Phát triển hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam: Cần hoàn thiện khung pháp lý
Vốn là điều quan tâm trước tiên đối với mỗi doanh nghiệp vừa và nhỏ khi mới thành lập. Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ thiếu điều kiện vay vốn ngân hàng, giờ đây họ có thể tìm đến các công ty cho thuê tài chính (CTTC). Tuy nhiên, để thu hút được nhiều khách hàng, hoạt động của các công ty này cần phải được hoàn thiện hơn nữa…
Khởi sự cùng doanh nghiệp
Mặc dù là loại hình tổ chức tín dụng mới ra đời và phát triển (xuất hiện ở
Việt Nam từ năm 1998), song hoạt động của các công ty CTTC trong thời gian qua
phần nào đã làm giảm sức ép và gánh nặng cho hệ thống ngân hàng thương mại
trong việc cung ứng vốn ��ối với các doanh nghiệp, đặc biệt là vốn trung và dài
hạn. Thay vì việc tìm kiếm một khoản cho vay từ các ngân hàng thương mại mà
thường thì các ngân hàng thích cho vay đối với các công ty lớn có đảm bảo chắc
chắn, các công ty CTTC sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp vừa và nhỏ nhiều lợi
ích từ việc cho thuê tài chính mà không cần doanh nghiệp phải có tài sản thế
chấp. Nói tóm lại, hoạt động cho thuê là giải quyết nguồn vốn trung và dài hạn
thông qua việc tài trợ tài sản thuê cho các tổ chức cá nhân không đủ điều kiện
và tiêu chuẩn để vay các ngân hàng thương mại. Ngược lại, việc này mang lại lợi
ích cho các công ty CTTC là sử dụng được số vốn tích cực của một lượng lớn các
doanh nghiệp vừa và nhỏ đang hoạt động trên thị trường.
Trên thế giới, hoạt động cho thuê tài sản đã sớm xuất hiện, nhưng nó thực sự
đi sâu vào bản chất cho thuê tài chính trong vòng sáu chục năm qua. Hiện nay
hoạt động thuê mua đã được sử dụng tại hơn 80 nước (chủ yếu là các nước đang
phát triển, khoảng 60 nước) với khối lượng dư nợ cho thuê trên 500 tỷ USD,
chiếm khoảng 12,5% đầu tư tư nhân của thế giới.
Hiện nay Việt Nam đã có 8 công ty CTTC, trong đó có 5 công ty trực thuộc
ngân hàng thương mại Nhà nước và 3 công ty có vốn nước ngoài. Theo đánh giá của
Phó Thống đốc thường trực Ngân hàng Nhà nước Trần Minh Tuấn thì từ khi ra đời
đến nay, các công ty CTTC đã phát triển nhanh chóng cả về quy mô và mạng lưới
hoạt động. Cụ thể: đã thực hiện được nhiều nghiệp vụ cho thuê khác nhau, đa
dạng hoá các tài sản cho thuê, phương thức cho thuê và đối tượng khách hàng.
Trong 8 năm, các công ty CTTC đã từng bước phát huy được vai trò quan trọng là
hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư chiều sâu, đổi mới máy móc thiết bị, cải tiến kỹ
thuật. Không chỉ có thế, tỷ lệ dư nợ quá hạn của các công ty CTTC thấp hơn nhiều
so với các ngân hàng, lợi nhuận năm sau luôn cao hơn năm trước. Dư nợ CTTC gia
tăng mạnh trong khoảng thời gian 1999-2004. Tỷ trọng dư nợ CTTC trong tổng tài
sản chiếm đa số và tăng liên tục từ 65% năm 1999 lên 91% năm 2004. Do đó, vị
trí các công ty CTTC ngày càng quan trọng trong hoạt động của các tổ chức tín
dụng.
