Nên hay không nên quy định thủ tục "hòa giải ở cấp cơ sở" trong giải quyết tranh chấp đất đai?
Nên hay không nên quy định Theo Luật đất đai năm 2003, “hòa giải ở cấp cơ sở” trong giải quyết các tranh chấp đất đai là một trong những điều kiện bắt buộc trước khi các đương sự được khởi kiện tới Tòa án?
1. Những bất cập về mặt pháp luật và vướng mắc trong thực tiễn:
Điều 135 Luật đất đai năm 2003 quy định về hoà giải tranh chấp đất đai như sau:
“1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hoà giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đaithông qua hoà giải ở cơ sở.
2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không
hoà giải được thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi
có đất tranh chấp.
Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách
nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên
của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hoà giải tranh chấp đất đai
Thời hạn hoà giải là ba mươi ngày làm việc, kể từ ngày Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nhận được đơn.
Kết quả hoà giải tranh chấp đất đai phải được lập
thành biên bản có chữ ký của các bên tranh chấp và xác nhận của Uỷ ban
nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất. Trường hợp kết quả hoà giải
khác với hiện trạng sử dụng đất thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn
chuyển kết quả hoà giải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải
quyết theo quy định về quản lý đất đai.”
Tuy nhiên, Điều 136 Luật đất đai quy định “ Tòa án
chỉ giải quyết các tranh chấp đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã
nhưng các đương sự không nhất trí với nhau” . Như vậy, thủ tục hòa giải
cơ sở do Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn tiến hành là điều kiện
bắt buộc trước khi các đương sự được khởi kiện tới Tòa án chứ không
phải là thủ tục mang tính tùy nghi hoặc khuyến khích.
Việc Nhà nước đề cao việc hòa giải trong quá
trình giải quyết các tranh chấp đất đai và coi đó là một trong những
biện pháp cơ bản để giải quyết tranh chấp đất đai nhằm mục đích khuyến
khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở là một chủ trương đúng đắn. Quy định
này là cần thiết nhằm tạo cơ hội để các bên thương lượng giải quyết,
giữ được tình cảm gia đình , bạn bè, làng xóm, tăng tính đoàn kết trong
nhân dân. Tuy nhiên trên thực tế kết quả việc hòa giải tranh chấp đất đai ở cơ sở cho thấy thủ tục này chỉ mang tính hình thức, động viên và
ghi nhận hòa giải không thành để chuyển sang Tòa án giải quyết. Do tranh
chấp đất đai thường rất gay gắt, phức tạp vượt quá khả năng giải quyết
của cán bộ địa phương, mặt khác trong quá trình hòa giải ở cơ sở, các
bên đương sự thường không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ nên Hội
đồng hòa giải cơ sở cũng khó hòa giải thành. Nhiều trường hợp mâu thuẫn
đã có từ lâu và đến khi phải ra đến chính quyền giải quyết là lúc tranh
chấp giữa hai bên đã rất căng thẳng. Mặt khác, ở nhiều địa phương,cán bộ
tham gia hòa giải nhiều khi là họ hàng hoặc quen biết cả hai bên nên có
phần e ngại va chạm, vì thế có tâm lý né tránh, gây thêm khó khăn cho
đương sự trong việc giải quyết tranh chấp. Nhiều nơi cán bộ của Ủy ban
nhân dân cấp xã thực hiện việc hòa giải qua quýt, không đúng thủ tục,
gây mất thời gian. Kết quả là việc hòa giải đó không giải quyết được
tranh chấp mà lại thêm thủ tục phiền hà cho người dân.
Về hiệu quả pháp lý của việc tiến hành hòa giải tại
cơ sở, thực tế còn xảy ra trường hợp Ủy bân nhân dân cấp xã hòa giải
thành nhưng sau đó một hoặc các bên tranh chấp không thực hiện nội dung
hòa giải lại tiếp tục khởi kiện dẫn đến vụ việc tranh chấp kéo dài.
Chính vì vậy quy định bắt buộc các đương sự muốn khởi kiện tại Tòa án
phải qua hòa giải tại địa phương là không cần thiết vì hiệu quả không
cao do không có chế tài mà chỉ dựa trên sự tự nguyện của các bên.
