Phần vốn góp: Cam kết góp hay thực góp
Cơ sở pháp lý được các thành viên công ty X đưa ra là điều 18.3 của Nghị định 102/2010 ngày 1-10-2010 hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp (Nghị định 102), theo đó “trong thời hạn chưa góp đủ số vốn theo cam kết, thành viên có số phiếu biểu quyết và được chia lợi tức tương ứng với tỷ lệ số vốn thực góp, trừ trường hợp điều lệ công ty quy định khác”.
Câu chuyện thực tế: Tháng 12-2010, công
ty TNHH X (gọi tắt là công ty X) tổ chức cuộc họp hội đồng thành viên.
Lấy lý do ông A chưa góp đủ phần vốn đã cam kết nên các thành viên góp
vốn còn lại giảm số phiếu biểu quyết của ông A.
Ông A không chấp nhận cách làm này vì cho rằng ngay
cả khi ông chưa góp đủ phần vốn của mình thì ông vẫn có số phiếu biểu
quyết như đã góp đủ. Và khi công ty chia lợi nhuận ông vẫn được nhận
theo tỷ lệ vốn ông đã cam kết góp thì không có lý gì bây giờ công ty lại
hạn chế quyền lợi của ông. Những quy định gây tranh cãi Theo quy định
tại điều 41 của Luật Doanh nghiệp 2005, các quyền của thành viên góp vốn
trong công ty TNHH đều dựa trên phần vốn góp của mỗi thành viên, tức là
dựa trên tỷ lệ vốn mà thành viên công ty TNHH góp vào vốn điều lệ.
Có thể thấy rằng từ Luật Doanh nghiệp 2005 đến Nghị
định 102, khái niệm vốn điều lệ trong công ty TNHH hai thành viên trở
lên đều được hiểu thống nhất là số vốn thực góp hoặc cam kết góp của các
thành viên trong một thời hạn cụ thể và đã được ghi vào ��iều lệ công
ty. Như vậy, quyền của các thành viên góp vốn trong công ty TNHH sẽ được
dựa trên tỷ lệ vốn mà thành viên góp vào số vốn đã được ghi vào điều lệ
công ty.
Lấy ví dụ:
Công ty TNHH Y gồm có hai thành viên với vốn điều lệ
đăng ký là 200 tỉ trong đó thành viên B cam kết góp 100 tỉ và C cam kết
góp 100 tỉ. Tại thời điểm tổ chức họp hội đồng thành viên: B đã góp được
40 tỉ và C đã góp được 50 tỉ. Như vậy, phần vốn góp của B và C có thể
sẽ được xác định theo một trong hai cách sau:
Cách 1: B chiếm 40/200 (20%) và C chiếm 50/200 (25%); hay
Cách 2: B chiếm 100/200 (50%) và C chiếm 100/200 (50%).
Bản thân Luật Doanh nghiệp khi đưa ra khái niệm “phần
vốn góp” để từ đó làm cơ sở xác định phạm vi quyền của thành viên cũng
không nói cụ thể đó là tỷ lệ sở hữu của thành viên dựa trên số vốn đã
góp hay cam kết góp, mà chỉ đơn giản dùng một chữ “góp”.
Như vậy, sự không rõ ràng dẫn đến những cách hiểu
khác nhau thật ra đã xuất phát từ những quy định của Luật Doanh nghiệp
chứ không phải đợi đến khi có sự ra đời của Nghị định 102. Cho nên theo
quan điểm cá nhân của người viết, Nghị định 102 khi quy định “trong thời
hạn chưa góp đủ số vốn theo cam kết, thành viên có số phiếu biểu quyết
và được chia lợi tức tương ứng với tỷ lệ số vốn thực góp, trừ trường hợp
điều lệ công ty quy định khác” suy cho cùng chỉ là một hướng hiểu như
cách 1 ở trên khi xác định phần vốn góp chứ không phải là sự mâu thuẫn
hay đi ngược lại quy định của Luật Doanh nghiệp.
Hiểu thế nào cho chính xác?
Thứ nhất, phần vốn góp của công ty TNHH nên tính là
tỷ lệ số vốn cam kết góp trong vốn điều lệ của công ty vì nếu theo
nguyên tắc công bằng, quyền và nghĩa vụ phải tương xứng với nhau thì
quyền của thành viên công ty TNHH phải ngang bằng với nghĩa vụ mà thành
viên gánh chịu.
Cam kết thực chất là nghĩa vụ của thành viên đối với
công ty. Vốn điều lệ của công ty TNHH, phần vốn góp và tỷ lệ góp vốn của
thành viên đã được xác định trong điều lệ công ty, việc thành viên góp
hết một lần hay góp bao nhiêu lần, mỗi lần bao nhiêu chỉ là vấn đề thời
gian và tùy thuộc vào thỏa thuận giữa các thành viên. Chính vì vậy số
vốn chưa góp được coi là nợ của thành viên đối với công ty nếu thành
viên không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết và thành viên phải chịu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do không góp đủ và đúng hạn
số vốn đã cam kết.
Không có lý gì thành viên công ty TNHH phải chịu
trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp
trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp nhưng lại chỉ có quyền
trên số vốn ít hơn do chưa góp đủ. Nếu thành viên công ty TNHH chỉ có
quyền biểu quyết trên số vốn thực góp, đồng nghĩa là tiếng nói của thành
viên công ty TNHH khi thảo luận, biểu quyết những vấn đề của công ty bị
yếu đi, tức trách nhiệm của thành viên công ty TNHH đối với phương án
hoạt động kinh doanh của công ty giảm đi. Vậy tại sao thành viên công ty
TNHH vẫn phải chịu trách nhiệm tài sản lớn hơn phần trách nhiệm từ hành
vi thực tế (biểu quyết) của thành viên công ty TNHH?