“Khoảng trống” trong các văn bản luật
Tuy nhiên cũng cần phải nhìn nhận một thực tế là thời gian qua còn ít doanh
nghiệp mặn mà với hoạt động này. Nếu như ở các nước đang phát triển, tỷ trọng
của thị trường cho thuê tài chính so với thị trường tín dụng vào khoảng từ 15
đến 20% thì ở Việt Nam, tỷ lệ này mới chỉ đạt khoảng 1,4%. Như vậy, cứ 100
doanh nghiệp thì chưa đến 2 doanh nghiệp sử dụng những tiện ích của hoạt động
cho thuê tài chính.
Sự vắng bóng khách hàng trên thị trường CTTC cũng hoàn toàn dễ hiểu, bởi vì
nó là một hoạt động khá mới mẻ của Việt Nam, nhất là khi tín dụng trung và dài
hạn của ngân hàng vẫn còn quen thuộc và được nhiều doanh nghiệp và cá nhân coi
là biện pháp truyền thống dùng để vay vốn. Nhưng nguyên nhân lớn nhất khiến cho
hoạt động CTTC kém hấp dẫn là do còn quá nhiều “khoảng trống” trong các văn bản
luật.
Theo nguyên tắc, bên cho thuê (công ty CTTC) cam kết mua máy móc, thiết bị,
bất động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và giữ quyền sở hữu với tài sản cho
thuê. Bên thuê (các doanh nghiệp và cá nhân) sử dụng tài sản cho thuê và thanh
toán tiền thuê trong thời gian thuê được hai bên thoả thuận theo hợp đồng. Bên
thuê không được huỷ bỏ hợp đồng trước thời hạn. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên
thuê được huyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê lại tài sản đó theo
điều kiện thoả thuận. Như vậy CTTC đã mở ra một giải pháp hỗ trợ các doanh
nghiệp và cá nhân không có vốn, thiết bị để tăng khả năng cạnh tranh. Tuy
nhiên, theo giám đốc một công ty thương mại vận tải cho biết, trong 3 năm qua,
công ty của ông đã đầu tư khoảng 50 tỷ đồng cho việc mua xe ô tô, thiết bị thi công
cơ giới và đã nhiều lần tìm đến công ty CTTC nhưng vẫn vướng phải vấn đề đăng
ký lưu hành phương tiện. Ông cho biết: “Trụ sở doanh nghiệp ở Vũng Tàu, còn trụ
sở của chi nhánh công ty CTTC Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đặt tại
Thành phố Hồ Chí Minh. Và mỗi khi thực hiện khám lưu hành phương tiện thì doanh
nghiệp lại phải đưa phương tiện lên thành phố Hồ Chí Minh để thực hiện khám lưu
hành. Điều này làm mất thời gian và ảnh hưởng tới công việc chung của đội xe”.
Giám đốc Công ty CTTC Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Nguyễn Đức Thịnh
cũng công nhận những vướng mắc thực tế trên của bên thuê. Nhưng ông cũng cho
rằng, các công ty CTTC cũng đang gặp phải vướng mắc trong trường hợp này. Ông Thịnh
nói: “Theo nguyên tắc, trụ sở công ty CTTC ở đâu thì đăng ký lưu hành phương
tiện lần đầu tại địa bàn đó. Như vậy, đối với công ty CTTC có địa bàn hoạt động
trên toàn quốc, sẽ có trường hợp công ty phải giao tài sản thuê cho khách hàng
ở rất xa địa bàn đặt trụ sở của công ty. Nếu theo quy định, tài sản đó phải vận
chuyển đến địa phương nơi đặt trụ sở của công ty để khám lưu hành. Điều này rất
khó khăn cho doanh nghiệp và làm giảm tính thực tế của quy định”.
