Một số vấn đề về ảnh hưởng của thương mại điện tử đến hệ thống pháp luật thuế Việt nam
Hội nhập vào nền kinh tế thế giới đã đem lại cho nước ta những cơ hội thuận lợi mới cho phát triển kinh tế. Sự phát triển kinh tế như thế hiển nhiên sẽ là cơ sở quan trọng nhất cho việc tăng thu và ổn định nguồn ngân sách nhà nước. Cùng với quá trình hội nhập kinh tế này, nhiều phương thức kinh doanh mới mẻ và hiện đại đã và đang được áp dụng và phát triển rất nhanh ở nước ta, trong đó phải kể đến phương thức giao dịch thương mại điện tử.
1. Đặt vấn đề và một vài điểm khái quát về thương mại điện tử
Hội nhập vào nền kinh tế thế giới đã đem lại cho nước ta những cơ hội thuận
lợi mới cho phát triển kinh tế. Sự phát triển kinh tế như thế hiển nhiên sẽ là
cơ sở quan trọng nhất cho việc tăng thu và ổn định nguồn ngân sách nhà nước.
Cùng với quá trình hội nhập kinh tế này, nhiều phương thức kinh doanh mới mẻ và
hiện đại đã và đang được áp dụng và phát triển rất nhanh ở nước ta, trong đó
phải kể đến phương thức giao dịch thương mại điện tử. Tuy nhiên sự xuất hiện
của chúng cũng đang đặt ra những câu hỏi cho việc thực hiện vai trò của hệ
thống thuế trong việc ổn định và tăng thu ngân sách.
Thương mại điện tử đang là một xu thế phát triển mạnh mẽ trong các giao dịch
kinh tế trên thế giới và đã bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam trong những năm gần đây. Không
khó để tìm hiểu về nội dung của khái niệm thương mại điển tử vì điều này đã
được nhiều nghiên cứu đề cập đến[1]. Khái quát lại, ta có thể thấy khái niệm
thương mại được hiểu theo hai cấp độ chính như sau, tuỳ thuộc vào việc người ta
mở rộng phạm vi áp dụng các giao dịch điện tử vào các lĩnh vực kinh tế: Thứ
nhất, thương mại điện tử là việc thực hiện các hoạt động kinh doanh qua các
phương tiện điện tử. Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu dưới dạng text,
âm thanh và hình ảnh. Thương mại điện tử gồm nhiều hành vi như mua bán hàng
hoá, dịch vụ qua phương tiện điện tử, giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên
mạng, chuyển tiền điện tử, mua bán cổ phiếu trên mạng, vận đơn điện tử, tiếp
thị qua mạng… Thứ hai, thương mại điện tử là việc thực hiện các hoạt
động thương mại qua mạng internet. Tổ chức thương mại thế giới (WTO) định
nghĩa: thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng, phân phối
sản phẩm được mua bán và thanh toán qua internet, nhưng được giao nhận một cách
hữu hình cả các sản phẩm cũng như những thông tin số hoá qua mạng internet. Sự
khác biệt giữa thương mại điện tử và các hình thức giao dịch thông thường là ở
chỗ:
- Các chủ thể trong giao dịch có thể không cần phải tiến hành các thủ tục
mua bán thông thường. Họ có thể không cần phải gặp gỡ, trao đổi trực tiếp.
- Phương thức giao nhận hàng hoá, dịch vụ không nhất thiết phải tiến hành
theo cách thức giao hàng trực tiếp mà có thể giao nhận qua mạng. Phương thức
giao nhận này của thương mại điện tử đặc biệt thông dụng và dễ dàng khi khách
hàng mua các sản phẩm như âm nhạc, phim ảnh, sách báo, phần mềm. Rất dễ để hình
dung được rằng khách hang chỉ cần một vài thao tác download đơn giản là họ đã
có thể có sản phẩm mình cần.
- Không gian số hoá. Đây là một đặc điểm quan trọng bậc nhất của thương mại
điện tử so với thương mại truyền thống, ít nhất là trên phương diện pháp luật
thuế. Nếu trong các giao dịch truyền thống, người ta có thể phân loại và nhận
biết chúng bởi sự tồn tại của khái niệm biên giới quốc gia và sự hiện hữu của
hàng hoá trong quá trình giao nhận thì trong giao dịch điện tử, các giao dịch
không còn bị ràng buộc bởi không gian của biên giới quốc gia.
