Pháp luật doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập
Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng ta đã thực hiện đường lối phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo hướng hội nhập. Pháp luật doanh nghiệp Việt Nam cũng đã được đổi mới với việc ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung nhiều đạo luật quan trọng về đầu tư, kinh doanh và doanh nghiệp. Bài viết phân tích một số tác động của hội nhập kinh tế quốc tế và một số vấn đề về thực trạng của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập.
1. Hội nhập kinh tế quốc tế: Cơ hội và thách thức
Từ
sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), Việt Nam bắt đầu thực
hiện công cuộc đổi mới, với mục tiêu xây dựng nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, chấp nhận và tôn trọng các qui
luật của nền sản xuất hàng hóa, chấp nhận tự do kinh doanh và sự phát
triển của kinh tế tư bản tư nhân. Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế đã
được khẳng định trong nhiều nghị quyết của Đảng. Chẳng hạn, ngày
18/11/1996, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết về Kinh tế đối ngoại; ngày
27/11/2001 Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 07-NQ/TW về hội nhập kinh tế
quốc tế. Nghị quyết số 07-NQ/TW về hội nhập kinh tế quốc tế đã khẳng
định hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh và
cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức, do đó cần
tỉnh táo, khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội
nhập tùy theo đối tượng, vấn đề, trường hợp, thời điểm cụ thể; vừa phải
đề phòng tư tưởng trì trệ, thụ động, vừa phải chống tư tưởng giản đơn,
nôn nóng. Đại hội toàn quốc lần thứ X và thứ XI của Đảng đã tiếp tục
khẳng định chủ trương phát huy nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực
bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nền kinh tế
nước ta nhanh, có hiệu quả và bền vững.
Hiểu
theo nghĩa đơn giản nhất, hội nhập kinh tế quốc tế là tiến trình tham
gia quá trình toàn cầu hóa kinh tế. Có tác giả cho rằng, hội nhập kinh
tế quốc tế là “quá trình hợp tác trên cơ sở có đi có lại, trong đó các
quốc gia dành cho nhau sự đối xử ưu đãi trên cơ sở tôn trọng, chấp nhận
các luật lệ và tập quán quốc tế”; có ý kiến cho rằng, “hội nhập kinh tế
quốc tế là một quá trình đi liền với toàn cầu hóa kinh tế mà trọng tâm
là mở cửa kinh tế, tham dự phân công, hợp tác quốc tế, tạo điều kiện kết
hợp có hiệu quả nguồn lực trong nước với bên ngoài, mở rộng không gian
và môi trường để phát triển và chiếm lĩnh vị trí phù hợp nhất có thể
được trong quan hệ kinh tế quốc tế”1.
Hội
nhập kinh tế quốc tế vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa tạo
ra thời cơ vừa làm xuất hiện thách thức, vừa hợp tác vừa có đấu tranh...
Những khía cạnh tích cực của hội nhập kinh tế là: thúc đẩy sự phát
triển và xã hội hóa lực lượng sản xuất, tăng trưởng kinh tế nói chung
ngày càng cao; làm tăng thêm sự tác động và thúc đẩy lẫn nhau của các
nền kinh tế; thúc đẩy quá trình cạnh tranh đối với mỗi nước và với từng
doanh nghiệp trên thương trường, đòi hỏi phải cải tiến kỹ thuật, tăng
năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất, kinh doanh; mở ra những địa
bàn và thị trường mới, những đối tác mới cho tất cả các nước2.
Song, hội nhập kinh tế cũng có nhiều tác động tiêu cực như: làm tăng
thêm sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế, thúc đẩy các nguồn vốn
đầu cơ tăng nhanh, hình thành các “bong bóng” đầu tư và có thể gây
ra các cuộc khủng hoảng tài chính trên phạm vi rộng lớn; khoảng cách
giàu nghèo trên thế giới và trong mỗi quốc gia ngày càng rộng hơn; môi
trường sinh thái cũng bị tác động, gây ảnh hưởng đến cuộc sống của nhân
loại3.