Bên cạnh đó vướng mắc trên, trong thực tế, nhiều doanh nghiệp khi có tài sản
thuê là các phương tiện giao thông cũng gặp phải khó khăn về cơ sở pháp lý
tương tự khi sử dụng bản sao công chứng đăng ký xe ô tô. Nghị định
16/2001/NĐ-CP của Chính phủ đối với phương tiện giao thông có đăng ký sở hữu
quy định: công ty cho thuê tài chính giữ bản đăng ký chính còn các phương tiện
tham gia giao thông thì chỉ có bản sao công chứng. Tuy nhiên, trên thực tế,
doanh nghiệp là bên thuê sử dụng phương tiện gặp nhiều khó khăn tại một số địa
phương vì các cơ quan chức năng không chấp nhận việc sử dụng đăng ký nói trên
với lý do: chưa có văn bản hướng dẫn của Bộ chủ quản hoặc không đúng với các
thông tư liên quan.
Như vậy, với bản chất đa quy tắc trong hoạt động của mình, các công ty CTTC
tại Việt Nam cần phải nỗ lực làm mới và hoàn thiện mình hơn nữa, đặc biệt là
khung pháp lý để ngày càng thu hút được nhiều doanh nghiệp quan tâm, lưu ý tới.
Và cho dù có những thay đổi về thời cuộc, hoạt động CTTC sẽ vẫn chứng tỏ thế
mạnh của mình là liên tục đáp ứng nhu cầu tiếp cận các thiết bị thiết yếu của
một doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam.
Ông Đặng Như Lợi, Phó chủ nhiệm Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội
“Không thể mang chuyện tiền lương thấp để giải thích về tình trạng
chất lượng lao động kém và tệ tham nhũng, hối lộ”
Gần đây nhất, trong một cuộc gặp với các nhà đầu tư nước ngoài, Phó Thủ
tướng Vũ Khoan đã kể rằng khi đến thăm Công ty Sữa Vinamilk, ông được biết
lương của mình hiện còn thua lương của anh em công nhân và ông bảo: “Dẫu sao,
tôi cũng thấy mừng về chuyện này...”. Có thể thấy, mặc dù câu chuyện tiền lương
ở nước ta hiện được hiểu không đơn thuần chỉ là một vấn đề kinh tế, nhưng những
trở ngại trong quá trình thực hiện Đề án Cải cách chính sách tiền lương và việc
tìm kiếm các giải pháp luôn là một câu chuyện không cũ. Ông Đặng Như Lợi, Phó
chủ nhiệm Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội, Nguyên Vụ trưởng Vụ Tiền
lương- tiền công của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội đã trao đổi với phóng
viên Báo Hải quan xung quanh nội dung trên.
Phóng viên (P.V): Thưa ông, Đề án Cải cách chính sách
tiền lương đến năm 2007 đang được triển khai không mấy suôn sẻ bởi đến nay, sau
hơn 8 tháng thực hiện, nhiều người vẫn chưa được cầm trong tay lương mới?
Ông Đặng Như Lợi (ĐNL): Năm 2004 chúng ta tiến hành thay
đổi hệ thống thang bảng lương và phụ cấp và để làm được điều này, phải ban hành
3,5 triệu quyết định xếp lương cũ sang lương mới. Khó khăn tất nhiên là phải nhiều,
bởi việc thay đổi dù lớn dù nhỏ bao giờ chả phải động chạm, phải mất thời gian,
mà đặc biệt đó lại là vấn đề hết sức nhạy cảm- tiền lương. Nhưng tôi cũng đã
từng phân tích, nguyên nhân chính của việc chậm thực hiện lương mới nằm ở khâu
triển khai, chứ không phải do các cơ quan ban hành văn bản hướng dẫn.
P.V: Trên thực tế, mặc dù đã có sự cải cách, lương của
cán bộ, công chức hiện vẫn là quá thấp so với mặt bằng chung trong xã hội, nhất
là trong những cơn sốt giá như vừa qua. Sự tăng giá của hàng loạt mặt hàng đã
trở thành gánh nặng lớn đối với đối tượng làm công ăn lương, thưa ông?
