Nợ và vấn đề phá sản của doanh nghiệp Việt Nam
Một cấu trúc vốn thâm dụng nợ có thể là một cấu trúc vốn hướng tới mục tiêu tối đa hoá giá trị DN nhưng cũng ẩn chứa rất nhiều rủi ro. Một khi sử dụng nợ không dựa trên những phân tích phù hợp với chu kỳ sống, đặc điểm công ty….
Cộng với
đầu tư vào những dự án kém hiệu quả thì có khả năng DN bị phá sản. Một DN khi
đã có đầy đủ dấu hiệu của phá sản thiết nghĩ cũng nên nhanh chóng xử lý theo
luật, nhằm hạn chế những tổn thất rủi ro cho các nhà đầu tư vào DN, hạn chế
những tác đông xấu mang tính phản ứng dây chuyền lên toàn bộ nền kinh tế
1. Nợ, cấu trúc vốn và vấn đề phá sản của DN
Trên thực tế sử dụng nợ không những đáp ứng cho nhu cầu hoạt động kinh doanh
của DN mà đối với quản trị tài chính DN thì đây còn là một vấn đề mang tính
“nghệ thuật” trong việc họach định cấu trúc vốn nhằm đạt tới mục tiêu tối đa
hoá giá trị DN với những phân tích để hưởng lợi ích từ tấm chắn thuế . Theo lý
thuyết về cấu trúc vốn của MM, một DN nên gia tăng nợ cho đến khi giá trị từ hiện
giá của tấm chắn thuế vừa đủ để dược bù trừ bằng gia tăng trong hiện giá của
các chi phí kiệt quệ tài chính. Đôi khi kiệt quệ tài chính có thể đưa đến tình
trạng phá sản, nhưng đôi khi nó chỉ có nghĩa là công ty đang gặp khó khăn, rắc
rối về tài chính tạm thời. Ở các mức nợ trung bình, xác suất kiệt quệ tài chính
không đáng kể, và chi phí kiệt quệ tài chính khá nhỏ làm cho lợi thế của tấm
chắn thuế trở nên vượt trội. Nhưng tại một thời điểm nào đó, kiệt quệ tài chính
sẽ tăng nhanh với việc doanh nghiệp vay nợ thêm; chi phí kiệt quệ tài chính
cũng lớn lên nhanh chóng, làm cho lợi ích thu được từ tấm chắn thuế của vay nợ
giảm đi và cuối cùng biến mất. Khi một DN sử dụng nợ cũng đồng nghĩa với những
rủi ro về tài chính. Một DN có tỷ lệ nợ cao đôi khi rơi vào tình trạng “thiếu
tự tin”, thận trọng quá mức khi thực hiện quyết định đầu tư, dễ bỏ qua những cơ
hội đầu tư tốt, đi ngược lại tiêu chí tối đa hoá giá trị DN. Một vấn đề khác
của DN khi sử dụng cấu trúc vốn thâm dụng nợ đó chính là tình trạng đầu tư kém
hiệu quả, đầu tư không vì mục tiêu tối đa hoá giá trị DN, hậu quả tất yếu là DN
sẽ nhanh chóng rơi vào tình trạng khó khăn trong thực hiện các nghĩa vụ nợ.