Sau
khi Việt Nam trở thành thành viên WTO, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành
trung ương Đảng khóa X đã ra Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 5/2/2007 về
một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền
vững. Nghị quyết này đã nêu rõ: hội nhập kinh tế quốc tế giúp Việt Nam
có điều kiện mở rộng thị trường xuất khẩu vào các nước thành viên của
WTO với tư cách là một đối tác bình đẳng, không bị phân biệt đối xử và
theo mức thuế các thành viên WTO cam kết. Khi gia nhập WTO, thể chế kinh
tế thị trường ở Việt Nam ngày càng hoàn thiện, môi trường đầu tư, kinh
doanh trong nước ngày càng thuận lợi, thúc đẩy mạnh mẽ đầu tư của các
thành phần kinh tế. Gia nhập WTO sẽ thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát
triển, chính sách kinh tế, cơ chế quản lý ngày càng minh bạch hơn, môi
trường kinh doanh thuận lợi hơn. Ngoài ra, người tiêu dùng trong nước sẽ
có thêm sự lựa chọn về hàng hóa, dịch vụ có chất lượng cao, giá cả cạnh
tranh; các doanh nghiệp trong nước có thể tiếp cận nguồn nguyên liệu
đầu vào với giá cạnh tranh hơn, dịch vụ hỗ trợ tiện lợi hơn, có chất
lượng hơn, tiết kiệm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng, hiệu quả
kinh doanh.
Nghị
quyết 08-NQ/TW cũng nhận định rằng, Việt Nam phải chịu sức ép cạnh
tranh gay gắt hơn trên cả ba cấp độ: sản phẩm, doanh nghiệp và quốc gia.
Các sản phẩm và doanh nghiệp của Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với sản
phẩm và doanh nghiệp nước ngoài không chỉ trên thị trường thế giới mà
ngay trên thị trường trong nước. Một bộ phận doanh nghiệp có thể bị phá
sản, thất nghiệp có thể tăng lên. Những biến động trên thị trường tài
chính, tiền tệ, thị trường hàng hóa quốc tế sẽ tác động mạnh hơn, nhanh
hơn đến thị trường trong nước, tiềm ẩn nguy cơ không kiểm soát được thị
trường, có thể gây ra rối loạn, thậm chí khủng hoảng kinh tế, tài chính,
ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước.
Đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước, quản trị doanh nghiệp và chuyên gia
trong các lĩnh vực còn thiếu và yếu cả về năng lực chuyên môn, trình độ
tin học, ngoại ngữ. Ðặc biệt, chúng ta còn thiếu một đội ngũ luật sư
giỏi, thông thạo luật pháp quốc tế và ngoại ngữ để giải quyết các tranh
chấp thương mại và tư vấn cho các doanh nghiệp trong kinh doanh.
Song,
Nghị quyết 08-NQ/TW cũng khẳng định những cơ hội, thách thức nêu trên
có mối quan hệ, tác động qua lại, có thể chuyển hóa lẫn nhau. Cơ hội
không tự phát huy tác dụng mà tùy thuộc vào khả năng tận dụng cơ hội.
Tận dụng tốt cơ hội sẽ tạo ra thế và lực mới để vượt qua thách thức, tạo
ra cơ hội lớn hơn. Ngược lại, nếu không nắm bắt, tận dụng thì cơ hội có
thể bị bỏ lỡ, thách thức sẽ tăng lên, lấn át cơ hội, cản trở sự phát
triển. Thách thức tuy là sức ép trực tiếp, nhưng tác động đến đâu cũng
còn tùy thuộc vào nỗ lực và khả năng vượt qua của Việt Nam. Việt Nam đã
thể hiện chủ trương hội nhập với việc gia nhập ASEAN năm 1995, trở thành
thành viên của Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC)
năm 1998, ký hiệp định thương mại với nhiều nước phương Tây, đặc biệt
là với Hoa Kỳ, và chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO) - tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh vào
năm 20075.
2. Một số vấn đề của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập
Khi
một nền kinh tế tham gia tiến trình hội nhập kinh tế (economic
integration) có nghĩa là quốc gia đó đã chấp nhận xóa bỏ toàn bộ hay một
phần các rào cản thuế quan về thương mại, đầu tư trong phạm vi lãnh thổ
của nước mình để hàng hóa, dịch vụ, vốn đầu tư của nước ngoài có thể
được dễ dàng trao đổi và thực hiện tại nước mình. Theo lộ trình, Việt
Nam phải từng bước mở cửa thị trường, cho phép nhà đầu tư nước ngoài
được kinh doanh, được thành lập công ty, góp vốn, mua cổ phần của các
công ty Việt Nam trong hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế.