Về thành phần tham gia hòa giải tại cơ sở, theo khoản
2 Điều 135 Luật đất đai: “ Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có
trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành
viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hoà giải tranh chấp đất đai” là quá rộng . Trên thực tế khi Ủy ban nhân dân cấp xã tiến hành hòa
giải, thành phần hòa giải thường không đầy đủ do thiếu cán bộ của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, hoặc cán bộ của các tổ chức thành viên của Mặt
trận, tổ chức hội phụ nữ, tham gia hòa giải. Trong trường hợp này, khi
Tòa án trả lại đơn khởi kiện, có nơi Ủy ban nhân dân cấp xã chấp nhận
tổ chức hòa giải lại, nhưng có nơi Ủy ban nhân dân cấp xã lại từ chối vì
cho rằng tranh chấp đã được hòa giải, dẫn đến tình trạng việc giải
quyết tranh chấp bị kéo dài, gây mất nhiều thời gian, công sức của người
dân và cơ quan Tòa án.
Về thời hiệu khởi kiện, khoản 2, Điều 166 Bộ luật Tố
tụng dân sự quy định“ ngày khởi kiện được tính từ ngày đương sự nộp đơn
tại Tòa án hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi “trong khi Luật đất đai quy
định thời hạn tiến hành hòa giải ở cơ sở là 30 ngày làm việc, kể từ
ngày Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nhận được đơn. Như vậy giai
đoạn Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện hòa giải không được tính vào thời
hiệu khởi kiện. Do vậy, nhiều trường hợp đương sự đợi để được hòa giải ở
địa phương xong, gửi đơn đến Tòa án thì hết thời hiệu khởi kiện theo
quy định của pháp luật, làm thiệt hại đến quyền lợi chính đáng của đương
sự.
2- Một số kiến nghị:
Để khắc phục bất cập về mặt pháp luật và tháo gỡ
vướng mắc trong thực tiễn thi hành các quy định nêu trên, nên chăng chỉ
quy định khuyến khích hòa giải tranh chấp đất đai ở cơ sở trước khi khởi
kiện ra tòa án mà không quy định đó là một thủ tục bắt buộc; hoặc chỉ
nên quy định hòa giải cơ sở đối với các tranh chấp về đất đai trên cơ sở
yêu cầu của đương sự. Trường hợp Ủy ban nhân dân cấp xã không tiến hành
hòa giải, không có điều kiện hòa giải, hoặc một bên đương sự không có
thiện chí nên không có mặt, hay không thể có mặt thì đương sự có quyền
khởi kiện ra Tòa án. Như vậy sẽ tạo điều kiện cho các chủ thể có thể
khởi kiện thẳng đến Tòa án, không phải giải quyết tranh chấp đất đai qua
nhiều cấp, tiết kiệm được thời gian, kịp thời bảo vệ được quyền và lợi
ích hợp pháp của người bị xâm phạm. Mặt khác tại Tòa án cũng có thủ tục
hòa giải. Ngay cả khi cấp cơ sở đã tiến hành hòa giải cho các bên tranh
chấp, khi thụ lý giải quyết tại Tòa án, Tòa án vẫn phải hòa giải, đây là
một thủ tục bắt buộc trong hoạt động tố tụng.
Nếu vẫn quy định việc hòa giải tranh chấp đất đai ở
cơ sở là điều kiện bắt buộc thì nên quy định hiệu lực pháp luật của các
vụ việc tranh chấp đã được hòa giải thành, đồng thời xem xét lại thời
hiệu khởi kiện để không ảnh hưởng đến thời hiệu của người khởi kiện.
Đồng thời để nâng cao chất lượng công tác hòa giải tại cơ sở, cần đầu tư
nghiên cứu ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật
và tăng cường đào tạo, tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ,
công chức quản lý Nhà nước về đất đai, cán bộ địa chính xã, phường, thị
trấn, đội ngũ cán bộ làm công tác hòa giải tranh chấp đất đai của cấp Ủy
ban nhân dân xã, phường, thị trấn và các cán bộ , thẩm phán Tòa án.
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO -ĐĂNG MINH
Trích dẫn từ: http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?p_page_id=1754190&p_cateid=1751909&item_id=5783277&article_details=1