Một số vấn đề thuế giá trị gia tăng theo quy định mới
Ngày 16/4/2008, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 30/2008/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư số 32/2007/TT- BTC ngày 9/4/2007 hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ- CP ngày 10/12/2003, Nghị định số 148/2004/NĐ- CP ngày 23/7/2004 và Nghị định số 156/2005/NĐ- CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT. Đây là văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn một trong những sắc thuế rất quan trọng là thuế GTGT, xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn cuộc sống.
Thông tư đã giải quyết một số vướng mắc về thuế GTGT
Thông tư số 30/2008/TT-BTC đã giải quyết được vướng mắc của các
doanh nghiệp về thuế GTGT đối với hàng khuyến mại, quảng cáo. Theo
Thông tư 32/2007/TT-BTC, đơn vị có xuất hàng khuyến mại, quảng cáo phải
ghi hoá đơn và tính thuế GTGT như hàng xuất bán thông thường. Tuy
nhiên, trong quá trình thực hiện quy định này, phát sinh một số vấn đề
rất phức tạp, đó là:
Thứ nhất, việc tính thuế hàng khuyến mại,
quảng cáo dẫn đến việc hạch toán kế toán rất khó khăn và thực sự điều
này không được hướng dẫn trong chế độ kế toán. Nhiều đơn vị lúng túng
khi kế toán nhận hàng khuyến mại cũng như khi xuất khuyến mại tiếp
theo. Đó là chưa kể nếu giá tính thuế hàng khuyến mại (theo quy định là
giá theo giá bán tại thời điểm tương ứng) có thay đổi so với giá hàng
nhận về.
Thứ hai, việc tính thuế GTGT hàng khuyến
mại, quảng cáo cũng gây khó khăn trong thực thi chính sách thuế. Chi
phí khuyến mại, quảng cáo là khoản chi phí theo quy định được tính là
chi phí hợp lệ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp (tất nhiên có bị
khống chế 10% trên tổng chi phí). Thông tư 32/2008/TT-BTC đã hướng dẫn:
Trường hợp hàng khuyến mại, quảng cáo chỉ phải lập hoá đơn, trên
hoá đơn ghi tên và số lượng hàng hoá, ghi rõ là hàng khuyến mại, quảng
cáo, hàng vu không thu tiền không phải tính thuế GTGT, dòng thuế GTGT
không ghi, gạch chéo.
Bên cạnh đó, Thông tư số 30/2008/TT-BTC ngày 16/4/2008 đã sửa đổi
quy định tại Thông tư số 32/2007/TT-BTC về dịch vụ cung cấp cho doanh
nghiệp chế xuất như dịch vụ vận chuyển đưa đón công nhân cung cấp suất
ăn... từ chỗ không được áp dụng thuế suất GTGT 0% sang được áp dụng
thuế suất thuế GTGT 0%.
Đối với cơ sở tính doanh nhận tiền tài trợ của các cơ sở kinh doanh
khác theo Thông tư số 32/2007/TT- BTC ngày 09/4/2007, khi nhận tiền tài
trợ, nếu khoản tài trợ này để thực hiện các dịch vụ phục vụ cho bán sản
phẩm của bên tài trợ thì lập hoá đơn GTGT tính thuế GTGT theo quy định.
Trường hợp khoản tài trợ này không liên quan đến việc bán sản phẩm của
bên tài trợ thì không tính thuế GTGT, chỉ lập chứng từ thu tiền.
Thông tư số 30/2008/TT-BTC ngày 16/4/2008 hướng dẫn: Khi nhận tiền,
cơ sở kinh doanh lập chứng từ thu (không phân biệt nhận tiền tài trợ có
liên quan đến việc bán sản phẩm) và xác định là khoản thu nhập khác để
kê khai và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định.
Ngoài ra, để thực hiện thống nhất, Thông tư số 30/2008/TT-BTC ngày
16/4/2008 quy định: đối với hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng nội bộ không
phân biệt có phục vụ sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ chịu thuế
GTGT hay không chịu thuế GTGT đấu phải lập hoá đơn GTGT (hoặc hoá đơn
bán hàng), trên hoá đơn ghi đầy đủ các chỉ tiêu và tính thuế GTGT như
hoá đơn xuất bán hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng.
Cần hướng dẫn thấu đáo hơn
Nhiều vấn đề về thuế GTGT tại các Thông tư của Bộ Tài chính đã được
hướng dẫn rõ ràng. Tuy nhiên, cần phải giải quyết thấu đáo hơn một số
trường hợp về thuế GTGT, đó là:
Một là, về khấu trừ, hoàn thuế GTGT của tài sản cố định (TSCĐ) tham gia vào sản xuất kinh doanh. Điểm
2, Mục II, Phần A, Thông tư 32/2007/TT-BTC, quy định: "Cơ sở kinh doanh
không được khấu trừ và hoàn thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử
dụng cho sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng không
chịu thuế GTGTnêu tại mục II này mà phải tính vào nguyên giá TSCĐ, giá
trị nguyên vật liệu hoặc chi phí kinh doanh".
