nào đó do sự chuyển đổi cơ cấu kinh
tế (ví dụ các ngành đóng tàu, khai thác than ở Tây Âu) với mục tiêu nhằm giảm
thiểu tác động tiêu cực (đặc biệt là về mặt xã hội) của khủng hoảng gây ra.
Bên cạnh những trường hợp trên, một số quốc gia còn cho phép thêm một vài
trường hợp ngoại lệ. Những trường hợp này, về mặt lý thuyết còn có nhiều vấn đề
tranh cãi. Ví dụ:
- Cartel về các điều kiện kinh doanh: là cartel có những thoả
thuận về điều kiện kinh doanh, cung ứng, thanh toán, Bên cạnh mặt tích cực của
cartel này là tăng tính tường minh của thị trường còn có điểm cần cân nhắc là
nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường cạnh tranh trên thị trường. Đó là sự
liên kết của các doanh nghiệp trên cơ sở xác định các điều kiện có thể gây khó
khăn cho các doanh nghiệp mới (hoặc sẽ) xuất hiện và cũng gây trở ngại cho tính
năng động, đổi mới của mỗi doanh nghiệp tham gia cartel.
- Cartel giảm giá: là cartel có thoả thuận liên quan đến việc
giảm giá (mức độ, thời điểm). Cartel này cũng giúp nâng cao tính minh bạch của
thị trường song cũng có thể tạo ra nguy cơ dùng sức mạnh của cartel để gây sức
ép về giá đối với các doanh nghiệp không tham gia cartel.
- Cartel đặc biệt: là cartel không nằm trong những trường hợp
trên song lại được Thủ tướng hoặc Bộ trưởng (có trách nhiệm) cho phép trên cơ
sở cân nhắc lợi ích tổng thể của toàn xã hội trong việc “cứu vớt” một ngành nào
đó, khi mà những công cụ khác hoàn toàn không có tác dụng . Do cartel
được quyết định riêng lẻ cho từng trường hợp, vì thế hình thức này khó có thể
tránh khỏi tính chủ quan trong quá trình ra quyết định.
Bảng 1: Những trường hợp miễn trừ của cartel
|
Hình thức cartel
|
Đối tượng
|
Nguyên nhân
|
|
Cartel định chuẩn
Cartel hợp lý hoá
Cartel chuyên môn hoá
Cartel hợp tác hoá
Cartel xuất khẩu
Cartel nhập khẩu
Cartel khủng hoảng cơ
cấu
Cartel các điều kiện
Cartel giảm giá
Cartel đặc biệt
|
Thống nhất tiêu chuẩn,
định mức
Thoả thuận về những dự
án hợp lý hoá
Hợp lý hoá thông qua
thoả thuận phân công lao động
Hợp tác giữa các xí
nghiệp nhằm thực hiện hợp lý hoá
Thoả thuận về những
thị trường xuất khẩu
Thoả thuận về việc
cung ứng từ nước ngoài
Thích nghi năng lực
sản xuất với việc giảm tiêu thụ
Thoả thuận về các điều
kiện kinh doanh, cung ứng và thanh toán
Cho phép giảm giá
Thủ tướng, Bộ trưởng
có thể cho phép lập cartel với mục tiêu bảo vệ lợi ích tổng thể nền kinh tế
|
Hợp lý hoá, cải thiện
việc cung ứng
Như trên
Như trên
Như trên; hướng vào
DNV&N
Tạo cân bằng trên
những thị trường ngoài nước
Tạo đối trọng thị
trường khi không có cạnh tranh trên thị trường ngoài nước
Thích nghi cơ cấu
nhanh chóng ở các thị trường bị thu hẹp, giảm sự căng thẳng xã hội
Cải thiện tính tường
minh của thị trường
Như trên; ngăn chặn
việc hạ giá quá đáng
Là công cụ cuối cùng
khi một ngành bị đe doạ và những công cụ khác không có tác dụng
|
SOURCE: CỔNG THÔNG
TIN ĐIỆN TỬ CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH – BỘ CÔNG THƯƠNG - VÕ DUY THÁI
Trích dẫn từ:
http://www.vcad.gov.vn/Web/Content.aspx?distid=2245&lang=vi-VN
--------------------------------------------------------------------------------
Thông tin chi tiết Quý khách hàng vui lòng liên hệ với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW (SUN LAW FIRM)
Địa chỉ: Số 47, Phố Chính Kinh, Phường Thanh Xuân Trung, Quận Thanh
Xuân, thành phố Hà Nội.
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM
--------------------------------------------------------------------------------