- Cần thiết phải có một bên thứ ba để chứng thực và hỗ trợ kỹ thuật cho các
bên trong quá trình tiến hành một giao dịch thương mại điện tử. Bên thứ ba này
có thể là chủ thể cung cấp các điều kiện hạ tầng kỹ thuật cho giao dịch như
cung cấp hệ thống máy chủ, đường truyền, xác nhận chữ ký điện tử, cung cấp tiền
điện tử hoặc các hình thức thanh toán khác có thể thực hiện trên internet.
Những sự thay đổi như vậy mà thương mại điện tử đem lại thường đặt ra những
vấn đề mới mà một hệ thống pháp luật thuế được thiết kế dựa trên những tiền đề
cơ bản của các giao dịch thương mại truyền thống như hệ thống thuế ở Việt Nam
cần phải có những chỉnh sửa và thay đổi. Trong nghiên cứu này, chúng tôi thử
đưa ra một số nhận định ban đầu về những yêu cầu mới của thương mại điện tử đối
với hệ thống pháp luật thuế nói chung, cũng như một số loại thuế gián thu và
trực thu điển hình. Để làm được điều này, ở phần đầu chúng tôi cố gắng phác hoạ
lại một vài nội dung cơ bản của hệ thống pháp luật thuế hiện hành và sau đó, so
sánh với thực tiễn áp dụng chúng vào các giao dịch thông dụng nhất của thương
mại điện tử.
1. Một vài nội dung của hệ thống pháp luật thuế hiện hành
Mục đích chính yếu của hệ thống thuế hiện hành là đáp ứng yêu cầu ổn định và
tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Để đạt được mục tiêu này, hệ thống pháp
luật thuế thường được xây dựng trên một số nội dung sau đây:
1.1 Xác định phạm vi áp dụng
Về mặt kinh tế, xét một cách đơn giản, việc tăng nguồn thu cho ngân sách phụ
thuộc chủ yếu vào việc mở rộng hay thu hẹp phạm vi áp dụng của từng luật thuế
cụ thể. Để xác định phạm vi áp dụng của một luật thuế, thông thường các luật
thuế hiện nay dựa trên hai tiêu chí cơ bản là: chủ thể nộp thuế và đối tượng
chịu thuế.
Thứ nhất, nếu lược bỏ những đặc điểm của chủ thể nộp thuế gắn với những đối
tượng chịu thuế cụ thể ( ví dụ: thu nhập, tài sản, doanh thu) thì một cách khái
quát ta có thể thấy, để xác định chủ thể nộp thuế, pháp luật thuế thường đề cập
tới đặc điểm về quốc tịch và thường trú. Điều này thường phản ánh mối quan hệ
có tính chất chính trị và pháp lý giữa chủ thể nộp thuế và quốc gia . Tiêu chí
này có thể có các dạng chi tiết hơn, tuỳ từng trường hợp, như: công dân, người
thường trú, nơi đăng ký pháp nhân, hoặc nơi quản lý hiệu quả nhất của pháp
nhân. Để xác định những trường hợp như vậy người ta thường thiết kế trong các
luật thuế các dấu hiệu hữu hình như thời gian sinh sống và làm việc, địa chỉ
của trụ sở chính pháp nhân.
Thứ hai, đối tượng chịu thuế trong hệ thống thuế hiện hành có thể là từ các
hoạt động kinh doanh hàng hoá hoặc dịch vụ chịu thuế, thu nhập hoặc tài sản.
Bản chất của việc xác định đối tượng chịu thuế như vậy là căn cứ vào nguồn gốc
hình thành đối tượng tính thuế dưới các dạng như doanh thu, lợi nhuận, thu nhập
cá nhân, trị giá tài sản. Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy rằng, mặc dù những đối
tượng tính thuế như vậy có thể dễ dàng quan sát và nắm bắt thông qua các số
liệu sổ sách, chứng từ hoá đơn, nhưng về bản chất chúng là kết quả của các quan
hệ kinh tế giữa các chủ thể khác nhau. Vì vậy, trong quan hệ thuế người ta
thường phải phân tích xem là nguồn gốc của việc chuyển dịch giá trị như vậy có
trở thành một yếu tố cơ bản để thực hiện quyền thu thuế của quốc gia hay không.
