Nhận dạng hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005
Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh: Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ;Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ...
Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ bao gồm:
1. Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm
lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc
thương mại của hàng hoá, dịch vụ
Theo quy định tại Điều 211 Luật Sở hữu trí tuệ và
Điều 16 Nghị định 106/2006/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về
sở hữu công nghiệp, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan
đến quyền sở hữu trí tuệ sẽ được điều chỉnh theo pháp luật cạnh tranh.
Bên cạnh đó, tổ chức, cá nhân bị thiệt hại
hoặc có khả năng bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành
mạnh có quyền yêu cầu Toà án có thẩm quyền áp dụng các biện
pháp dân sự quy định tại Điều 202 của Luật Sở hữu trí tuệ, bao gồm
:
- Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;
- Buộc xin lỗi, cải chính công khai;
- Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;
- Buộc bồi thường thiệt hại;
- Buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa
vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá,
nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để
sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác
quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.
2. Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm
lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số
lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều
kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ.
Theo quy định tại Điều 211 Luật Sở hữu trí tuệ
và Điều 16 Nghị định 106/2006/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính
về sở hữu công nghiệp, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan
đến quyền sở hữu trí tuệ sẽ được điều chỉnh theo pháp luật cạnh tranh.
Bên cạnh đó, tổ chức, cá nhân bị thiệt hại
hoặc có khả năng bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành
mạnh có quyền yêu cầu Toà án có thẩm quyền áp dụng các biện
pháp dân sự quy định tại Điều 202 của Luật Sở hữu trí tuệ, bao gồm
:
- Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;
- Buộc xin lỗi, cải chính công khai;
- Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;
- Buộc bồi thường thiệt hại;
- Buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa
vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá,
nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để
sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác
quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.
3. Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại
một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm
người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử
dụng nhãn hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
cũng là thành viên, nếu người sử dụng là người đại diện
hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó
không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có
lý do chính đáng
Theo quy định tại Điều 211 Luật Sở hữu trí tuệ và
Điều 16 Nghị định 106/2006/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về
sở hữu công nghiệp, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan
đến quyền sở hữu trí tuệ sẽ được điều chỉnh theo pháp luật cạnh tranh.
Bên cạnh đó, tổ chức, cá nhân bị thiệt hại
hoặc có khả năng bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành
mạnh có quyền yêu cầu Toà án có thẩm quyền áp dụng các biện
pháp dân sự quy định tại Điều 202 của Luật Sở hữu trí tuệ, bao gồm :
- Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;
- Buộc xin lỗi, cải chính công khai;
- Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;
- Buộc bồi thường thiệt hại;
- Buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa
vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá,
nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để
sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác
quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.
4. Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng
hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với
nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc
chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục
đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy
tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý
tương ứng.
Theo quy định tại Điều 211 Luật Sở hữu trí tuệ và
Điều 16 Nghị định 106/2006/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về
sở hữu công nghiệp, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan
đến quyền sở hữu trí tuệ sẽ được điều chỉnh theo pháp luật cạnh tranh.
Bên cạnh đó, tổ chức, cá nhân bị thiệt hại
hoặc có khả năng bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành
mạnh có quyền yêu cầu Toà án có thẩm quyền áp dụng các biện
pháp dân sự quy định tại Điều 202 của Luật Sở hữu trí tuệ, bao gồm
:
- Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;
- Buộc xin lỗi, cải chính công khai;
- Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;
- Buộc bồi thường thiệt hại;
- Buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa
vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá,
nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để
sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác
quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH, BỘ CÔNG THƯƠNG - THANH MAI (Tổng hợp)