Ông ĐNL: Có thể thừa nhận là nếu gọi quy định mức lương tối
thiểu chung là thấp thì điều đó đúng, bởi mức lương tối thiểu của chúng ta hiện
chỉ có 290.000 đồng. Còn đối với vấn đề tăng giá, khi tiến hành dự thảo Đề án
Cải cách chính sách tiền lương, các cơ quan chức năng đều đã tính đến khả năng
này.
Trong Đề án cải cách tiền lương đã dự kiến bình quân mỗi năm tăng giá là 5%.
Có thể lấy gốc là năm 2003, thời điểm chúng ta bắt đầu tiến hành cải cách tiền
lương để so sánh. Nếu tính theo giá lương thực thực phẩm thì đến năm 2005 này,
tốc độ tăng giá là xấp xỉ 25%, trong khi lương đã tăng 38,1%. Vấn đề quan trọng
nhất là nền tảng lương thấp, không đảm bảo năng suất và chất lượng lao động chứ
không phải là bù trượt giá.
Mặt khác, cứ nói bộ máy công chức Nhà nước cồng kềnh, chứ thực ra hiện nay
trong tổng số 1.550.000 người thuộc khu vực hành chính sự nghiệp thì bộ phận
hành chính, quản lý Nhà nước; đoàn thể và các hội do ngân sách Nhà nước chi trả
chỉ là 300.000 người. Số còn lại đều thuộc các đơn vị sự nghiệp như giáo dục, y
tế mà các đơn vị này đều có nguồn thu cả, nên không thể nói thu nhập của các
đơn vị này là thấp. Đến ngay cả các xã cũng có nguồn thu riêng. Vì thế, mức
lương tối thiểu hiện vẫn chỉ là cái sàn, còn các đơn vị có nguồn thu thì họ
được phép trả cao hơn. Ví dụ như vừa rồi chính sách khoán biên chế của một số
đơn vị đã giúp họ có thể nâng lương lên đến được 3,5 lần.
P.V: Cũng có ý kiến cho rằng, khi tiền lương quá thấp,
nhiều cán bộ công chức hiện đang phải sống chủ yếu bằng thu nhập ngoài lương,
và điều này là nguyên nhân chính của tình trạng chất lượng lao động thấp và tệ
tham nhũng, đòi ăn hối lộ đang hoành hành hiện nay?
Ông ĐNL: Không thể lấy lương để so với thu nhập, vì sẽ hết
sức khập khiễng. Tôi biết, nhiều cán bộ Nhà nước còn có các khoản thu nhập
chính đáng như viết bài (công nhân thì không thể viết bài!), đi giảng dạy, tham
dự các hội nghị đều có tiền, góp ý các dự án cũng có tiền... Và như thế, thu
nhập của nhiều cán bộ Nhà nước đâu có thấp!
Vì thế, không thể mang chuyện tiền lương thấp để giải thích về tình trạng
chất lượng lao động kém và tệ tham nhũng, hối lộ. Nhận diện nguyên nhân các
tiêu cực như trên phải có sự xem xét tổng thể từ nhiều phía thì mới tháo gỡ
được.
P.V: Thưa ông, lương của ông hiện nay là bao nhiêu?
Ông ĐNL: Hệ số lương của tôi là 9 X 290.000 đồng, cộng thêm
nửa suất của người phục vụ khoảng 300.000 đồng, cộng thêm tiền đại biểu quốc
hội là một lần lương tối thiểu, tổng cộng là khoảng 3 triệu đồng.
P.V: Nhưng thưa ông, trong đối tượng cán bộ công chức,
không phải ai cũng có điều kiện để tạo cho mình nguồn thu nhập chính đáng ngoài
lương?
Ông ĐNL: Vì thế mục tiêu hướng tới của Đề án Cải cách chính
sách tiền lương trong hầu hết các năm tới (2006, 2007, 2008, 2009) đều sẽ giải
quyết vấn đề về mức lương tối thiểu. Chẳng hạn, từ 1/10/2005, lương tối thiểu
sẽ được tăng lên là 300.000 đồng.