Ví dụ: một công ty tư vấn nước ngoài thực hiện việc thiết kế công trình tại
Việt Nam; quá trình thiết kế
thực hiện tại nước ngoài, vậy doanh thu của công ty tư vấn này có phải chịu
thuế theo pháp luật Việt Nam
hay không. Trên thực tế, có khá nhiều phương án để trả lời cho ví dụ trên tùy
thuộc vào việc hệ thống pháp luật thuế căn cứ vào nguồn gốc của doanh thu là từ
nơi cung cấp hàng hoá, dịch vụ hay nơi tiêu dùng hàng hoá dịch vụ.
1.2 Quản lý thuế
Pháp luật cho công tác quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay đã được hình thành
tương đối đồng bộ. Tuy nhiên có thể thấy rằng, cơ sở cho việc thực thi các quy
định về quản lý thuế vẫn dựa trên các yếu tố của các giao dịch kinh tế truyền
thống mà chưa có sự mở rộng vào các tình huống mới của sự phát triển các giao
dịch thương mại điện tử. Theo các cơ sở này pháp luật về quản lý thuế hiện nay
có đặc điểm phổ biến là:
Thứ nhất, các bằng chứng và cách thức quản lý thuế hiện nay vẫn chủ yếu căn
cứ vào các loại sổ sách, hoá đơn chứng từ được phát hành và lập theo những
khuôn mẫu nhất định do cơ quan thuế phát hành. Ví dụ rõ nhất là việc áp dụng
khá triệt để (điều này đôi khi trở nên khá cứng nhắc) quy trình cấp và sử dụng
hoá đơn giá trị gia tăng, lập các chỉ tiêu trên hoá đơn GTGT. Điểm mạnh của
phương thức này là làm cho công tác quản lý thuế trở nên dễ dàng hơn, trong
thực tế, nhiều trường hợp kiểm tra quyết toán thuế chỉ đơn thuần là công việc
đối chiếu hoá đơn GTGT giữa cơ quan thuế và đối tượng nộp thuế.
Thứ hai, trong quá trình quản lý thuế hiện nay, nhiều văn bản pháp luật thuế
có quy định trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức hữu quan với cơ quan
thuế[2], đặc biệt là trong các hoạt động xuất nhập khẩu và giao dịch thanh toán
qua ngân hàng của đối tượng nộp thuế. Sự phối hợp với các cơ quan như vậy cho
phép cơ quan thuế hạn chế những hiện tượng trốn tránh thuế dựa trên việc khai báo
không trung thực số liệu kinh doanh.
2. Ảnh hưởng của thương mại điện tử đến hệ thống pháp luật thuế hiện hành
Để xác định ảnh hưởng của thương mại điện tử đến một số nội dung cơ bản của
hệ thống pháp luật thuế hiện hành, trước tiên chúng ta xem xét giả định một
giao dịch thương mại điện tử đơn giản nhất và cũng khá phổ biến hiện nay là
việc cung cấp các chương trình phần mềm, phim ảnh, tài liệu qua internet[3].
Theo đó, công ty cho phép khách hàng có thể truy cập vào trang web của mình để
mua các chương trình phần mềm, sản phẩm văn hoá như phim, âm nhạc. Sau khi
khách hàng thực hiện các thủ tục khai báo mặc định có tương tự như việc chấp
nhận những điều kiện hợp đồng thông thường, khách hành khai báo việc thanh toán
và lệnh thanh toán của khách hàng bằng thẻ tín dụng được hệ thống chấp nhận thì
khách hàng được quyền tải chương trình về máy tính của mình và được phép sử
dụng. Khi áp dụng các nguyên tắc hiện nay của hệ thống pháp luật thuế vào
trường hợp này, chúng ta có thể thấy có một số vấn đề phát sinh mà các quy tắc
chung hiện nay của các luật thuế chưa cho phép giải quyết triệt để.