Thứ hai, phần vốn góp của thành viên công ty TNHH nên
tính là số vốn cam kết góp vì nó sẽ ảnh hưởng đến các quy định về điều
kiện tiến hành họp và thông qua quyết định của hội đồng thành viên của
công ty. Nếu áp dụng cách hiểu phần vốn góp của thành viên được dựa trên
số vốn thực tế đã góp, e rằng rất nhiều công ty TNHH phải đợi đến lần
họp thứ hai hay thứ ba mới đủ điều kiện tiến hành vì số thành viên dự
họp lần đầu khó mà đáp ứng điều kiện đã góp đủ 75% vốn điều lệ của công
ty. Tương tự, đối với trường hợp quyết định của hội đồng thành viên được
thông qua khi được số phiếu đại diện ít nhất 65% hoặc 75% tổng số vốn
góp của các thành viên dự họp chấp thuận, nếu thành viên chỉ có quyền
biểu quyết trên số vốn thực góp có lẽ quyết định của hội đồng thành viên
cũng khó mà thông qua được.
Thứ ba là đặc trưng của công ty TNHH là một công ty
có sự kết hợp hài hòa các đặc điểm ưu việt của cả hai mô hình công ty
đối nhân và đối vốn. Chịu ảnh hưởng của mô hình công ty đối nhân, thành
viên công ty TNHH thường là những người có mối quan hệ, quen biết với
nhau do đó việc cùng nhau hợp tác thành lập doanh nghiệp dựa trên niềm
tin, và vì lẽ đó mà việc một hay tất cả các thành viên “cam kết” góp vốn
trong một thời hạn nhất định dễ dàng nhận được sự chấp thuận.
Thực tiễn áp dụng pháp luật
Từ trước khi Nghị định 102 ra đời, mọi người đã quen
với việc xác định phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH dựa
trên tỷ lệ số vốn cam kết góp mà không chú ý rằng Luật Doanh nghiệp cũng
không có quy định nào nói cụ thể phần vốn góp là tỷ lệ số vốn “cam kết
góp”.
Do vậy, rất nhiều biên bản họp hội đồng thành viên
đều ghi nhận số phiếu biểu quyết theo tỷ lệ vốn cam kết góp của thành
viên, dù rằng thành viên đó thực sự chưa góp một đồng nào. Trước ngày
15-11-2010, hiện tượng này là phổ biến và thực tế cũng không vấp phải sự
cản trở nào từ cơ quan đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, sau ngày Nghị
định 102 có hiệu lực thi hành, có thể các biên bản họp như thế sẽ không
được chấp thuận nếu áp dụng điều 18.3 của Nghị định 102 và nếu “điều lệ
công ty không có quy định khác”.
Do vậy, khi soạn thảo điều lệ công ty, cần lưu ý các
quyền biểu quyết, hưởng lợi tức của thành viên được tính dựa trên phần
vốn thực góp theo Nghị định 102 hay theo phần vốn cam kết góp. Việc này
hoàn toàn nằm trong tầm tay của những người soạn thảo điều lệ, tuy nhiên
băn khoăn của người viết không phải ở chỗ cách đối phó với những quy
định của Nghị định 102 mà làm thế nào để có cách hiểu thống nhất về phần
vốn góp của thành viên trong công ty TNHH. Thiết nghĩ các cơ quan có
thẩm quyền cần có một hướng dẫn phù hợp về nội dung này để tránh những
xung đột khó giải quyết như trường hợp của công ty X.
SOURCE: THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN - NGUYỄN VÂN QUỲNH – Công ty Luật Phuoc & Partners
Trích dẫn từ: http://www.thesaigontimes.vn/Home/doanhnghiep/phapluat/54321/Phan-von-gop-Cam-ket-gop-hay-thuc-gop?.html
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:
+ Dịch vụ tư vấn thành lập doanh nghiệp
+ Tư vấn thành lập doanh nghiệp dược phẩm, y tế
+ Tư vấn thành lập Công ty cổ phần tại Hà Nội
+ Tư vấn thành lập Công ty TNHH hai thành viên trở lên tại Hà Nội
+ Tư vấn thành lập Công ty TNHH một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu
+ Tư vấn thành lập Công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu
+ Tư vấn thành lập Công ty kinh doanh bất động sản
+ Tư vấn thành lập hộ kinh doanh cá thể
+ Dịch vụ giữ tên trước cho doanh nghiệp
+ Tư vấn thành lập tập đoàn kinh tế
+ Tư vấn thành lập công ty chứng khoán
+ Tư vấn lựa chọn loại hình doanh nghiệp
+ Dịch vụ Kế Toán thuế
+ Tư vấn mở địa điểm kinh doanh
+ Thành lập CTy TNHH 1 thành viên
+
Tư vấn mở chi nhánh, văn phòng đại diện tại Hà Nội
+ Tư vấn cấp lại Giấy Đăng ký Kinh doanh
+ Tư vấn thành lập hợp tác xã
+ Tư vấn thành lập Công ty Hợp danh
+ Tư vấn thành lập Doanh nghiệp tư nhân tại Hà Nội
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------