P.V: Sao chúng ta lại cứ phải đi từng bước ngắn, trong
khi không giải quyết ngay vấn đề lương tối thiểu một cách hợp lý nhất như nhiều
nước trên thế giới đã từng làm?
Ông ĐNL: Với nhiều nước, vấn đề nền lương khá đơn giản vì
ngay từ đầu, họ vận động theo cơ chế thị trường. Còn với chúng ta, hiện vẫn
đang gánh những hậu quả nặng nề của chế độ bao cấp nên không phải việc gì cũng
có thể giải quyết ngay được. Việc tăng lương phải phụ thuộc vào nhiều vấn đề,
trong đó có vấn đề về tăng trưởng kinh tế có đáp ứng được việc trả lương cao
hay không. Hiện nay, tăng trưởng kinh tế đưa đến nguồn thu của ngân sách, trong
khi các đối tượng như đã nói ở trên đều hưởng nguồn thu từ ngân sách mà không
có nguồn thu nào khác. Vì thế, chúng ta bắt buộc phải đẩy lương theo tiến trình
của cải cách tiền lương.
Những người hưởng lương từ ngân sách cũng nên có sự so sánh với những người lao
động khác. Chẳng hạn, đời sống của người công nhân lao động là rất khó khăn,
như công nhân xây dựng trực tiếp (chứ không phải sếp xây dựng) đang có khoảng
3-4 chục ngàn người; các công nhân mà ngành nghề không tạo ra nguồn thu lớn.
Hay những người nông dân. Họ đóng góp cho xã hội rất nhiều và đang chiếm 74,4%
dân số, nhưng hiện nay, thu nhập của họ mới chỉ đạt xấp xỉ 400.000 đồng/tháng...
Giải quyết vấn đề tiền lương cần phải được đặt trong một tổng thể chung.
P.V: Nhưng để có thể cải cách triệt để được vấn đề tiền
lương, theo ông, cần có những biện pháp nào?
Ông ĐNL: Nhiều ý kiến cho rằng, cải cách tiền lương khó bởi
số lượng người hưởng lương đông quá, nhưng không phải vậy. Chúng ta hoàn toàn
có thể xã hội hoá các nguồn thu. Mấu chốt của vấn đề, theo tôi, là phải đổi mới
cơ chế tài chính một cách phù hợp.
P.V: Ông có cho rằng mức lương được áp dụng với khu vực
doanh nghiệp, lực lượng mấu chốt của nền kinh tế nước ta hiện nay, là hợp lý?
Ông ĐNL: Nhiều DNNN đã lựa chọn mức lương tối thiểu là cao
gấp 3 lần so với quy định của Nhà nước. Đối với một số DN có lợi thế, làm ăn ổn
định và có thị trường, họ có thể giải quyết được và thậm chí là còn thấp. Còn
khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực ra có kêu là lương của chúng ta
áp dụng thấp, nhưng họ cũng đâu có trả cao quá. Nhưng với nhiều DN khác, chẳng
hạn như khu vực DN ngoài quốc doanh, đã phản ánh rằng khó có thể chịu được quy
định trả lương như hiện nay vì đã cao so với khả năng thực tế của họ.
P.V: Xin cám ơn ông về cuộc trao đổi này!
Phó Thống đốc Thường trực Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Trần Minh
Tuấn:
“Cần xây dựng Hiệp hội Cho thuê tài chính tại Việt Nam”
+ P.V: Hiện nay, hoạt động của các công ty cho thuê tài chính (CTTC) ở
Việt Nam chưa được nhiều người biết đến, theo ông, đâu là biện pháp kích cầu
cho hoạt động này tại Việt Nam?
