Nguyên nhân thất bại của các công ty kiểm toán Mỹ
Enron, một công ty năng lượng lớn nhất nước Mỹ phá sản kéo theo công ty tư vấn kt hàng đầu thế giới Arthurr Andersen sụp đổ. Đây chỉ là một minh chứng sống động của sự thất bại trong
ngành kiểm toán Mỹ.
Sai lầm của ngành kiểm toán Mỹ chủ
yếu là do nhân viên kiểm toán (CPA) và các DN bị kiểm toán “ăn rơ” cùng nhau.
Các CPA vốn là những người thiếu tính độc lập và ngay chính bản thân họ cũng
không biết giữ tính thận trọng trong khi tác nghiệp và cả sự hoài nghi cần
thiết
Theo nghiên cứu về những cuộc
kiểm toán thất bại tại các công ty được kiểm toán của Mỹ, các nguyên nhân chính
là:
1. Kẽ hở trong hệ thống kế
toán.
Việc biển thủ tiền trong một công
ty của Mỹ không được coi là làm trái các quy định trong hệ thống kế toán; nhưng
việc sửa chữa lại dữ liệu kế toán thì ngược lại, theo các quy định trong hệ
thống kế toán, đó là sự vi phạm nghiêm trọng. Nhưng miễn đó là sự trùng hợp
tình cờ với dữ liệu thực tế thì lại được chấp nhận. Việc lợi dụng khuyết điểm
của hệ thống để khiến cho các nhà đầu tư bị lỗ, hiện tượng này thường bị các
nhân viên CPA bỏ qua trong quá trình kế toán. Trường hợp của Enron Corp là ví
dụ điển hình. Việc thiết lập tiêu chuẩn kế toán có thể được chia làm 2 loại:
dựa trên các luật lệ hoặc dựa trên nguyên tắc. Mỗi phương thức có điểm mạnh là
điểm yếu nhất định.
Điểm nổi trội của tiêu chuẩn kế
toán dựa trên các luật lệ là chỉ cần sử dụng kỹ năng tốt, chứ không cần phải
thực hiện thêm bất kỳ đánh giá chuyên nghiệp nào, và dễ dàng thực hiện. Tuy
nhiên, phương pháp này cũng có những hạn chế nhất định, chẳng hạn như dễ bị
trốn thuế, nhấn mạnh về mặt thủ tục chứ không phải là về mặt bản chất…v..v..
Tiêu chuẩn kế toán dựa trên
nguyên tắc thì không dễ trốn thuế do bị ràng buộc bởi các nguyên tắc
“Quản lý doanh nghiệp” và công tác tổ chức mà DN lập kế hoạch một cách tỉ mỉ.
Tuy nhiên, việc này đòi hỏi nhân viên CPA và kế toán viên cần phải đưa ra nhiều
những đánh giá chuyên nghiệp, khi sử dụng phương thức này. Hệ thống kế toán của
Mỹ được coi là dựa trên các luật lệ, trong khi hệ thống kế toán quốc tế lại
được dựa trên nguyên tắc.
Khi đánh giá về vụ Enron Corp, vị
Chủ tịch tiền nhiệm của SEC, Arthu Levitt đã sắc bén chỉ ra rằng: “Hệ thống Báo
cáo tài chính của Mỹ không cung cấp đủ thông tin về tình trạng tài chính của
các công ty được niêm yết cho các nhà đầu tư, tuy nhiên, dữ liệu này đã được
suy luận ra những con số không đúng ở nhiều lĩnh vực khác nhau.”
Khi trả lời phỏng vấn của phóng
viên của Đài BBC, nhà phân tích tài chính nổi tiếng, Geogre Soros nói: “Hệ
thống kế toán của Mỹ chủ yếu dựa trên các luật lệ về kế toán, nhưng như thế vẫn
chưa đủ bởi vì có thể dẫn đến các hành vi trốn thuế”. Rõ ràng là tiêu chuẩn kế
toán của Mỹ dựa trên các luật lệ khiến các công ty ẩn danh dễ dàng sử dụng để
trốn thuế bằng thủ thuật thương mại. Điều này cũng gây tổn hại cho phía công ty
niêm yết và các đánh giá chuyên nghiệp của nhân viên CPA. Thông thường, các
nhân viên CPA chỉ chú tâm đến chi tiết của các tài chính kế toán, mà không đánh
giá tính hợp lý trong các báo cáo tài chính. Việc này có thể dẫn đến sự thất
bại trong quá trình kiểm toán và do đó gây ra một loạt các vụ biển thủ tài
chính xảy ra.