Tại VN quản trị tài chính trong các DN có những lúc bị xem nhẹ. Việc lựa
chọn nguồn vốn đáp ứng cho nhu cầu hoạt động kinh doanh đôi khi được hình thành
một cách tự phát, không dựa trên những nguyên lý cơ bản của một chiến lược quản
trị tài chính hiện đại, kết hợp với tình trạng đầu tư tràn lan kém hiệu quả và
không đúng sở trường và chức năng hoạt động như: chứng khoán, địa ốc trong bối
cảnh biến động khó lường của những thị trường này thì tình trạng thua lỗ
khó có thể tránh khỏi. Từ thực tế đó tình hình nợ và nợ xấu tại các DN đã và
đang phát sinh khó có thể kiểm soát
Theo số liệu điều tra tại 108 Tổng công ty 90, 91 của Công ty tư vấn Mekong,
số nợ phải thu tồn đọng tính đến hết năm 2006 là 2.272 tỉ đồng, chiếm 4,7% tổng
số nợ phải thu. Nợ phải trả tồn đọng là 21.904 tỉ đồng, chiếm 13,7% tổng nợ
phải trả. Riêng trong hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước, nợ quá hạn (nợ
xấu) lên tới 10.046 tỉ đồng. Nếu tính cả ngân hàng chính sách xã hội và ngân
hàng phát triển, tổng số nợ xấu lên đến 13.659 tỉ đồng. Còn theo số liệu ước
tính của các tổ chức tài chính quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, Ngân hàng
Thế giới WB, nợ xấu của các DN VN vào khoảng 6,2 tỉ USD, tức là chiếm hơn 13%
GDP cả nước.
Cho đến cuối năm 2006, theo Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển DN, các DNNN
mới xử lý giãn nợ, khoanh nợ, xoá nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà
nước với tổng số tiền là 314,91 tỉ đồng; xử lý nợ đọng hơn 19 nghìn tỉ đồng,
chủ yếu bằng biện pháp thu hồi nợ, bán tài sản đảm bảo, sử dụng dự phòng rủi ro
của ngân hàng. Trong số DN đã CPH, có khoảng 2.000 DN có nợ và tài sản loại trừ
không tính vào giá trị DN.
Theo Cục Tài chính DN (Bộ Tài chính) thì số nợ phải trả của DNNN thường gấp
1,2 -1,5 lần vốn nhà nước tại DN, thậm chí có nhiều DN nợ gấp vài lần đến hàng
chục lần vốn chủ sở hữu. Số nợ phải thu cũng chiếm từ 50-60% vốn chủ sở hữu,
đặc biệt nợ khó đòi chiếm đến 15-20% lợi nhuận hàng năm, nhưng lại không được
ghi đầy đủ trong sổ sách kế toán DN. Đến thời điểm này, việc xử lý các khoản nợ
tồn đọng của khối DNNN mà Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước đưa ra biện pháp vẫn
chủ yếu là giãn nợ, khoanh nợ.
Riêng các DNNN hiện nay, thực trạng nợ quá hạn với các ngân hàng thương mại
theo các nhóm chủ yếu sau đây:
· Các TCT xây dựng công trình giao
thông thuộc Bộ Giao thông Vận tải, đây là nhóm DN có số nợ quá hạn lớn nhất,
kéo dài nhất và nan giải đối với các ngân hàng thương mại. Số nợ vốn vay này
tập trung chủ yếu ở các ngân hàng thương mại nhà nước, như: Ngân hàng Công
thương VN, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển VN… Số nợ của các TCT này ước tính
hiện nay lên tới trên 12.300 tỷ đồng, chủ yếu là nợ xấu, đã được các ngân hàng thương
mại xử lý dự phòng rủi ro đưa ra theo dõi ngoài bảng.
· Một số TCT xây dựng cũng có số
nợ xấu khá lớn, thuộc một số bộ, ngành và địa phương khác nhau. Số nợ xấu của
khối DN này ước tính cũng lên tới trên 2.000 tỷ đồng.
· Các DN xuất nhập khẩu, thương
mại, dịch vụ, công trình giao thông, xây dựng, chế biến nông sản, may mặc, cung
ứng vật tư nông nghiệp, in ấn và bao bì, mía đường,… thuộc địa phương. nợ xấu
của khối DN này ước tính cũng lên tới 2.500–3.000 tỷ đồng.
