Nhà ở và “bàn tay nhà nước”
“Nhà ở xã hội” trở thành tin trang nhất trên các báo ra ngày 15.3.2009. Chương trình được nói là sẽ cung cấp nhà ở cho sinh viên, công nhân và những người có thu nhập thấp. Trước khi một chính sách lớn như vậy có thể “đi vào cuộc sống”, chắc chắn các dữ liệu còn được thu thập và các nhà hoạch định chính sách sẽ phải phân tích nhiều hơn. Bởi, đây là một quyết định không chỉ sử dụng rất nhiều tiền bạc, sẽ tác động xã hội lâu dài mà còn có ý nghĩa “kích cầu” trước mắt
Dự án 200.000 căn hộ thuộc chương trình nhà ở xã hội, nếu được thực hiện,
chắc chắn, sẽ có tác động tới thị trường. Ít nhất là ở khía cạnh tiêu thụ một
khối lượng sắt, thép, xi măng khổng lồ và thu hút hàng trăm nghìn công nhân xây
dựng. Những doanh nghiệp được “chỉ định” thực hiện dự án cũng sẽ là những địa
chỉ được hưởng lợi lớn vì họ được quyền quyết định giá bán các căn hộ sao cho
đảm bảo cho mình “10% lợi nhuận”. Vấn đề là chưa biết Nhà nước sẽ lấy “đất
sạch” từ đâu để giao cho các doanh nghiệp này xây dựng.
Tuy nhiên, “sản phẩm” mới là câu chuyện rất cần được bàn. Cho dù: được miễn
tiền sử dụng đất; được phép tăng mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất 1,5 lần;
được áp dụng thuế suất VAT là 0%… Giá thành, theo ước tính của bộ Xây dựng,
“không quá” 7 triệu đồng/m2, khiến cho giá một căn hộ loại nhỏ nhất, 30m2, cũng
lên tới hơn 200 triệu đồng. Trong khi, đối tượng mà chương trình này nhắm đến
là “3 triệu sinh viên đại học; 2,5 triệu lao động ở 194 KCN” mà theo bộ Xây
dựng, mới “chỉ có khoảng 20% có nhà ở với 2% được ở trong các nhà trọ đàng
hoàng…”. Liệu công nhân KCN, có thể mua nhà 200 triệu đồng hay bỏ ra một khoản tiền,
nếu tính đủ phải hơn hai triệu đồng/tháng, để thuê nhà xã hội?
Một trong những điều kiện thắng lợi của chính sách kích cầu là phải biết rõ
đường đi của từng đồng bạc và tốt nhất là đồng tiền ấy được đưa thẳng tới người
tiêu dùng. Nhà ở cho công nhân trong các nhà máy, trong các KCN lẽ ra phải được
quan tâm từ lâu và nó, vừa phải nhất quán vừa phải được thể hiện đồng thời
trong nhiều chính sách. Không chỉ có người lao động, các “ông chủ” của họ cũng
có quyền lợi và sẽ tích cực xây nhà ở cho công nhân nếu: những khoản đầu tư này
được khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp; được tài trợ lãi suất từ các
quỹ tín dụng đầu tư… Không thể nghĩ về căn hộ cho công nhân KCN một cách quan
liêu. Công nhân đang phải sống khoảng 10 người trong một căn phòng rất nhỏ.
Với khu vực viên chức, giáo viên, lực lượng vũ trang… nên tính vào lương một
cách rõ ràng phần nhà. Họ không phải là “đối tượng” để Nhà nước “chăm lo” bằng
các loại “nhà xã hội”. Lương tối thiểu hiện nay tuy mới được “nâng lên” cũng
chỉ đạt… 540.000đ/tháng, trong đó, “cơ cấu tiền nhà” là 40.550đ. Một sinh viên
đại học mới ra trường, được hưởng hệ số lương là 2.0, “tiền nhà” có ở trong
lương chỉ là 81.100đ. Không có loại “nhà ở xã hội” nào có thể cho thuê với mức
tiền ấy. Không thể cơ cấu “tiền nhà” cho những người hưởng lương mà khoản tiền
ấy không thể thuê được ngay cả nhà cho những người nghèo nhất trong xã hội.