2. Sai sót về mô hình kiểm
toán
Các mô hìh kiểm toán hiện đại bao
gồm mô hình kiểm toán trên cơ sở hệ thống và mô hình kiểm toán trên cơ sở các
rủi ro. Kiểm toán dựa trên cơ sở hệ thống chủ yếu thiên về hệ thống quản lý nội
bộ: Dựa trên phân tích và đánh giá hệ thống quản lý nội bộ để đạt được mục tiêu
kiểm toán.
Từ những năm 1990, mô hình kiểm
toán của Mỹ đã nhanh chóng thay đổi từ mô hình dựa trên hệ thống thành mô hình
dựa trên rủi ro. Trên thực tế, việc thay đổi mô hình kiểm toán là một bước tiến
quan trọng trong lịch sử ngành kiểm toán. Đó là việc người ta thay đổi cách
thức kiểm toán chứ không phải là thay đổi khái niệm kiểm toán truyền thống,
thường dẫn đến tình trạng lộn xộn về các kiến thức kiểm toán. Có khả năng kiểm
toán sẽ trở thành một nghề nghiệp sinh lời lớn mà mọi đối tượng đổ xô đi tìm
kiếm (bản chất công việc chủ yếu là cân nhắc giữa rủi ro và lợi nhuận đem lại)
so với các nghề nghiệp cao quý khác (có bản chất công việc được đúc kết từ
những đánh giá chuyên nghiệp và trách nhiệm với cộng đồng). Theo mô hình dựa
trên rủi ro thì các công ty kế toán thường tập trung hết sức lực để phân tích
các thương vụ và quản lý rủi ro cho khách hàng, nhưng lại không chú trọng đến
việc tiến hành kiểm tra thực sự để trực tiếp hỗ trợ kết luận kiểm toán. Với hệ
thống bồi thường không hòan hảo và ẩn chứa nguy cơ bồi thường sai thực tế, kiểm
toán dựa trên cơ sở rủi ro có thể khiến các nhân viên CPA không tuân thủ theo
các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp nhắm tiết kiệm chi phí kiểm toán. Trên thực
tế, trong các trường hợp biển thủ tài chính tại các công ty Enron Corp.,
WolrdCom Inc., Rite Aid Corp., Xerox Corp., ta đều thấy rằng cách thức biển thủ
không quá thông minh. Nếu nhân viên CPA tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn kinh
doanh khi tác nghiệp, hoàn tất chi tiết các cuộc kiểm tra trên thực tế thì sẽ
dễ dàng phát hiện ra những vụ tham ô tài chính này và kịp thời ngăn chặn chúng.
3. Kiểm toán viên làm việc
thiếu độc lập, tự chủ trong công việc.
Tính độc lập tự chủ là nhân tố
quan trọng bảo đảm chất lượng kiểm toán, khiến cho xã hội tin tưởng vào các
công ty kiểm toán. Tuy nhiên, tính độc lập của ngành kiểm toán của nước Mỹ lại
đang bị “lợi nhuận” đe dọa nghiêm trọng. Có thể liệt kê các yếu tố gây ảnh
hưởng đến tính độc lập khi tác nghiệp của các CPA:
(1) Thu nhập từ các ngành không
liên quan đến kiểm toán cao hơn rất nhiều so với thu nhập của nhân viên làm
trong ngành kiểm toán. Các ngành không liên quan đến kiểm toán có thể là ngành
dịch vụ đại lý, tư vấn về thuế và tư vấn quản lý. Ở Mỹ, tỷ lệ thu nhập của các
ngành không liên quan đến kiểm toán tăng rất nhanh, trong khi đó tỷ lệ thu nhập
của ngành kiểm toán thì ngược lại, theo thống kê của các công ty Kiểm toán “Big
Five”. Và tất nhiên thu nhập của nhân viên làm việc không thuộc lĩnh vực kiểm
toán cao hơn rất nhiều so với thu nhập của kiểm toán viên. Theo các dữ liệu
thống kê của hơn 50 công ty được niêm yết ở Mỹ từ năm 2001 đến năm 2002,
tỷ lệ giữa thu nhập của các ngành không liên quan đến kiểm toán so với tổng thu
nhập chung là 69% và 62% thậm chí có lúc còn lên đến 92%. Theo Ủy ban Chứng
khoán và Hối đoái Mỹ (ASEC), thu nhập của ngành không liên quan đến kiểm toán
ảnh hưởng đến tính độc lập về mặt tài chính ở 2 mặt.