-Ông Trần Minh Tuấn: Hoạt động của các Công ty CTTC tại
Việt Nam trong thời gian vừa
qua cho thấy việc phát triển loại hình công ty này là một hướng đi phù hợp với
nhu cầu thị trường-tài chính tín dụng ở Việt Nam. Mặc dù đã đạt được những kết
quả bước đầu, song sự hiểu biết nói chung của công chúng đối với hoạt động của
các công ty CTTC còn hạn chế. Nhiều khách hàng tiềm năng chưa tiếp cận và tận
dụng được những lợi ích của phương thức hoạt động do loại hình tổ chức này mang
lại. Điều này đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải phối hợp với các công ty
CTTC có chiến lược tuyên truyền, quảng bá rộng rãi về hoạt động CTTC tại Việt
Nam nhằm nâng cao sự hiểu biết cho công chúng, đồng thời cần có chương trình đào
tạo và xây dựng trung tâm hỗ trợ hoặc tư vấn cho khách hàng, đặc biệt đối với
khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ và cá nhân. Bên cạnh đó cần thiết phải
tạo lập Hiệp hội CTTC để các công ty CTTC chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm, hợp tác
và cùng phát triển.
+P.V: Thưa ông, mức độ rủi ro hiện nay của các công ty CTTC là khá lớn.
Xin ông cho biết ý kiến của mình về vấn đề này?
- Ông Trần Minh Tuấn: Xét về tổng thể hiện nay, hoạt động
của các công ty CTTC là khá an toàn và ổn định. Tình trạng nợ xấu là tương đối
thấp, nằm trong phạm vi an toàn và không ảnh hưởng tới hoạt động bình thường
của các công ty CTTC. Tuy nhiên, do tính đặc thù trong hoạt động của mình nên
hoạt động của công ty CTTC vẫn còn tiềm ẩn những rủi ro. Trường hợp thứ nhất,
đó là rủi ro xuất phát từ việc tập trung hoạt động cho thuê vào một số ít khách
hàng hoặc một ít nhóm khách hàng có chung lĩnh vực kinh doanh hoặc cùng ngành
nghề kỹ thuật. Sự rủi ro cũng có thể xuất phát từ phạm vi và các nghiệp vụ hoạt
động của công ty CTTC chưa đa dạng. (Công ty CTTC chủ yếu thực hiện nghiệp vụ
CTTC, còn các nghiệp vụ khác như cho thuê vận hành, mua và cho thuê lại… đang trong
giai đoạn triển khai thực hiện hoặc chưa được phép thực hiện). Ngoài ra còn có
thể phát sinh những rủi ro khác trong hoạt động CTTC như rủi ro về lãi suất cho
thuê (do thời gian cho thuê dài), rủi ro về tỷ giá đối với các tài sản đầu tư
bằng ngoại tệ, hoặc rủi ro về mặt pháp lý như trường hợp các công ty CTTC phải
mất nhiều thời gian và chi phí tốn kém để thu hồi lại tài sản cho thuê khi bên
thuê vi phạm hợp đồng…
Để khắc phục tình trạng này, Ngân hàng Nhà nước có một số khuyến nghị đối
với các công ty CTTC. Để hạn chế rủi ro trong quá trình hoạt động, các công ty
CTTC cần xây dựng một chiến lược về khách hàng, về các loại tài sản cho thuê và
địa bàn hoạt động trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cho phù hợp với mô hình tổ
chức, cơ chế quản lý và điều hành của công ty CTTC và phù hợp với sự phát triển
của nền kinh tế đất nước. Các công ty CTTC cũng cần nhanh chóng triển khai các nghiệp
vụ mới như: cho thuê vận hành, mua và cho thuê lại… để làm đa dạng hoá nội dung
hoạt động và giảm thiểu tỷ trọng vốn kinh doanh tập trung vào nghiệp vụ đơn
thuần như hiện nay của công ty CTTC.
+P.V: Để hoạt động CTTC phát triển nhanh hơn, ông có kiến nghị gì để
hoàn thiện hành lang pháp lý và chính sách đối với hoạt động mới mẻ này tại
Việt Nam?