Trong những thập niên trước, chính sách nhà ở bao cấp đã bù đắp cho chế độ
tiền lương bất hợp lý. Tuy nhiên, không phải người hưởng lương nào cũng được
cấp nhà, do đó, trong khi phần lớn công chức không thể dùng lương để trang trải
tiền nhà thì một phần lớn khác được lợi hàng trăm, hàng nghìn lượng vàng do
chênh lệch thị trường của “nhà hoá giá”. Bài học mà đến bây giờ chưa giải quyết
xong ấy rất cần được xem lại khi định tiếp tục bao cấp để đưa ra những căn nhà
giá thấp so với thị trường rồi sử dụng các biện pháp hành chính như là cấm mua
bán hay sang nhượng… Trong thập niên 90, những chính sách ấy đã từng được áp
dụng với “nhà hoá giá” để rồi phải bãi bỏ vì không phù hợp với thị trường và
trái với tinh thần của bộ luật Dân sự.
Nhà nước tham gia thị trường nhà ở bằng cách “tăng cầu” và lấp đầy những thị
phần mà tư nhân không muốn đầu tư là cần thiết. Theo bộ Xây dựng, mỗi năm diện
tích nhà ở tăng lên khoảng 30 triệu m2; năm 2008, diện tích nhà ở tăng lên gần
50 triệu m2, nhưng không có loại nhà ở cho người thu nhập thấp. Trong khi, Phú
Mỹ Hưng đầu tư những căn hộ rộng hơn 100m2, bán với giá 30 – 50 triệu đồng/m2.
Nhà nước có thể cung ứng những căn hộ 30 hoặc 50m2: những căn hộ cho người độc
thân, cặp vợ chồng mới cưới (studio); những căn hộ chỉ có một hoặc hai phòng
ngủ…
Những chương trình lớn cũng đòi hỏi phải tính đến tác động về sau, không để
mục tiêu trước mắt là hạ giá thành, để tăng mật độ xây dựng rồi tạo ra những
“khu ổ chuột cao tầng” cho thế hệ sau gánh chịu. Ngay từ thập niên 70, 80, khi
kinh tế còn khó khăn, Singapore phải xây những căn hộ nhỏ, và họ đã thiết kế
toà nhà để sao cho khi kinh tế khá hơn, hai hoặc ba căn hộ cũ có thể “trổ
tường” tạo ra một căn hộ mới có diện tích phù hợp với hoàn cảnh của từng gia
đình và sự đi lên của đất nước.
Sự hồi phục của thị trường nhà đất là một tín hiệu vô cùng quan trọng. Ngày
23.6.2008, khi tiếp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Washington, D.C, cựu chủ tịch quỹ Dự trữ
liên bang Mỹ, ông Alan Greenspan cho rằng kinh tế chỉ phục hồi khi chiều hướng
suy giảm giá trị nhà đất bị chặn lại. Ông Greenspan khi ấy nói về kinh tế Mỹ
nhưng phân tích của ông về mối liên quan giữa thị trường địa ốc và kinh tế nói
chung cũng có giá trị cho cả nền kinh tế Việt Nam. Thị trường địa ốc muốn đi lên
thì phải được tác động cả cầu lẫn cung. Cung ứng nhà giá rẻ, nhằm bổ sung một
“phân khúc” mà tư nhân thường bỏ qua là điều mà Nhà nước nên ra tay. Nhưng,
thay vì dùng các mệnh lệnh hành chánh để đưa giá xuống một cách bất thường, nên
tạo cầu tự nhiên bằng cách cải cách tiền lương, hoặc có chính sách tín dụng hợp
lý để các đối tượng mà chính sách này nhắm tới có thể tiếp cận được nhà “chính
sách”.
Bàn tay của Nhà nước cũng cần được dùng trong những tình huống mà thị trường
cần. Nhưng nếu bàn tay ấy vẫn để lại dấu vết ngay cả khi thị trường đã trở lại
bình thường rồi thì hậu quả mới xuất hiện cũng sẽ vô cùng nghiêm trọng.
SOURCE: SÀI GÒN TIẾP THỊ - HUY ĐỨC
Trích dẫn từ: http://www.sgtt.com.vn/detail23.aspx?newsid=48308&fld=HTMG/2009/0315/48308