Thực
hiện đường lối hội nhập kinh tế quốc tế, qua hơn hai thập kỷ thu hút
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tính đến 20/10/2010, Việt Nam đã cấp
phép cho 12.213 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký lên đến
khoảng 193 tỷ USD; các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp
khoảng 20% GDP, một nửa giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu của đất nước6. Đối
với hoạt động đầu tư gián tiếp, các nhà đầu tư nước ngoài đã và đang
đóng vai trò quan trọng trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Theo Trung
tâm Lưu ký chứng khoán Việt Nam (VSD) thì đến hết tháng 2/2011, VSD đã
cấp mã số giao dịch chứng khoán cho 14.991 nhà đầu tư nước ngoài, trong
đó có 13.502 cá nhân và 1.489 tổ chức nước ngoài7. Song,
chúng ta cũng chứng kiến nhiều dự án đầu tư nước ngoài “ảo” đã gây nhiều
khó khăn và cả thiệt hại cho phía Việt Nam. Chẳng hạn, gần đây tỉnh Phú
Yên đã phải ra quyết định thu hồi giấy chứng nhận đầu tư siêu dự án
Thành phố Sáng tạo Nam Tuy Hòa do Tập đoàn Galileo Investment Group Inc
(Mỹ) làm chủ đầu tư với mức vốn đầu tư lên tới 11,4 tỷ USD vì nhà đầu tư
không thực hiện đúng các cam kết và không đủ năng lực tài chính thực
hiện dự án8. Bên cạnh đó, những bất cập, hạn chế của pháp
luật doanh nghiệp Việt Nam cũng ảnh hưởng nhất định đến chủ trương và
việc thực hiện công cuộc hội nhập trong thực tiễn.
a. Vấn đề hiệu lực áp dụng của các cam kết quốc tế
Điều
6 của Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế 2005 quy
định, trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà
Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp
dụng quy định của điều ước quốc tế. Việc ban hành văn bản quy phạm pháp
luật phải bảo đảm không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà
Việt Nam là thành viên có quy định về cùng một vấn đề. Tuy nhiên, pháp
luật doanh nghiệp Việt Nam hiện hành cũng còn nhiều qui định mang tính
tuyên ngôn hơn là các qui định thực chất, các qui định này hầu như không
có ý nghĩa áp dụng trên thực tế.
Điều
5 của Luật Đầu tư 2005 có qui định, trường hợp điều ước quốc tế mà Việt
Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật Đầu tư thì áp
dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó. Qui định tương tự cũng thấy
trong Điều 3 của Luật Doanh nghiệp 2005. Điều 3 của Nghị định
102/2010/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp 2005 cũng khẳng định
rằng, trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định
khác về hồ sơ, trình tự, thủ tục và điều kiện thành lập, đăng ký kinh
doanh, cơ cấu sở hữu và quyền tự chủ kinh doanh thì áp dụng theo các quy
định của Điều ước quốc tế đó. Song, các doanh nghiệp, các cán bộ công
chức - và kể cả giới luật sư - cũng không thể biết và hiểu rõ hết những
cam kết quốc tế của Việt Nam về đầu tư, kinh doanh và rất khó có thể áp
dụng các cam kết quốc tế một cách trực tiếp trong thực tiễn đầu tư, kinh
doanh cũng như làm thủ tục hành chính… trong bối cảnh hệ thống pháp
luật còn nhiều hạn chế, bất cập và nền hành chính còn mang tính quan
liêu, cửa quyền. Vì thế, một số cam kết quốc tế đã chưa được thực hiện
trong thực tiễn.
b. Quyền góp vốn, thành lập doanh nghiệp và nguyên tắc đối xử quốc gia
Nguyên
tắc đối xử quốc gia (the national treatment principle) là một nguyên
tắc cơ bản trong quan hệ thương mại quốc tế nhằm thực hiện mục tiêu
không phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại (trade without
discrimination)9. Nó đòi hỏi một quốc gia phải đối xử với
người nước ngoài và người trong nước bình đẳng như nhau. Thực hiện chủ
trương hội nhập, Việt Nam đã từng bước xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa
đầu tư trong nước với đầu tư nước ngoài, xoá bỏ sự bất bình đẳng giữa
các thành phần kinh tế, đặc biệt là giữa khu vực kinh tế nhà nước với
khu vực kinh tế tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Việc ban
hành một loạt các đạo luật quan trọng như Luật Doanh nghịệp, Luật Đầu
tư, Luật Thương mại… đã thể hiện điều đó.