Điểm c 2, Khoản 1.2, Mục II, Phần B, Thông tư 32/2007/TT -BTC, nêu:
"Riêng đối với TSCĐ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thì
được khấu trừ toàn bộ số thuế GTGT đầu vào. Đối với TSCĐ đầu tư mua sắm
hoặc được tặng, cho để sử dụng vào các mục đích dưới đây thì thuế GTGT
tương ứng ghi trên hoá đơn, chứng từ mua hàng hoá, dịch vụ tạo thành
TSCĐ đó không tính vào thuế GTGT đầu vào được khấu trừ mà tính vào
nguyên giá của TSCĐ: TSCĐ chuyên dùng để sản xuất vũ khí, khí tài phục
vụ quốc phòng, an ninh;…”
Điểm 2.1 , Mục II, Phần C, Thông tư 32/2007/TT-BTC, hướng dẫn:
"Trường hợp cơ sở kinh doanh vừa có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng
hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT vừa có hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế
GTGT nhưng không hạch toán riêng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ thì
thuế GTGT đầu vào được khấu trừ tính theo tỷ lệ (%) giữa doanh số bán
ra của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT và tổng doanh số bán hàng hoá,
dịch vụ trong kỳ". Như vậy, nếu áp dụng các quy định trên đây, vấn đề
đặt ra là việc khấu trừ thuế GTGT đối với TSCĐ tham gia vào sản xuất
kinh doanh thực hiện như thế nào cho thống nhất: có được
khấu trừ toàn bộ hay phân bổ; trong trường hợp TSCĐ này chỉ tham gia
vào sản xuất kinh doanh một loại hàng hoá không chịu thuế thì có được
khấu trừ thuế GTGT hay không? Đây là vấn đề mà nhiều đơn vị gặp phải
trong thực tiễn và không phải bao giờ cũng xử lý thống nhất như nhau.
Hai là, về kê khai thuê GTGT.
Có thể nói, Thông tư 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 Của Bộ Tài chính
hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế và Nghị định 85/2007/NĐ- CP của
Chính phủ là văn bản tập hợp và quy định thống nhất các thủ tục khai
thuế, trong đó có khai thuế GTGT. Tuy nhiên, với đặc thù
là sắc thuế gián thu và độ biến động của nó rất lớn nên việc khai thuế
có nhiều vấn đề cần phải giải quyết cụ thể và đảm bảo thật sự hợp
lý. Chẳng hạn, việc khai bổ sung, điều chỉnh về thuế GTGT trong trường
hợp giảm số thuế được khấu trừ nhưng kỳ khai bổ sung đơn vị đang âm
thuế (còn thuế GTGT khấu trừ được chuyển sang kỳ sau), còn nhiều cách hiểu và xử lý trong trường hợp này.
Có ý kiến cho rằng đơn vị đã thực hiện tự khai, tự nộp nên trong trường hợp đó phải nộp riêng
khoản chênh lệch này và tiền phạt chậm nộp vào NSNN; hoặc lại cho rằng,
trong trường hợp như vậy, vì chưa phát sinh số thuế phải nộp Ngân sách
nên càn được bù trừ vào số thuế âm kỳ hiện tại. Trường hợp khác, đơn vị
khai thuế GTGT cho dự án đầu tư (chưa có thuế GTGT đầu ra) khi phải
điều chỉnh thuế GTGT tương tự như trên thì xử lý như thế nào mới hợp
lý. Đó là những vấn đề tuy không lớn nhưng doanh nghiệp thường xuyên
gặp phải và càn được hướng dẫn thấu đáo hơn.
Ngoài ra, các bảng kê về thuế GTGT (đặc biệt là bảng kê hàng hoá,
dịch vụ, mua vào không có hoá đơn) với tư cách là các hồ sơ kèm theo tờ
khai thuế định kỳ với quy định mới khi thực hiện Luật Quản lý thuế cũng
cần được quy định rõ ràng và thống nhất hơn để tiện trong khai thuế
cũng như theo dõi, quản lý thuế.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT đã được Quốc
hội khoá XH, kỳ họp thứ 3 thông qua. Nhiều vấn đề mới có liên quan đã
được ban hành và điều chỉnh theo hướng phù hợp với tình hình phát triển
đa dạng và hội nhập của nền kinh tế đất nước. Việc điều chỉnh khung
pháp lý về thuế cho phù hợp hơn với thực tiễn là điều cần thiết khách
quan. Tuy nhiên, những vấn đề cụ thể sẽ còn nảy sinh, cần được các cơ
quan ban hành văn bản dưới luật cân nhắc và giải quyết, hướng dẫn để
quá trình thực hiện Luật được hiệu quả, thiết thực.
Tài liệu tham khảo:
- Luật quản lý thuế 2006 Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày l0/12/2003
của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT và Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT
- Thông tư 32/2007/TT-BTC ngày 9/4/2007 của Bộ Tài chính về hướng dẫn chi tuết thi hành thuế GTGT
- Thông tư 30/2008/TT-BTC ngày 16/4/2008 của Bộ Tài chính về sửa đổi, bổ sung Thông tư 32/2007/TT- BTC ngày 9/4/2007
- Thông tư 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài chính về hướng dẫn chi tiết thi hành thuế GTGT
- Thông tư 60/2007/TT- BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn
thi hành Luật Quản lý thuế và Nghị định 85/2007/NĐ - CP của Chính phủ.
- Thông tư số 127/2004/TT-BTC ngày 27/12/2004 của Bộ Tài chính Sửa
đổi Thông tư số 127/2003/TT-BTC ngày 22/12/2003 và Thông tư số
84/2004/TT- BTC ngày 18/8/2004 của Bộ Tài chính về mẫu tờ khai và hướng
dẫn lập tờ khai thuế GTGT.
Nguồn:
Tạp chí Kế Toán