2.1 Xác định đối tượng nộp thuế
Nếu với những giả định trên rất dễ dàng để xác định đối tượng nộp thuế( ví
dụ thuế GTGT, Thu nhập doanh nghiệp ) là công ty cung cấp các sản phẩm nói
trên. Nhưng nếu như công ty cung cấp các sản phẩm đó là một công ty ở nước
ngoài thì vấn đề trở nên phức tạp hơn nhiều. Một số vấn đề có thể đặt ra là:
Thứ nhất, liệu theo các luật thuế hiện hành ở Việt Nam áp
dụng cho doanh nghiệp thì công ty nói trên có thể trở thành đối tượng nộp thuế
hay không. Bởi vì hiện nay đối tượng nộp thuế ( GTGT hoặc thu nhập doanh
nghiệp) chủ yếu được xác định dựa vào tiêu chí quốc tịnh hoặc thường trú. Nhưng
trong trường hợp này, công ty cung cấp sản phẩm có thể không có bất kỳ sự hiện
diện thương mại nào ở Việt Nam
như:
- Chi nhánh
- Văn phòng đại diện
- Kho giao nhận hàng hoá
- Tồn tại các phương tiện kinh doanh như máy móc thiết bị
- Cơ sở làm đại lý
- Cá nhân làm công tại Việt Nam
Như vậy, trong các giao dịch thương mại điện tử việc áp dụng khái niệm cơ
sở thường trú[4] không phải lúc nào cũng thực hiện được một cách
trực tiếp. Hệ quả là, chúng ta không có đủ cơ sở pháp lý để xác định đối tượng
nộp thuế trong trường hợp này. Nhưng rõ ràng là việc không thu thuế đối với
công ty cung cấp phần mềm trên đây sẽ làm thất thu một phần ngân sách và không
công bằng. Bởi lẽ, một mặt, doanh thu và thu nhập của công ty có được là có
nguồn gốc từ khách hàng Việt Nam, được tiêu dùng ở Việt Nam; thêm vào đó, khi
thực hiện các hoạt động cung cấp sản phẩm nêu trên, công ty đã được sử dụng mà
không phải thực hiện bất cứ nghĩa vụ thuế nào cho việc sử dụng mạng lưới cơ sở
hạ tầng thông tin và thể chế mà nhà nước Việt Nam đã đầu tư để phát triển nền
kinh tế nói chung và thương mại điện tử nói riêng.
Thứ hai, liệu có thể xác định chính xác chủ thể nào là người
cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ không. Không giống như trong thương mại truyền
thống, người ta có thể dễ dàng xác định được đối tượng nộp thuế bằng việc xem
xét đến việc ai là người tiến hành hành vi kinh doanh. Trong thương mại điện
tử, việc sử dụng phương thức như vậy nhiều khi rất khó khăn. Quay lại với
trường hợp giả định ở trên, việc khách hàng có thể mua một sản phẩm qua
internet trong nhiều trường hợp không phải là một sản phẩm độc lập mà là cả một
gói dịch vụ mà trong đó để có thể sử dụng các tính năng của sản phẩm bắt buộc
phải có sự tham gia của nhiều nhà cung cấp trên mạng internet.
2.2 Xác định đối tượng chịu thuế
Thứ nhất, xác định đúng bản chất của đối tượng chịu thuế giao
dịch trong thương mại điện tử. Với giả định trên, chúng ta thấy rằng, có ít
nhất ba cách quan niệm về bản chất của một hành vi cung cấp sản phẩm của công
ty theo phương thức giao dịch của thương mại điện tử, cụ thể như sau:
- Cung cấp một loại hàng hoá. Điều này rất dễ hình dung vì khi khách hàng
tải được một sản phẩm về sử dụng thì sản phẩm đó có đầy đủ tính năng như một
hàng hoá thông thường. Ví dụ, khách hàng mua một ấn phẩm như đĩa ca nhạc, một
quyển sách. Như vậy, hành vi của công ty về bản chất là bán một sản phẩm hàng
hoá.
- Cung cấp một quyền sử dụng. Nhưng rõ ràng là việc khách hàng truy cập vào
hệ thống cơ sở dữ liệu, sách báo on-line… thực chất là việc khách hàng mua một
quyền sử dụng với những điều kiện nhất định chứ không phải là mua một quyển
sách hay một đĩa nhạc cụ thể. Bản chất của giao dịch này cũng có thể được định
nghĩa như là việc mua một quyền sử dụng cơ sở dữ liệu mà công ty cung cấp. Bản
chất này càng thể hiện rõ hơn nếu chúng ta thay đổi đối tượng mà công ty cung
cấp là quyền truy cập và sử dụng một hệ thống cơ sở dữ liệu thay vì một quyển
sách, một bản nhạc, một bộ phim cụ thể. Trong trường hợp này, giá cả mà công ty
ấn định sẽ không dựa trên khối lượng của từng sản phẩm nhất định mà thông
thường sẽ dựa trên một khoản phí ấn định cho một thời gian cụ thể[5] .