Nếu
theo qui định của Luật Công ty 1990 và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm
1990 - những đạo luật đầu tiên qui định về các loại hình doanh nghiệp
của khu vực kinh tế tư nhân - thì chỉ có pháp nhân Việt Nam và công dân
Việt Nam mới có quyền thành công ty và doanh nghiệp tư nhân10.
Tổ chức, cá nhân nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam sẽ phải theo qui
định của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 với những hạn chế
khá lớn về quyền và phạm vi kinh doanh và sự phức tạp về thủ tục hành
chính liên quan. Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã mở rộng hơn về phạm vi
chủ thể có quyền thành lập và góp vốn vào công ty và doanh nghiệp tư
nhân cho các tổ chức và cá nhân nước ngoài - ít nhất là trên góc độ lý
thuyết. Luật Doanh nghiệp năm
1999 qui định rằng “tổ chức, cá nhân có quyền thành lập và quản lý doanh
nghiệp”, trừ những trường hợp bị cấm được liệt kê tại Điều 9 của đạo
luật này. Trong số các trường hợp bị cấm có “tổ chức nước ngoài, người
nước ngoài không thường trú tại Việt Nam”11. Như vậy, nếu
theo Luật Doanh nghiệp năm 1999 thì hầu như người nước ngoài không thể
góp vốn, thành lập công ty và doanh nghiệp tư nhân vì rất hiếm khi có
người nước ngoài nào là “người nước ngoài thường trú tại Việt Nam”. Do
đó, tổ chức, cá nhân nước ngoài muốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam
vẫn phải theo qui định của Luật Đầu tư nước ngoài, vì vậy, vẫn còn đó
sự phân biệt đối xử.
Với
việc ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2005, pháp luật Việt Nam đã mở rộng
quyền góp vốn, thành lập công ty và doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam
cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài. Đây là lần đầu tiên, một đạo luật
do Quốc hội ban hành đã khẳng định “tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức,
cá nhân nước ngoài có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt
Nam” trừ trường hợp bị cấm với những qui định giống nhau mà không quan
tâm đến vấn đề quốc tịch12. Như vậy, Luật Doanh nghiệp 2005
đã khẳng định quyền bình đẳng giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư
nước ngoài trong việc thành lập, quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo
những qui định chung thống nhất. Nghị định 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn Luật
Doanh nghiệp 2005 cũng qui định rằng: tất cả các tổ chức là pháp nhân,
bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, không
phân biệt nơi đăng ký địa chỉ trụ sở chính và mọi cá nhân không phân
biệt nơi cư trú và quốc tịch, nếu không thuộc đối tượng quy định tại
khoản 2 Điều 13 của Luật Doanh nghiệp, đều có quyền thành lập, tham gia
thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Tuy
nhiên, những qui định thông thoáng của Luật Doanh nghiệp 2005 đã bị cản
trở đáng kể bởi đạo luật song hành với nó là Luật Đầu tư 2005. Tư tưởng
làm luật mang nặng tư duy “siết chặt” và tăng cường quản lý nhà nước
đối với hoạt động đầu tư nước ngoài thể hiện trong Luật Đầu tư 2005 bằng
các qui định về thủ tục đầu tư, về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư…
Theo Luật Đầu tư 2005, các tổ chức, cá nhân nước ngoài lần đầu tiên đầu
tư vào Việt Nam để thành lập doanh nghiệp sẽ phải có dự án đầu tư và làm
thủ tục đăng ký hoặc thẩm tra đầu tư với hồ sơ phức tạp trong khi các
nhà đầu tư trong nước không phải làm việc này13. Điều 12 Nghị
định 102/2010 cũng qui định rằng: nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân nước
ngoài lần đầu thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam thực hiện đăng ký đầu
tư gắn với thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật về đầu
tư. Trong trường hợp này, doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đầu tư
đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Sự gia nhập thị
trường, thủ tục thành lập doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài vẫn bị
những rào cản nhất định, vẫn còn sự không bình đẳng giữa các nhà đầu tư
trong nước và nhà đầu tư nước ngoài trong việc thành lập, góp vốn vào
doanh nghiệp.
c. Sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước.
Trước
khi ban hành Luật Doanh nghiệp 2005 (mà nhiều người vẫn gọi là luật
doanh nghiệp thống nhất) chúng ta có những đạo luật qui định những “sân
chơi, kiểu chơi” khác nhau cho các loại hình doanh nghiệp chủ yếu dựa
vào yếu tố sở hữu. Nếu các doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu hoạt động
theo Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003, các hợp tác xã hoạt động theo Luật
Hợp tác xã 2003, các doanh nghiệp tư nhân và công ty hoạt động theo
Luật Doanh nghiệp 1999 thì các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lại
hoạt động theo Luật Đầu tư nước ngoài.