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên tại các DN đặc biệt là DNNN
như: Tính kém minh bạch trong công bố thông tin, năng lực yếu kém , sự thiếu
trách nhiệm … dẫn tới tình trạng các nhà quản lý DN đã đưa ra các quyết định
đầu tư kém hiệu quả và kết quả là tình trạng nợ chồng lên nợ như đã trình bày ở
trên. Theo chúng tôi cần phải đánh giá tình trạng nợ tại các DN một cách
toàn diện, chặt chẽ và nghiêm túc để có thể kiểm soát thời điểm DN bắt đầu rơi
vào tình trạng khó khăn trong việc thực hiện các nghĩa vụ nợ hay nói một
cách khác là khi DN rơi vào tình trạng khánh kiệt tài chính để DN có biện
pháp tái cấu trúc đưa DN thoát khỏit tình trạng khánh kiệt tài chính, tránh
được khả năng phá sản có thể xảy ra. Ngược lại nếu không thể vượt qua
tình trạng này nên mạnh dạn áp dụng biện pháp phá sản nhằm hạn chế những tổn
thất rủi ro cho các nhà đầu tư vào DN, hạn chế những tác động xấu mang tính
phản ứng dây chuyền lên toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt là trong giai đoạn nhạy
cảm của nền kinh tế hiện nay.
Bất kỳ DN nào khi sử dụng nợ cũng có thể lâm vào tình trạng phá sản nếu DN
không sớm nhận ra và không có biện pháp tái cấu trúc tài chính kịp thời; mặt
khác tại VN suy nghĩ và chấp nhận phá sản chưa phải là vấn đề luôn được các nhà
quản trị DN dễ dàng chấp nhận. Pháp luật phá sản là bộ phận cấu thành không thể
thiếu của pháp luật kinh doanh để giải quyết mối quan hệ nợ nần trong hoàn cảnh
đặc biệt: khi DN lâm vào tình trạng khánh kiệt tài chính không thể phục hồi.
Thủ tục phá sản thường chỉ được biết đến như một thủ tục đòi nợ tập thể, trong
đó vấn đề trọng tâm là bảo vệ và đảm bảo công bằng cho các chủ nợ. Quyền lợi
của DN bị phá sản chỉ là vấn đề được cân nhắc phụ thuộc vào tâm điểm đó, thậm
chí pháp luật phá sản còn trừng phạt đối với chủ thể này. Tuy nhiên, cùng với
sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các nhà lập pháp cũng nhận thức rằng
kinh doanh là hoạt động chứa đựng tính rủi ro nên các con nợ cần được đối xử
khoan dung hơn. Mặt khác, tuy lợi ích của chủ nợ và DN phá sản có vẻ đối lập
nhưng chúng lại có mối quan hệ mang tính tương hỗ. Vì thế, pháp luật phá sản
hiện đại không chỉ đặt mục tiêu bảo vệ quyền lợi cho các chủ nợ mà đồng thời
cũng bảo vệ quyền lợi của các DN lâm vào tình trạng phá sản. Thủ tục phá sản
còn được xem là một cơ hội để các DN mắc nợ có thể được phục hồi. Luật phá sản
2004 ra đời được đánh giá như là một cố gắng của các nhà lập pháp VN trong việc
nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật đối với tình trạng phá sản DN bằng
việc khắc phục những hạn chế bất cập của Luật phá sản DN 1993, bổ sung những
nội dung mới trên cơ sở tổng kết thực tiễn 9 năm áp dụng Luật phá sản DN 1993,
tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, thể chế hóa chính sách của Đảng và Nhà nước
trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
2. Kiến nghị đối với Luật phá sản 2004
Để Luật thực sự đi vào cuộc sống cần khắc phục những vấn đề
sau:
Thứ nhất, khái niệm phá sản vẫn chưa triệt để. Điều 3 Luật phá sản 2004
không quy định rõ số nợ và thời gian quá hạn không thực hiện nghĩa vụ thanh
toán của con nợ. Vì vậy về hình thức, con nợ chỉ cần mắc nợ số tiền là 1.000
đồng và quá hạn thanh toán 1 ngày sau khi chủ nợ có đơn yêu cầu đòi nợ cũng có
thể bị xem là lâm vào tình trạng phá sản. Điều này có thể dẫn đến sự lạm dụng
quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản từ phía các chủ nợ. Kinh nghiệm một số
nước khi xây dựng khái niệm phá sản theo trường phái định lượng thì thường có
quy định về số nợ cụ thể, về thời hạn trễ thanh toán nợ từ phía con nợ sau khi
chủ nợ có yêu cầu đòi nợ. Ví dụ theo Luật công ty của Úc chủ nợ có thể yêu cầu
tòa án ra quyết định bắt đầu thủ tục thanh toán tài sản của một công ty vì lý
do vỡ nợ nếu công ty đó có một khoản nợ đến hạn ít nhất là 2.000 đô la Úc và
công ty không chứng minh được khả năng trả khoản nợ đến hạn đó.