Thứ nhất, do lượng tiền thu nhập
từ các ngành không liên quan đến chứng khoán lớn có thể dẫn đến việc các công
ty kiểm toán phụ thuộc vào khách hàng về lĩnh vực tài chính, do đó có thể khiến
cho các kiểm toán viên từ bỏ nguyên tắc nghề nghiệp khi phát sinh mâu thuẫn
giữa phía kiểm toán viên và khách hàng.
Thứ hai, là nhà tư vấn quản lý
làm việc trong lĩnh vực giao dịch không liên quan gì đến kiểm toán bị buộc phải
làm việc trong lĩnh vực quản lý công ty, điều này khiến cho kiểm toán viên làm
việc trong phạm vi quản lý công ty cảm thấy thật khó khăn để đánh giá cũng như
đưa ra các phán xét liên quan đến các giao dịch và công việc kinh doanh một
cách khách quan.
Năm 2001, WorldCom Inc. đã trả
cho công ty kiểm toán Arthur Andersen chi phí dịch vụ lên đến khoảng 16,8 triệu
đôla Mỹ trong đó chi phí cho kiểm toán là 4,4 triệu đôla, dịch vụ tư vấn thuế
là 7,6 triệu đôla, chi phí cho việc kiểm toán các bản báo cáo tài chính là 1,6
triệu đôla và các dịch vụ tư vấn khác là 3,2 triệu đôla. Enron Corp. trả Arthur
Andersen chi phí kiểm toán 25 triệu, chi phí tư vấn và các phí dịch vụ khác lên
đến 27 triệu đôla, và tổng số là 52 triệu đôla. Như thế có nghĩa là công ty
Enron Corp. đã trả Arthur Andersen khoảng 1 triệu đôla/tuần. Chủ tịch tiền
nhiệm của SEC Arthur Levitt đã lên tiếng phê bình công ty Arthur Andersen thiếu
tính độc lập, tự chủ khi làm việc. Ông cho rằng một trong những nguyên nhân
chính là các công ty kiểm toán lại cung cấp cả dịch vụ tư vấn quản lý.
4. Thiếu tính thận trọng.
Khi tiến hành các thủ tục kiểm
toán, CPA thường bộc lộ nhược điểm của họ là thiếu tính thận trọng và tính hoài
nghi nghiệp vụ cần thiết, và do đó thường tin vào lời giải thích của các vị
lãnh đạo quản lý công ty. Trong báo cáo kiểm toán từ năm 1991 đến 2001 do công
ty kiểm toán Arthur Andersen cung cấp, ASEC và tòa án đã chỉ ra rằng công ty
Arthur Andersen đã coi WorldCom Inc. là khách hàng có mức rủi ro cao nhất. Mặc
dù Arthur Andersen cũng đa nhận ra rằng có nguy cơ rủi ro rất cao trong báo cáo
tài chính kế toán tại WorldCom Inc.
Bảng 1: Đánh giá mức độ rủi
ro của WorldCom Inc.
|
Nội dung đánh giá rủi ro
|
Mức độ rủi ro
|
|
Rủi ro trong báo cáo tài
chính kế toán
|
Cao
|
|
Thẩm quyền phân bổ nhiệm vụ
giữa ban giám đốc và nhân viên làm thuê
|
Trung bình
|
|
Thái độ về việc che giấu
thông tin khi kiểm toán
|
Trung bình
|
|
Sự liên hệ giữa thông tin
với nhân sự
|
Trung bình
|
|
Mối quan tâm của cơ quan
chức năng với việc biển thủ và cuộc điều tra
|
Trung bình
|
|
Khả năng thực hiện báo cáo
tài chính
|
Trung bình
|
|
Doanh thu trên thực tế và
mục tiêu lợi nhuận
|
Cáo
|
|
Thực hành nghiệp vụ kế toán
và vạch trần việc che giấu thông tin
|
Trung bình
|
|
Xây dựng hệ thống quản lý
nội bộ thỏa mãn các yêu cầu đặt ra
|
Trung bình
|
|
Mức độ phản ứng lại các đề
xuất báo cáo và kế toán
|
Trung bình
|
Tuy nhiên, Arthur Andersen đẫ
không có đủ sự thận trọng tối ưu và thái độ hoài nghi cần thiết.