Hiện
nay, tất cả các doanh nghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu đều phải
hoạt động theo Luật Doanh nghiệp 2005. Luật này đã áp dụng cho tất cả
các loại hình doanh nghiệp mà trước đây thuộc phạm vi điều chỉnh của các
luật khác nhau, đã buộc các công ty nhà nước hoạt động theo Luật Doanh
nghiệp nhà nước 2003 phải chuyển đổi sang các mô hình doanh nghiệp quy
định trong Luật Doanh nghiệp 2005 dưới hình thức công ty cổ phần hoặc
công ty trách nhiệm hữu hạn. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
(doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài)
thành lập theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng được chuyển đổi
theo mô hình công ty theo Luật Doanh nghiệp 2005. Luật Doanh nghiệp 2005
đã góp phần tạo ra một mặt bằng pháp lý thống nhất, không có sự phân
biệt đối xử cho các mô hình tổ chức kinh doanh thuộc hình thức sở hữu
khác nhau. Doanh nghiệp thành lập bởi các nhà đầu tư nước ngoài hay nhà
đầu tư trong nước được điều chỉnh bằng các quy tắc pháp lý chung, bao
gồm cả thủ tục rút lui khỏi thị trường, cấu trúc quản trị công ty… theo
các hình thức tổ chức kinh doanh mà không phân biệt hình thức sở hữu vốn
của nhà đầu tư.
Mặc
dù quá trình chuyển đổi các công ty nhà nước gặp nhiều khó khăn, trở
ngại từ nhiều phía, giờ đây công việc chuyển đổi công ty nhà nước coi
như đã hoàn thành - ít nhất là về hình thức. Tuy nhiên, việc chuyển đổi
các doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
được thành lập trước đây theo Luật Đầu tư nước ngoài đang gặp nhiều trở
ngại. Nhà nước ta phải chấp nhận gia hạn thời gian chuyển đổi thêm 03
năm nữa, tức là 5 năm thay vì chỉ có 2 năm theo qui định ban đầu của
Luật Doanh nghiệp 200514. Việc tìm hiểu các nguyên nhân của
tình trạng này để từ đó có giải pháp thích hợp là việc làm thực sự cần
thiết hiện nay để có thể tạo lập và áp dụng những qui định pháp luật
thống nhất cho hoạt động của các doanh nghiệp thuộc các hình thức sở hữu
khác nhau tại Việt Nam.
Việt
Nam vẫn qui định khác nhau về quyền của các doanh nghiệp không có vốn
đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị định
102/2010/NĐ-CP cũng qui định rằng, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà
Việt Nam là thành viên hoặc pháp luật chuyên ngành có quy định khác,
doanh nghiệp đã thành lập ở Việt Nam có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài
không quá 49% vốn điều lệ được áp dụng điều kiện đầu tư, kinh doanh như
đối với nhà đầu tư trong nước; nhưng doanh nghiệp đã thành lập ở Việt
Nam có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trên 49% vốn điều lệ bị áp dụng
điều kiện đầu tư, kinh doanh như đối với nhà đầu tư nước ngoài.
Tư
tưởng bảo hộ các doanh nghiệp Việt Nam trong hoạt động xuất nhập khẩu
(XNK) và bảo vệ nền sản xuất trong nước thể hiện khá rõ trong các qui
định về quyền kinh doanh XNK hiện nay. Theo Nghị định 12/2006/NĐ-CP,
những doanh nghiệp không có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có quyền
kinh doanh XNK khá rộng rãi mà không phụ thuộc vào ngành nghề, mặt hàng
ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.15 Song, việc
XNK của những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang bị hạn chế khá
nhiều bằng các biện pháp pháp lý khác nhau qui định trong Nghị định
23/2007/NĐ-CP và thực tiễn thi hành. Khái niệm về “quyền xuất khẩu”,
“quyền nhập khẩu” của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bị thu
hẹp rất nhiều so với các doanh nghiệp Việt Nam khác. Có thể nói, những
cam kết của Việt Nam về quyền kinh doanh XNK của doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài tại Đoạn 143 trong Báo cáo của Ban Công tác gia nhập WTO
chưa được thực hiện nghiêm túc trong thực tiễn16. Bên cạnh
đó, một số cam kết quốc tế gặp khó khăn trong thực tiễn thi hành và tạo
nên sự bất bình đẳng nhất định giữa các công ty có vốn đầu tư nước ngoài
và công ty không có vốn đầu tư nước ngoài chẳng hạn như cam kết về tỷ
lệ biểu quyết trong các công ty tại Đoạn 502 và Đoạn 503 trong Báo cáo
của Ban Công tác gia nhập WTO17.