- Ông Trần Minh Tuấn: Để khắc phục những hạn chế hiện nay
và tạo điều kiện phát triển nhanh chóng hoạt động CTTC tại Việt Nam, chúng tôi
đề xuất Chính phủ xem xét, chỉnh sửa, bổ sung Nghị định 16 /2001/NĐ-CP ngày
2-5-2001 về tổ chức và hoạt động của công ty CTTC với các nội dung như: các
tiêu chí nhận biết giao dịch CTTC, quyền thu hồi ngay lại tài sản cho thuê của
công ty CTTC khi bên thuê vi phạm hợp đồng cho thuê, bổ sung thêm nghiệp vụ mới
hay việc đăng ký tài sản thuê… Bên cạnh đó, các bộ, ngành liên quan cũng cần
xem xét và hướng dẫn chi tiết các vấn đề có liên quan đến hoạt động cho thuê
như: hướng dẫn thực hiện nghiêp vụ mới, khấu hao tài sản thuê, thu hồi xử lý
tài sản thuê, thuế và đăng ký tài sản thuê…
+Xin cảm ơn ông!
Ông Kiều Hữu Dũng,Vụ trưởng Vụ các Ngân hàng và các Tổ chức tín
dụng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:
“Nên cho phép công ty cho thuê tài chính tham gia thị trường liên
ngân hàng”
Việc huy động vốn nói chung và huy động vốn trung và dài hạn để cho thuê tài
chính trong điều kiện hiện nay và tương lai có nhiều khó khăn bởi tính chất
nguồn vốn ở đây là nguồn vốn trung và dài hạn, mà công ty CTTC lại không có lợi
thế do số lượng lao động hạn chế, mạng lưới hẹp. Do vậy, các công ty CTTC rất
cần sự quan tâm của Ngân hàng Nhà nước và các bộ, ngành liên quan để tháo gỡ
các cơ chế chính sách như cho phép các công ty CTTC tham gia thị trường liên
ngân hàng, được tiếp xúc với các tổ chức đầu tư quốc tế hoặc tiếp nhận các
nguồn vốn tài trợ Chính phủ hoặc phi Chính phủ để tạo nguồn vốn trung và dài
hạn lớn hơn, ổn định hơn cho đầu tư.
Ông Nguyễn Văn Bình, Giám đốc Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng
Công thương:
“Thực tế, bên cho thuê không thể thu hồi ngay được tài sản”
Tại điều 28 Nghị định 16/2001/NĐ-CP quy định “nếu bên thuê không thanh toán
được tiền thuê, bên cho thuê có quyền thu hồi ngay lập tức tài sản cho thuê”.
Trên thực tế rất khó hoặc không thực hiện được quy định này vì: một là bên thuê
vin vào hợp đồng kinh tế là quan hệ dân sự nên họ không giao ngay tài sản cho
công ty mà vẫn chây ỳ, sử dụng tài sản thuê và không thanh toán tiền thuê.
Trong trường hợp này công ty cho thuê tài chính phải khởi kiện lên toà án kinh
tế. Nhưng khi tố tụng giải quyết thì phức tạp kéo dài, đến khi thi hành án thu
hồi được tài sản về thì đã mất giá và không đảm bảo thu hồi gốc và lãi. Mong là
trong tương lai các doanh nghiệp sẽ ý thức được lợi ích của cả 2 bên để
cùng chấp hành đúng pháp luật.