5. Trình độ kiểm toán không
cao
Kiểm toán là một quá trình đòi
hỏi sự đánh giá chuyên nghiệp. Sự đánh giá chuyên nghiệp phụ thuộc vào kinh
nghiệm làm việc phong phú. Nếu kiểm toán được coi là một dây chuyền sản xuất,
thì sẽ được chia ra rất nhiều công đoạn. Những kiểm toán viên mới được đào tạo
hạn chế và thiếu kinh nghiệm làm việc sẽ kiểm toán những báo cáo tài chính của
công ty đã được niêm yết. Nếu việc kiểm soát chất lượng kiểm toán không hiệu
quả thì kết quả kiểm toán chất lượng sẽ không cao. Để ngăn ngừa những rủi ro,
các công ty kế toán thường xếp các kiểm toán viên chất lượng cao vào các DN
kinh doanh không được cấp giấy phép trong khi những kiểm toán viên chất lượng
thấp kiểm toán các báo cáo tài chính. Nhưng tại sao lỗi lại xảy ra với các kiểm
toán viên ở công ty Arthur Andersen? Lời giải thích là Arthur Andersen (AA) có
thể đã cử các kiểm toán viên không có kinh nghiệm kiểm toán hoặc cả tin vào kết
quả báo cáo và kiểm toán của các công ty, trong khi những kiểm toán viên giỏi
không trực tiếp dính vao quá trình kiểm toán. Sau vụ tập đoàn Enron sụp đổ,
tổng biên tập của tạp chí tài chính Bowman Accounting report đã nghiên cứu quá
trình kiện cáp liên quan đến CPA và chỉ ra rằng tổng doanh thu của công ty kiểm
toán Arthur Andersen có được từ dịch vụ tư vấn.
Các kiểm toán viên giàu kinh
nghiệm và thu nhập cao mải mê mở rộng dịch vụ tư vấn trong khi những người trẻ
ít kinh nghiệm và thu nhập thấp thì chủ yếu làm kiểm toán. Điều này giải thích
một hiện tượng: một công ty lớn luân chuyển hàng từ nhà kho này sang nhà kho
khác, các CPA trẻ thường kiểm kê cùng một loại hàng hóa nhưng lại ở hai địa
điểm khác nhau mà không hề biết. Ví dụ này cho thấy những thất bại trong kiểm
toán thường bắt nguồn từ các kiểm toán viên thiếu kinh nghiệm.
6. Rắc rối trong hình mẫu
kiểm soát.
Sự kiểm soát nghề CPA bao gồm 3
hình mẫu: tự kiểm soát, chính phủ kiểm soát và kiểm soát độc lập. Các hình mẫu
khác nhau thì có ảnh hưởng khác nhau. Sự độc lập của hình thức tự kiểm soát là
thấp nhất, ngược với kiểm soát độc lập. Sau khi được thành lập, AICP hoạt động
chức năng kép, không chỉ bảo vệ quyền hợp pháp của CPA và còn kiểm soát hành
động của CPA. CPA của Mỹ thuộc hình thức tự kiểm soát. Nhưng thất bại của công
ty kiểm toán Arthur Andersen khiến công chúng phải kiểm tra lại hệ thống kiểm
soát nghề CPA của Mỹ. Hình thức tự kiểm soát đóng vai trò quan trọng trong việc
cải thiện nghề CPA của Mỹ. Tuy nhiên, trong quá trình tự kiểm soát, khi lợi ích
nghề nghiệp và các lợi ích khác không được xác định, CPA có thể bảo vệ được lợi
ích nghề nghiệp nhưng lại xung đột với các quan hệ lợi ích khác, bao gồm hệ
thống kiểm tra chéo chuyên nghiệp trong nghề CPA.
7. Mục tiêu của hệ thống
khuyến khích.
Hệ thống khuyến khích của các
công ty kế toán sẽ thưởng cho các kiểm toán viên thu được nhiều phí trả cho
việc kiểm toán, khiến các kiểm toán viên chủ yếu tập trung vào chi phí kiểm
toán mà không chú ý đến chất lượng kiểm toán.
Trong số những scandals về kế
toán gần đây ở Mỹ, những trường hợp liên quan tới công ty kiểm toán DTT rất ít.