Thứ hai, về các loại chủ nợ, Luật chỉ phân biệt chủ nợ có đảm bảo, chủ nợ
không đảm bảo, chủ nợ có đảm bảo một phần (điều 6). Các chủ nợ khác nhau thì có
địa vị pháp lý khác nhau trong thủ tục phá sản. Chủ nợ có đảm bảo và chủ nợ
không có đảm bảo có quyền và nghĩa vụ khác nhau trong quá trình tham gia vào
thủ tục phá sản. Về nguyên tắc, Luật phá sản 2004 đã thể hiện tinh thần bảo vệ
lợi ích của chủ nợ có đảm bảo triệt để hơn so với chủ nợ không có đảm bảo. Đó
là lẽ đương nhiên. Tuy nhiên một số quy định của Luật phá sản 2004 lại không
phù hợp với tinh thần chủ đạo đó. Cụ thể, ngay từ khi có quyết định thụ lý đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản thì quyền được thanh toán nợ đến hạn của chủ nợ có
đảm bảo đã bị hạn chế, bị tạm đình chỉ cho đến khi có quyết định thanh lý tài
sản (điều 27, điều 35), trừ khi trường hợp được tòa án cho phép. Trong khi đó
các chủ nợ không có đảm bảo vẫn có thể được thanh toán các khoản nợ đến hạn của
mình sau khi có quyết định thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Việc thanh
toán các khoản nợ không có đảm bảo chỉ bị cấm sau khi có quyết định mở thủ tục
phá sản (điều 31).
Chủ nợ có khả năng bù trừ nghĩa vụ với DN lâm vào tình trạng phá sản cũng có
lợi thế hơn chủ nợ có bảo đảm. Theo điều 48 chủ nợ này có quyền thỏa thuận với
DN lâm vào tình trạng phá sản để thực hiện việc bù trừ và không có bất kỳ sự
hạn chế nào của Luật, không chịu sự giám sát của thẩm phán. Rõ ràng điều này là
không hợp lý.
Ngoài chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một
phần, còn một loại chủ nợ nữa mà Luật không đề cập đến mặc dù sự hiện diện của
loại chủ nợ này trong thủ tục phá sản là hoàn toàn hiện thực và chủ nợ này có
quyền đặc trưng của mình. Đó là chủ nợ mới – chủ nợ xuất hiện trên cơ sở các
hoạt động kinh doanh của DN sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản. Luật đề
cập đến các khoản nợ mới (Điều 31) nhưng Luật lại không nói về chủ nợ mới. Luật
thừa nhận sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản mọi hoạt động kinh doanh của
DN vẫn tiến hành bình thường nhưng phải chịu giám sát, kiểm tra của Thẩm phán,
Tổ quản lý tài sản (Điều 30). Điều này có nghĩa là DN có thể giao kết hợp đồng
mới – xuất hiện những chủ nợ mới, các khoản nợ mới. Đây cũng là điểm không chặt
chẽ của Luật 2004. Về lý thuyết, chủ nợ mới – khác với các chủ nợ cũ (những chủ
nợ xuất hiện trên cơ sở các hợp đồng giao kết trước khi có quyết định mở thủ
tục phá sản) luôn có quyền được ưu tiên thanh toán trong mọi trường hợp. Chỉ có
như vậy các quy định của Luật về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của DN
mới có tính khả thi. Nếu không có sự bảo đảm của Luật về quyền ưu tiên thanh
toán thì không một chủ nợ nào lại giao kết hợp đồng với một con nợ đã có quyết
định mở thủ tục phá sản và mọi cố gắng phục hồi hoạt động kinh doanh của DN lâm
vào tình trạng khánh kiệt tài chính chỉ là mong muốn không có tính khả thi.