Ông Nguyễn Nam Mộc, giám đốc công ty TNHH phát triển Mỹ thuật và
Công nghệ:
“Doanh nghiệp thuê tài chính cũng cần được hưởng hỗ trợ lãi suất sau
đầu tư”
Trong vấn đề hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, đối với cùng một dự án, cùng một
khách hàng khi vay trung và dài hạn tại các ngân hàng thì doanh nghiệp ược
hưởng hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, nhưng nếu thuê tài chính thì doanh nghiệp
không được hưởng ưu đãi này, mặc dù thuê tài chính thực chất là một hoạt động
tín dụng trung và dài hạn. Vì vậy, đề nghị Bộ Tài chính cân nhắc về vấn đề này
để tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp khi tìm đến với hoạt động của các công ty
CTTC hiện nay.
Đối tượng cho thuê: Tất cả các tổ chức và cá nhân hoạt động
tại Việt Nam,
trực tiếp sử dụng tài sản thuê cho mục đích của mình.
Thiết bị cho thuê: Dây chuyền sản xuất, chế biến; Máy móc
thiết bị sản xuất, khai thác xây dựng và văn phòng; Phương tiện vận tải; Và các
động sản phục vụ sản xuất kinh doanh khác.
Lợi ích của doanh nghiệp:
- Có thể được tài trợ đến 100%
vốn đầu tư
- Không phải thế chấp tài sản
hoặc ký quỹ đảm bảo
- Lãi suất thuê hợp lý do 2 bên
thoả thuận. Thủ tục thuê đơn giản, thuận tiện. Phương thức thanh toán tiền
thuê đơn giản.
- Doanh nghiệp toàn quyền quyết
định trong việc lựa chọn máy móc thiết bị, nhà cung cấp, giá cả, mẫu mã,
chủng loại phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp.
- Hết thời hạn thuê, doanh
nghiệp được mua lại tài sản với giá thấp hơn giá trị thực và được quyền sở
hữu tài sản đó hoặc được ưu tiên thuê tiếp tài sản.
- Nếu đã mua tài sản nhưng
thiếu vốn lưu động thì doanh nghiệp có thể bán tài sản đó cho công ty CTTC
và công ty sẽ cho doanh nghiệp thuê lại. Như vậy doanh nghiệp vẫn có tài
sản để sử dụng mà vẫn có vốn để kinh doanh.
Hồ sơ thuê tài chính gồm:
- Đơn để nghị thuê tài chính
(mẫu được công ty CTTC mà doanh nghiệp chọn cấp miễn phí)
- Hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp
- Phương án thuê tài sản
- Báo cáo tài chính 2 năm gần
nhất (hoặc báo cáo tài chính đến thời điểm gần nhất đối với các doanh
nghiệp mới thành lập)
- Thoả thuận mua bán với nhà
cung ứng
- Các tài liệu liên quan khác,
ví dụ như các tài liệu xác minh tình hình tài chính và hiệu quả kinh tế
của phương án thuê.
Các bước doanh nghiệp cần chuẩn bị khi thuê tài chính:
- Tính toán hiệu quả kinh tế và
lập phương án thuê
- Tìm kiếm và thoả thuận sơ
bộ với công ty CTTC về tài sản thuê dự kiến
- Hoàn thiện hồ sơ thuê tài
chính và liên lạc với công ty CTTC
- Phối hợp với công ty CTTC
trong quá trình mua bán, đăng ký, bàn giao và đưa tài sản thuê vào sử dụng.
- Thanh toán tiền thuê
Địa chỉ một số công ty CTTC:
Công ty cho thuê tài chính I Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam:
141 Lê Duẩn, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Chi nhánh Hải Phòng: 276 A đường Đà
Nẵng. Chi nhánh Quảng Ninh: 159 đường Cao Thắng, thành phố Hạ Long.
Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng công thương Việt Nam:18
Phan Đình Phùng, Hà Nội
Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam: tầng
3 toà nhà Thăng Long 103 Láng Hạ, Hà Nội. Chi nhánh TP Hồ Chí Minh: lầu 9 cao
ốc 146 Nguyễn Công Trứ, Quận 1.
Công ty cho thuê tài chính ANZ/V-Trac: 14 Lê Thái Tổ, Hà Nội
(Theo http://www.mof.gov.vn)