- Cung cấp một dịch vụ. Bây giờ, ta lại giả định rằng, khách hàng sẽ có một
yêu cầu đến công ty, theo đó họ yêu cầu công ty cung cấp một hệ cơ sở dữ liệu
về các bộ phim được trao các giải Oscar từ trước đến nay bao gồm việc trình
chiếu toàn bộ nội dung bộ phim, lễ trao giải, các phân tích và bình luận của
ban giám khảo và các nhà phê bình, thông tin về sự nghiệp và cuộc đời của những
người tham gia làm phim. Trong trường hợp này, bản chất hành vi của công ty là
cung cấp một dịch vụ theo yêu cầu cụ thể của khách hàng.
Việc xác định đúng hoặc ít ra chấp nhận một cách chính thức bản chất của
hành vi cung cấp sản phẩm trong giao dịch thương mại điện tử là rất quan trọng
trong việc xác định đúng và áp dụng đúng đối tượng chịu thuế. Trong điều kiện
của hệ thống pháp luật thuế hiện nay điều này có tầm quan trọng đặc biệt, vì
trong rất nhiều trường hợp, việc xác định đối tượng chịu thuế và theo đó là giá
tính thuế, thuế xuất còn dựa vào tiêu chí phân loại tính chất của sản phẩm là
hàng hoá hay dịch vụ. Chẳng hạn, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện nay
có quy định đối tượng chịu thuế là hàng hoá[6]. Hệ quả là nếu chúng ta xác định
việc một khách hàng Việt Nam mua một sản phẩm qua giao dịch thương mại điện tử
từ một nhà cung cấp ở nước ngoài có bản chất là dịch vụ ( trường hợp thứ 3 nêu
trên) thì chúng ta không có cơ sở pháp lý để có quyền thu thuế nhập khẩu trường
hợp này.
Thứ hai, đối tượng chịu thuế là dịch vụ sẽ được xác định dựa
trên căn cứ nào. Ngay cả đối với những đối tượng là sản phẩm dịch vụ phổ biến
như cung cấp tư vấn về pháp luật, quản lý, tài chính thì việc xác định xem liệu
dịch vụ đó có phải là đối tượng chịu thuế hay không cũng không phải là dễ dàng
theo pháp luật thuế ở Việt Nam. Bởi vì, hiện nay các luật thuế áp dụng cho hoạt
động dịch vụ thường chỉ xem xét hoạt động này được các chủ thể Việt nam cung
cấp và tiêu dùng ở Việt Nam.
Tuy nhiên, sự phát triển của thương mại điện tử đã dẫn đến việc thu thuế đối
với các hoạt động dịch vụ phải được xem xét trên nhiều phương diện hơn. Thông
thường, để xác định một dịch vụ có trở thành đối tượng chịu thuế hay không theo
luật thuế của một quốc gia thì quốc gia này phải lựa chọn xem liệu sẽ căn cứ
vào việc: 1) dịch vụ đó được thực hiện ở đâu; hoặc 2) dịch vụ đó được cung cấp
ở đâu;hoặc 3) dịch vụ đó được tiêu dùng ở đâu. Vấn đề này đặt ra trong thương
mại điện tử là bởi vì trong một môi trường và không gian số hoá việc xác định
các tiêu chí là rất khó khăn. Trong trường hợp giả định công ty ở nước ngoài
thực hiện việc tư vấn tài chính cho doanh nghiệp Việt Nam, nếu trong giao dịch
truyền thống họ có thể cử nhân viên của mình sang Việt Nam nghiên cứu và thực
hiện tư vấn thì vấn đề sẽ rất đơn giản do chúng ta có thể thấy được sự hiện
diện thương mại của họ ở Việt Nam. Nhưng trong thương mại điện tử, khách hàng
Việt Nam và công ty có thể thực hiện tất cả quá trình trao đổi và hướng dẫn tư
vấn qua các giao dịch trực tuyến thì việc xác định xem là dịch vụ được thực
hiện và cung cấp ở đâu sẽ có thể có rất nhiều câu trả lời.
Thứ ba, trong việc xác định đối tượng tính thuế, nhất là
trường hợp của thuế thu nhập doanh nghiệp, vấn đề lớn nhất là việc xác định chi
phí. Bản thân vấn đề này không chỉ nảy sinh ở các giao dịch thương mại điện tử
mà còn thấy phổ biến ở các giao dịch truyền thống. Tuy nhiên, xác định chi phí
để tính thu nhập chịu thuế trong giao dịch thương mại điện tử cũng làm xuất
hiện thêm nhiều khó khăn mới, nhất là về vấn đề phân bổ chi phí. Chẳng hạn, để
thực hiện việc cung cấp sản phẩm cho khách hàng Việt Nam, công ty trong giả
định trên có thể phải thuê các dịch vụ từ một nước thứ ba, thuê các cơ sở hạ
tầng kỹ thuật về internet. Tất cả những chi phí như vậy cần phải được tính khi
xác định thu nhập chịu thuế. Tuy nhiên điều này rất khó thực hiện nếu các giao
dịch nêu trên của bản thân công ty cũng được thực hiện bởi các giao dịch thương
mại điện tử.