d. Vấn đề cải cách thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp
Như
Nghị quyết 08-NQ/TW đã khẳng định, hội nhập có nghĩa là phải chấp nhận
cạnh tranh gay gắt hơn giữa các nền kinh tế ở tầm vĩ mô và giữa các
doanh nghiệp ở tầm vi mô. Để nâng cao năng lực cạnh tranh trong việc thu
hút vốn đầu tư nước ngoài, chúng ta phải xây dựng môi trường pháp lý
thuận lợi cho hoạt động đầu tư kinh doanh, phải tạo niềm tin cho các nhà
đầu tư khi họ đầu tư vào Việt Nam. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài luôn có
xu hướng sẽ chảy vào những khu vực, quốc gia hấp dẫn về đầu tư nước
ngoài, mà một trong các yếu tố để đánh giá là thủ tục hành chính, các
thủ tục pháp lý có liên quan đến hoạt động đầu tư. Hội nhập kinh tế
quốc tế đòi hỏi Việt Nam phải cải cách các thủ tục hành chính liên quan
đến doanh nghiệp để thực hiện các cam kết quốc tế và để thu hút vốn đầu
tư nước ngoài trong bối cảnh cạnh tranh giữa các nền kinh tế. Đầu tư
nước ngoài đã là một yếu tố đặc biệt quan trọng giúp cho nhiều quốc gia
Châu Á vươn lên “thành rồng, thành hổ” và kể cả trở thành siêu cường của
thế giới như Trung Quốc. Nếu không cải cách các thủ tục hành chính liên
quan đến doanh nghiệp, Việt Nam sẽ bị mất điểm khi so sánh với môi
trường đầu tư của các nền kinh tế khác.
Thủ
tục hành chính liên quan đến việc thành lập, hoạt động và chấm dứt hoạt
động của doanh nghiệp hay nói đơn giản hơn là thủ tục gia nhập và rút
lui khỏi thị trường đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục cải cách, bãi bỏ các
giấy phép con không cần thiết, đơn giản hoá thủ tục gia nhập thị trường,
đơn giản hoá và hợp lý hoá công tác thu thuế và thủ tục hải quan...
Nhìn chung, thủ tục thành lập doanh nghiệp ở nước ta hiện nay đã được
đơn giản hoá và khá dễ dàng, song vẫn còn những vấn đề bất cập, hạn chế
trong các qui định về thủ tục gia nhập, rút lui khỏi thị trường của các
nhà đầu tư nước ngoài. Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn như
Nghị định 43/2010/NĐ-CP, Thông tư 14/2010/TT-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư đều qui định thủ tục rất đơn giản, dễ dàng để thành lập doanh nghiệp
và thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh; tuy nhiên, thiết chế hạ tầng
của chúng ta chưa thích hợp cho những qui định thông thoáng, đơn giản đó
phát huy hiệu quả trong thưc tiễn. Chẳng hạn, những gian dối về thông
tin đăng ký doanh nghiệp vẫn dễ dàng được thực hiện mà Nhà nước và xã
hội thiếu cơ chế giám sát, kiểm tra; nhiều cán bộ công chức có thẩm
quyền vẫn gây khó dễ cho doanh nghiệp để đòi hối lộ, nhiều qui định của
pháp luật chưa thống nhất còn nhiều bất cập, hạn chế… Vì
vậy, nhu cầu hội nhập đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục cải cách thủ tục
hành chính liên quan đến doanh nghiệp và đảm bảo việc thực thi chúng một
cách nghiêm minh.
e. Mô hình tổ chức kinh doanh
Công
cuộc hội nhập đặt ra thách thức lớn cho hệ thống pháp luật Việt Nam,
đòi hỏi phải thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản: (i) xây dựng nền tảng pháp
lý cho sự xuất hiện và bảo vệ các nhân tố của nền kinh tế thị trường và
(ii) phải hài hòa hệ thống pháp luật, nhất là pháp luật về đầu tư kinh
doanh thương mại theo chuẩn mực quốc tế, theo những cam kết quốc tế của
Việt Nam18. Việc xây dựng pháp luật về mô hình doanh nghiệp ở
Việt Nam theo hướng hài hòa hóa với các mô hình phổ biến ở các nước
phương Tây là thực sự cần thiết. Nhìn một cách tổng quan, trên thế giới
có bốn mô hình tổ chức kinh doanh cơ bản là proprietorship (hay sole
trader), partnership, co-operative và company (corporation); bên cạnh
đó, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia mà có các
mô hình tổ chức kinh doanh đặc thù khác.