Điều này minh chứng hệ thống khuyến khích của DTT hoạt động hiệu quả. Cách
thiết kế hệ thống thưởng tránh xung đột lợi ích càng nhiều càng tốt. Sự hoàn
thành của các kiểm toán viên không dựa vào số chi phí mà họ thu về. Các kiểm
toán viên cũng không được thưởng cho việc mở rộng các hoạt động tư vấn. Lợi
nhuận tư vấn của DTT tách biệt khỏi hệ thống kiểm toán. Nhà lãnh đạo của DTT
khuyến khích các kiểm toán viên bỏ các hợp đồng kế toán đáng nghi ngờ. Ông nói:
“Nếu một kiểm toán viên quyết định không làm cho một khách hàng nữa, bởi khách
hàng này muốn làm những gì chúng tôi không muốn dính líu, anh ta phải được khen
thưởng chứ không phải bị mắng”. Rõ ràng là hệ thống khuyến khích và cách quản
lý không cần phải tuân theo yêu cầu vô lý của khách hàng đóng vai trò quan
trọng giúp CPA nói “Không” với những người biển thủ.
Một số biện pháp giải quyết
1. Lựa chọn và thiết lập hệ
thống các quy tắc kế toán chính xác.
Gần đây, quá trình cải cách hệ
thống kiểm toán đã được triển khai sâu rộng và hiệu quả, các quy tắc kiểm toán
đã được thiết lập và ban hành như hệ thống kế toán liên kết và tiêu chuẩn kiểm
toán cụ thể. Những cải cách gắn liền với sự khác biệt của kế toán trong nước và
kế toán nước ngoài.
2. Xây dựng hiệu quả hệ
thống khuyến khích.
Với sự cạnh tranh gay gắt trên
thị trường, các công ty kế toán phải được thiết lập nhiều hơn nữa. Hệ thống
khuyến khích, khoản thu từ chi phí kiểm toán và chất lượng kiểm toán có quan hệ
mật thiết. Hệ thống khuyến khích giúp ngăn chặn không chỉ những hoạt động bất
hợp pháp mà còn ngăn chiến lược kiểm toán đánh giá thấp rủi ro. Hệ thống khuyến
khích CPA không liên quan gì đến việc mở rộng thêm được các mối kiểm toán. Một
trong số này là quy tắc thu tiền chuẩn của công ty kế toán. Quy tắc thu tiền
ảnh hưởng bởi quy mô khách hàng, điều kiện tài chính và mức độ kiểm soát bên
trong, nguồn cung và cầu của các công ty kế toán, những thiệt hại thấy trước.
Việc thu phí kiểm toán dựa vào rất nhiều yếu tố không chỉ ở quy mô công ty.
Những yếu tố khác thiết lập hiệu quả hệ thống khuyến khích, khích lệ CPA một
cách hiệu quả.
3. Đảm bảo sự độc lập của
kiểm toán
Sự độc lập là vấn đề cốt lõi của
kiểm toán, cũng là nguồn gốc của sự phát triển nghề CPA. Một trong những lý do
chính của sự thất bại trong kiểm toán là sự thiếu độc lập trong quá trình kiểm
toán.
4. Tăng cường giám sát các
công ty kế toán.
Nếu việc quản lý công ty và kiểm
toán bên trong mỗi công ty là yếu tố đầu tiền đảm bảo thông tin trung thực và
tin cậy của kế toán, kiểm toán độc lập là khâu cuối cùng để bảo vệ chống lại
các lỗi kế toán và biển thủ. Nếu khâu cuối cùng sai lệch, các thông tin kế toán
sẽ bị bóp méo, thị trường chứng khoán sẽ hỗn loạn và toàn bộ nền kinh tế cũng
bị tác động. Do đó, công tác giám sát kiểm toán phải được tăng cường.
Chủ tịch tiền nhiệm của SEC
Arthur Levitt viết: “Ai kiểm toán những kiểm toán viên?” đã phân tích sự quan
trọng của giám sát chuyên nghiệp. Đầu tiên là thực hiện hệ thống kiểm toán luân
phiên định kỳ. Thứ hai là tăng cường khả năng giám sát chuyện nghiệp của CPA/
Thứ ba là kiểm toán lại kết quả kiểm toán của CPA. Thứ tư là mở rộng trừng phạt
những hành vi vi phạm của CPA.
5. Tăng cường đào tạo cho
CPA
Tăng cường kiến thức cho CPA sẽ
cải thiện trình độ và khả năng kinh doanh. CPA phải thành thạo các kỹ năng kế
toán, các thủ thuật kiểm toán và tránh những lỗi trong kiểm toán và giảm sai
sót trong kiểm toán.
(Tạp chí Nghiên cứu KHKT)