2.3 Quản lý thuế
Thứ nhất, khi tiến hành giao dịch trong thương mại điện tử,
hình thức trao đổi thông tin và ghi nhận giao dịch đều tồn tại dưới dạng các
văn bản, chứng từ điện tử. Chúng có thể là hợp đồng, đề nghị, tuyên bố, hoá đơn
dưới dạng các thông điệp điện tử. Thông điệp điện tử là thông tin được tạo ra,
gửi đi và tiếp nhận lưu trữ bằng phương tiện điện tử. Điều này trong nhiều
trường hợp gây ra không ít khó khăn trong công tác quản lý thuế vì như trên
chúng ta đã thấy, hiện này công tác quản lý thuế vẫn dựa chủ yếu vào các loại
hoá đơn chứng từ do cơ quan thuế quy định. Theo pháp luật hiện hành[7], giá trị
pháp lý của văn bản điện tử đã được quy định rõ ràng, theo đó cơ quan thuế có
trách nhiệm phải chấp nhận những chứng từ, hoá đơn điện tử được lập theo đúng
các đòi hỏi của pháp luật. Các quy định này chỉ quy định về thời điểm chứng từ
điện tử được gửi và nhận. Tuy nhiên, các văn bản pháp luật thuế hiện nay có sự
phân biệt rất rõ giữa hai thời điểm là thời điểm chứng từ được lập và thời điểm
gửi, nhận chứng từ. Bên cạnh đó, việc một chứng từ có ý nghĩa pháp lý với việc
liệu chứng từ đó có được chấp nhận khi xác định căn cứ tính thuế hay không lại
hoàn toàn khác nhau.
Mặt khác, trong công tác quản lý thuế, vai trò của hoá đơn chứng từ không
chỉ đơn thuần là căn cứ cho quá trình tính thuế, kê khai, thanh kiểm tra thuế
mà nó còn có ý nghĩa trong việc xác định tính chất pháp lý của việc lưu thông,
vận chuyển hàng hoá. Tuy nhiên trong hoạt động thương mại điện tử, người bán
hàng có thể vẫn giao hàng như thông lệ mà không kèm theo hoá đơn chứng từ, vì
họ có thể gửi những hoá đơn này dưới hình thức các dữ liệu điện tử. Điều này
một lần nữa làm cho công tác quản lý thuế trở nên phức tạp hơn.
Thứ hai, vấn đề rất phức tạp mà thương mại điện tử đặt ra đối
với công tác quản lý thuế hiện nay là sự xuất hiện các hình thức thanh toán
trong thương mại điện tử. Một trong những cách phổ biến và thông dụng trong
việc quản lý thuế là dựa vào hình thức thanh toán, ví dụ giấy báo thanh toán
của ngân hàng. Tuy nhiên, cách thức này không phải lúc nào cũng dễ dàng thực
hiện khi áp dụng vào thương mại điện tử. Trong giao dịch thương mại điện tử các
bên có thể sử dụng nhiều cách thức thanh toán đa dạng và đặc thù. Tính đa dạng
của việc thanh toán thể hiện ở chỗ có rất nhiều chủ thể cung cấp các dịch vụ
thanh toán qua các loại thẻ tín dụng và việc sử dụng những loại thẻ như vậy
không bị giới hạn bởi việc loại thẻ đó được phát hành ở đâu. Ví dụ: những thẻ
tín dụng như visa, master card có thể được mở một ngân hàng đại lý ở một quốc
gia nào đó nhưng vẫn được chấp nhận ở các nước khác. Tính đặc thù của việc
thanh toán trong thương mại điện tử thể hiện ở việc xuất hiện tiền điện tử. Theo
đó, đơn vị thanh toán không dựa vào một đơn vị tiền tệ pháp định nào mà được
các bên tham gia mặc định một đơn vị thanh toán riêng, chẳng hạn khách hàng có
thể download một loại phiếu tiền điện tử (token) từ một ngân hàng trên mạng và
sử dụng chúng để thanh toán cho các giao dịch của mình. Nếu hình thức thanh
toán bằng các thẻ tín dụng về nguyên tắc vẫn có thể truy vấn được dưới hình
thức văn bản thì ở hình thức này cơ quan thuế rất khó có thể tìm kiếm được bằng
chứng về việc thanh toán giữa khách hàng với công ty. Việc cố gắng kiểm soát
tiền điện tử thông qua các ngân hàng trong nước là sẽ không đem lại kết quả như
mong đợi vì khách hàng dễ dàng mở một tài khoản qua mạng tại một ngân hàng
không nằm trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
Thứ ba, nếu trong thương mại điện tử, các giao dịch chỉ giới
hạn bởi việc giao kết hợp đồng qua các phương tiện điện tử còn việc thực hiện
hợp đồng vẫn theo phương thức truyền thống, tức là công ty vẫn giao hàng cho
khách hàng qua các phương thức vận tải thông thường thì về nguyên tắc, cơ quan
quản lý thuế vẫn có đủ cơ sở để xác định nghĩa vụ thuế của các bên vì dễ dàng
tính toán được khối lượng và giá trị của giao dịch qua sự hiện diện của hàng
hoá trên thực tế. Tuy nhiên điều này sẽ không thể thực hiện được nếu như đối
tượng của giao dịch thương mại điện tử là các sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ có
thể truyền tải trực tiếp ngay trên mạng internet.