Suốt
hai thập kỷ qua, các nhà làm luật Việt Nam đã lần lượt ban hành các văn
bản pháp luật qui định về những mô hình tổ chức kinh doanh đa dạng mà
về cơ bản cũng giống với thế giới bên ngoài như hộ kinh doanh, doanh
nghiệp tư nhân, hợp tác xã, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu
hạn và công ty cổ phần. Nhìn chung, pháp luật về công ty của Việt Nam đã
đi theo những chuẩn mực được thừa nhận rộng rãi trên thế giới như về tư
cách pháp nhân độc lập, chế độ trách nhiệm hữu hạn của thành viên, sự
tồn tại độc lập của công ty khi có sự thay đổi của thành viên, mô hình
quản trị tập trung… Dù vẫn có những khác nhau nhất định giữa mô hình
công ty ở Việt Nam và ở các nước phát triển, nhưng khi nhà đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam đầu tư thành lập công ty thì họ cũng không thấy sự
khác nhau nhiều giữa mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ
phần ở Việt Nam và ở nước ngoài. Sự khác nhau nhiều nhất có lẽ vẫn là mô
hình công ty hợp danh của Việt Nam khi so sánh nó với partnership ở
nhiều nước phương Tây như Anh, Úc, Nhật bản, Hoa Kỳ...19
Tóm
lại, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam phải thực thi
nghiêm chỉnh các cam kết quốc tế, các nguyên tắc và qui định của WTO.
Trong suốt hơn hai thập kỷ qua, pháp luật doanh nghiệp Việt Nam đã từng
bước được xây dựng và hoàn thiện nhằm góp phần thực hiện chủ trương hội
nhập và thực hiện các cam kết quốc tế; song, vẫn còn những hạn chế, bất
cập nhất định cần được sửa đổi, bổ sung.
(1)
Nguyễn Tiến Nghĩa, Tổng thuật Hội thảo do Tạp chí Cộng sản phối hợp với
Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, Bộ Thương mại và Dự án Hợp
tác kinh tế đa biên (MUTRAP) tổ chức với chủ đề “Hội nhập kinh tế quốc
tế - những vấn đề lý luận và thực tiễn” ngày 11/3/2004. Xem Tạp chí Cộng
sản điện tử số 56, 2004, tại
http://203.162.0.19:8080/show_content.pl?topic=3&ID=179
(2) Tlđd.
(3) Tlđd. (4) Trích Nghị quyết số 08-NQ/TW.
(5)
Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995 và sau đó gia nhập Khu vực mậu dự tự
do ASEAN (AFTA). Năm 1995, Việt Nam nộp đơn xin gia nhập WTO, năm 2000
ký Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ (BTA). Năm 2007, Việt Nam
chính thức trở thành thành viên của WTO. Xem, Hai mươi năm hội nhập: Từ
đổi mới đến gia nhập WTO và tham gia các FTA ASEAN +.Xem thêm trên
website của Ủy ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế (NCIEC), tại
http://www.nciec.gov.vn
(6) Vũ Khoan, Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời kỳ đổi mới, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 19/2/2011.
(7) Nguồn: Vneconomy
(8) Xem thêm Báo Pháp luật TP.HCM ngày 13.3.2011, UBND tỉnh Phú Yên cũng đã đề nghị các cơ quan chức năng xem xét cho dừng dự án Đặc khu kinh tế tại
Phú Yên do Tập đoàn Sama Dubai làm chủ đầu tư với mức vốn đăng ký
khổng lồ lên đến 250 tỷ USD, sử dụng gần 240 ngàn ha đất, chiếm 1/3 diện
tích tỉnh này. (9) Xem thêm chi tiết tại website của Tổ chức Thương mại thế giới (World Trade Organization - WTO).
(10)
Điều 1 Luật Công ty 1990 qui định “Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, tổ
chức kinh tế Việt Nam có tư cách pháp nhân thuộc các thành phần kinh tế,
tổ chức xã hội có quyền góp vốn đầu tư hoặc tham gia thành lập công ty
TNNH, công ty cổ phần theo qui định của Luật này”.