Quyền ưu tiên thanh toán của chủ nợ mới cần được thừa nhận trong cả thủ tục
thanh lý tài sản. Một vấn đề được đặt ra: Các chủ nợ mới có quyền tham gia vào
danh sách chủ nợ hay không? Câu hỏi này không được trả lời rõ ràng trong Luật.
Các chủ nợ có đảm bảo mặc dù có quyền ưu tiên thanh toán nhưng vẫn phải có tên
trong danh sách chủ nợ để có quyền đòi nợ, có quyền tham gia vào hội nghị chủ
nợ. Theo lô gíc này thì các chủ nợ mới cũng phải có tên trong danh sách chủ nợ.
Tuy nhiên yêu cầu này có một số khó khăn. Vấn đề là danh sách chủ nợ được lập
trong thời hạn 75 ngày kể từ ngày cuối cùng đăng báo quyết định của tòa án mở
thủ tục phá sản. Sau 13 ngày niêm yết và giải quyết khiếu nại nếu có thì danh
sách này được đóng lại. Trong khi đó DN có quyết định mở thủ tục phá sản vẫn
tồn tại, vẫn hoạt động kinh doanh, vẫn phải ký kết các giao dịch mới, có các
chủ nợ mới và chỉ chấm dứt hoạt động kinh doanh khi có quyết định thanh lý tài
sản (Điều 82). Để giải quyết khó khăn này, Luật cần quy định khả năng bổ sung
danh sách chủ nợ trong trường hợp cần thiết.
Tính khả thi của Luật phá sản có quan hệ tỷ lệ thuận với thời gian chính
thức để giải quyết một vụ phá sản, mức độ tốn kém của các thủ tục và giá trị có
thể thu hồi. Theo báo cáo xếp hạng môi trường kinh doanh năm 2008 do Tập đoàn
Tài chính Quốc tế IFC và Ngân hàng Thế giới WB công bố, VN được xếp ở vị trí
91. Trong đó, ở tiêu chí thứ 10, giải thể DN, báo cáo cho rằng việc giải quyết
các trường hợp phá sản DN ở VN còn kém hiệu quả, xếp hạng 121/178. Thủ tục phá
sản phải mất ít nhất 5 năm, tốn kém đến 15% giá trị tài sản của DN. Đối với
những DN vỡ nợ thì các bên liên quan chỉ thu hồi được 18% giá trị tài sản. Vì
thế, rất ít DN tuân theo các quy định và thủ tục chính thức khi muốn đóng cửa
hoạt động.
Tóm lại: Để Luật phá sản thực sự có tính khả thi thì
cần phải đơn giản hóa, rút ngắn thời gian xử lý một vụ phá sản và nâng cao giá
trị thu hồi thực tế. Để làm được việc này cần phải tiếp tục cải cách hành
chính, bổ sung các hướng dẫn cần thiết cũng như cần sự vận hành hiệu quả của
một thị trường thứ cấp cho việc thanh lý các tài sản của các DN bị kiệt quệ tài
chính đến mức phải xử lý phá sản.để tăng cường tính thực thi của Luật phá sản.
Tài liệu tham khảo
- GS.TS. Trần NgọcThơ, Tài
chính DN hiện đại, NXB Thống kê, 2006
- Myers, Brealey (2000)
Principles of Corporate Finance –Sixth Edition, Macgraw Hill
- http://www.gso.gov.vn
- http://www.mof.gov.vn
SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 212, THÁNG 6 NĂM 2008 - PHAN
THỊ BÍCH NGUYỆT
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):1900 6816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------