3. Một vài đề xuất
Như trên đã trình bày, chúng ta có thể thấy sự phát triển của thương mại
điện tử một mặt làm tăng những cơ hội mới cho việc tăng thu ngân sách nhà nước
nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn khả năng làm thất thu cho ngân sách nhà nước nếu
hệ thống pháp luật thuế không có những thay đổi nhất định. Qua bước đầu nghiên
cứu, một vài đề xuất thu lượm được dưới đây có thể còn cần phân tích sâu hơn để
áp dụng vào thực tiễn nhằm góp phần nâng cao tính ổn định của nguồn thu ngân
sách nhà nước qua thuế trong điều kiện nước ta đã hội nhập vào nền kinh tế thế
giới.
Thứ nhất, đối với các loại thuế gián thu đánh vào các hoạt
động sản xuất kinh doanh cần làm rõ hơn và điều chỉnh chi tiết hơn hoạt động
dịch vụ được cung cấp qua phương thức giao dịch điện tử. Do các hoạt động cung
cấp dịch vụ có thể dễ dàng thực hiện qua môi trường số hoá nên không nhất thiết
phải xác định phạm vi áp dụng của một sắc thuế với dịch vụ dựa chủ yếu vào tiêu
chí lãnh thổ quốc gia. Trong trường hợp cụ thể này, dịch vụ phải chịu thuế nên
dựa vào việc tiêu dùng dịch vụ ở Việt Nam. Khách hàng Việt Nam có
nghĩa vụ phải nộp thuế thay cho nhà cung cấp.
Thứ hai, xác lập cơ chế phối hợp mang tính pháp lý giữa cơ
quan thuế với các nhà cung cấp dịch vụ hạ tầng cho thương mại điện tử mà đặc
biệt là các nhà cung cấp dịch vụ internet và dịch vụ thanh toán. Vì một trong
những đặc điểm của thương mại điện tử là phải có sự tham gia của chủ thể thứ ba
bên cạnh hai chủ thể chính thông thường của giao dịch. Chính chủ thể thứ ba này
là người cung cấp các điều kiện kỹ thuật cho thương mại điện tử được tiến hành,
và về mặt kỹ thuật họ có đầy đủ khả năng để lữu trữ, xác nhận sự tồn tại đích thực
của một giao dịch điện tử.
Thứ ba, theo kinh nghiệm của một số quốc gia, những loại thuế
mới đặc thù cho thương mại điện tử hiện nay đang được nghiên cứu và đề xuất áp
dụng[8]. Đặc điểm chung của các loại thuế này là: 1) đối tượng tính thuế không
phải là các hình thức truyền thống do đó nó hạn chế được những rắc rối trong
việc thu thuế vào các giao dịch thương mại điện tử mà hệ thống thuế hiện nay
gặp phải; và 2) việc tiến hành thu thuế phải dựa trên những điều kiện kỹ thuật
nhất định. Phổ biến nhất hiện nay là việc nghiên cứu hai loại thuế sau:
- Thuế đánh vào lưu lượng thông tin sử dụng trong giao dịch thương mại điện
tử ( tax on bit). Theo đó, nhà nước có thể thu thuế thông qua các đơn vị cung
cấp dịch vụ mạng và đến lượt mình, các đơn vị này sẽ cộng các đơn vị thuế đó
vào giá dịch vụ mà họ sẽ cung cấp cho khách hàng. Nhìn chung, ý tưởng thuế này
cho phép loại bỏ những phiền toái liên quan đến việc xác định phạm vi áp dụng
của thuế dựa vào các tiêu chí quốc tịch, nguồn gốc của việc chuyển giao giá trị.
Tuy nhiên, ngay từ bây giờ, đã có thể hình dung thấy loại thuế này sẽ phải đối
mặt với hàng loạt những vấn đề cổ điển của hệ thống pháp luật thuế, ít nhất là
với hai nội dung:
+ Trùng thuế. Rõ ràng là các đơn vị cung cấp dịch vụ mạng phải trả các khoản
thuế bán hàng như thuế GTGT cho hoạt động của mình. Việc đánh thêm một khoản
thuế mới dựa trên sản phẩm mà họ đã cung cấp vô hình chung làm tăng giá cả
dịchvụ của họ và làm xuất hiện hiện tượng thuế trùn lắp.
+ Thiếu công bằng. Vì ở loại thuế mới này đối tượng chịu thuế là dựa trên
đơn vị thông tin mà khách hàng sử dụng. Điều này không cho thấy được mức độ giá
trị và ý nghĩa thông tin mà họ sử dụng, chẳng hạn cho mục đích giải trí hay cho
mục đích giáo dục.
- Thuế đánh vào giao dịch chuyển tiền. Loại thuế này được đề xuất dựa trên
cơ sở của dòng tiền được thanh toán khi thực hiện giao dịch điện tử. Theo đó số
thuế phải nộp sẽ được tự động trích từ các giao dịch chuyển tiền qua tổ chức
tín dụng hoặc tổ chức cung cấp dịch vụ thanh toán điện tử. Nhìn chung, ưu điểm
của loại thuế này nếu được thực hiện là cơ sở để xác định quyền thu thuế tương
tự với nguyên tắc nguồn gốc phát sinh thu nhập và khá thuận tiện trong công tác
quản lý thuế. Tuy nhiên, do việc thu thuế phụ thuộc vào tổ chức thực hiện việc
thanh toán nên trong điều kiện hiện nay ở nước ta nó có thể nảy sinh nhiều hiện
tượng tránh thuế. Hình thức đơn giản nhất cho việc tránh thuế trong trường hợp
này là người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử sẽ lựa chọn một tổ
chức thanh toán mà hoặc tổ chức này không bị ràng buộc về mặt pháp lý với Việt
Nam, họ không có nghĩa vụ phải thực hiện việc trích thuế; hoặc chọn tổ chức này
được thành lập tại quốc gia có nhiều ưu đãi thuế hơn Việt Nam, nếu giả định có
sự tồn tại một hiệp định về thuế giữa Việt Nam với quốc gia đó.
[1] Có thể xem: Viện khoa học pháp lý, Những khía cạnh pháp lý của thương
mại điện tử ; Trần Hoài Nam, Một số vấn đề của thương mại điện tử;
Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội, Giáo trình thương mại điện tử
[2] Ví dụ điều 16 Luật quản lý thuế (2007)
[3] Để tìm hiểu một giả định phức tạp hơn và do đó có những phân tích trên
nhiều khía cạnh hơn có thể xem: Richard L.Doernberg & Luc Hinnenkens, Electronic
commerce and ỉnternatoinal taxation , Kluwer law international, 1999, p107
[4] Thông tư 123/ 2003/TT-BTC có qui định một định nghĩa liệt kê các dạng
khác nhau của khái niệm cơ sở thường trú
[5] Ví dụ như việc trang web vietlaw quy định một biểu phí cho phép người
đăng ký có quyền truy cập, lưu trữ các văn bản pháp luật từ hệ thống cơ sở dữ
liệu của nó trong một khoảng thời gian nhất định, chứ không căn cứ vào lưu
lượng hoặc số lần người mua sử dụng.
[6] Điều 1 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (2005)
[7] Xem Nghị định số 57/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày9/6/2006 quy định về
thương mại điện tử
[8] Richard L.Doernberg & Luc Hinnenkens, Electronic commerce and
ỉnternatoinal taxation , Kluwer law international, 1999, p359-362
SOURCE: TRÍCH TỪ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
HÀ NỘI “HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THUẾ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ” - NGUYỄN
ĐỨC NGỌC