(11) Khoản 8, Điều 9 Luật DN 1999. (12) Xem Điều 13 Luật DN 2005.
(13) Xem thêm Điều 46, 47 Luật Đầu tư 2005. (14)
Theo
Luật Doanh nghiệp 2005 thì trong thời hạn 02 năm từ khi Luật Doanh
nghiệp 2005 có hiệu lực, tức là trước 01/7/2008, các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp FDI) phải làm thủ tục chuyển đổi, đăng
ký lại theo mô hình công ty qui định tại Luật Doanh nghiệp 2005. Nhưng
trong thực tế, rất nhiều doanh nghiệp FDI đã không thực
hiện việc này. Năm 2009, Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung
trong đó thay đổi thời hạn chuyển đổi, đăng ký lại của các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài lên thành 05 năm, tính từ 01/7/2006.
(15) Điều 3 Nghị định 12/2006/NĐ-CP và Thông tư 04/2006/TT-BTM.
(16)
Xem thêm Hà Thị Thanh Bình, Quản lý việc nhập khẩu hàng hoá vào Việt
Nam và việc thực hiện các cam kết gia nhập Tổ chức thương mại thế giới,
Tạp chí Khoa học pháp lý số 2/2009, tr. 44.
(17)
Theo cam kết này, Việt Nam chấp nhận cho phép trong công ty liên doanh ở
một số lĩnh vực, các bên có quyền thỏa thuận quy định trong Điều lệ
công ty các nội dung sau: (i) số đại diện cần thiết để tổ chức cuộc họp
và hình thức thông qua quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng
cổ đông; (ii) các vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng thành
viên, Đại hội đồng cổ đông; và (iii) tỉ lệ đa số phiếu cần thiết (kể cả
tỷ lệ đa số 51%) để thông qua các quyết định của Hội đồng thành viên,
Đại hội đồng cổ đông. Lưu ý rằng, Nghị quyết 71/2006/NQ-QH đã dẫn không
chính xác đến Đoạn 503, 504 trong Báo cáo của Ban công tác gia nhập WTO;
lẽ ra phải là Đoạn 502, 503(18)
Xem thêm Bùi Nguyên Khánh, Nội dung
của chế độ kinh tế trong Hiến pháp của các nước Châu Âu và những gợi ý
cho Việt Nam, Tạp chí Nhà nước & Pháp luật, 2/2010, tr. 12-13.
(19) Về vấn đề này, xem thêm Bùi Xuân Hải, Pháp luật doanh nghiệp và đầu tư với vấn đề hội nhập, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp 1/2008.
PGS. TS Bùi Xuân Hải - Trưởng khoa Luật Thương mại, ĐH Luật TP.HCM.
Nguồn: Tạp chí nghiên cứu lập pháp
Trích: http://www.nclp.org.vn/thuc_tien_phap_luat/phap-luat-doanh-nghiep-viet-nam-trong-111ieu-kien-hoi-nhap
(SUNLAW FIRM:
Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật
và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý
kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)
THAM KHẢO MỘT SỐ DỊCH VỤ TƯ VẤN LUẬT CỦA SUNLAW FRIM:
1.
Dịch vụ luật sư riêng cho doanh nghiệp:
2.
Tư vấn thành lập các loại hình doanh nghiệp:
3.
Tư vấn thay đổi đăng ký kinh doanh cảu doanh nghiệp:
4.
Tư vấn quản trị nội bộ doanh nghiệp:
5. Dịch vụ
tư vấn pháp luật Việt Nam:
6.
Dịch vụ cung cấp thông tin tài chính cho doanh nghiệp:
7.
Tư vấn soạn thảo quy chế cho doanh nghiệp:
8.Dịch
vụ đăng ký bảo hộ độc quyền nhãn hiệu hàng hóa tại thị trường Việt Nam
9.
Dịch vụ đăng ký bản quyền phần mềm máy tính:
10.
Đăng ký bảo hộ quyền tác giả:
11.
Tư vấn cấp phép đầu tư:
12.
Tư vấn điều chỉnh giấy phép đầu tư:
13.
Dịch vụ trước bạ sang tên nhà đất (tư vấn mua bán/chuyển nhượng nhà đất):
14.
Dịch vụ luật sư tranh tụng/giải quyết tranh chấp:
15.
Dịch vụ cung cấp văn bản pháp luật: