Quản lý bằng pháp luật – Một rào cản tư duy
Quả thật, nếu so “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật” với tình trạng quản lý bằng mệnh lệnh hành chính như những năm kinh tế bao cấp thì đây là bước tiến lớn của thời kinh tế thị trường. Thế nhưng, câu hỏi quan trọng và không kém phần khó khăn là “quản lý bằng pháp luật” như thế nào? Quản lý bằng pháp luật ở nước ta dường như đang gặp nhiều rào cản về tâm lý, văn hoá pháp lý xuất phát từ phía chính quyền!
Pháp luật của ai?
Dĩ nhiên pháp luật ở nước ta do Nhà nước ban hành, nên nó nằm trong tay Nhà
nước. Nhưng Nhà nước là ai? Có phải chỉ là tập hợp một cách cơ giới các cơ quan
nhà nước và các quan chức nhà nước không? Rõ ràng là không. Nhưng một số cơ
quan, quan chức – đại diện cho Nhà nước lại ngây thơ nghĩ rằng họ là Nhà nước
và có quyền dùng pháp luật – công cụ của Nhà nước để quản lý bất kỳ cái gì mà
họ thấy khó, bất kỳ lúc nào mà họ muốn, bất kỳ ở đâu. Chẳng hạn đã từng có Thứ
trưởng Bộ Xây dựng ký văn bản cấm các doanh nghiệp trong ngành sử dụng nguyên
liệu của doanh nghiệp ngoài ngành sản xuất; Bộ Tài chính cho ra văn bản về mua
hoá đơn; văn bản về cắm biển báo tốc độ; dự thảo văn bản cấm karaoke; dự thảo
văn bản cấm xe máy ngoại tỉnh lưu thông thường xuyên ở Hà Nội…
Không giống như ở các nước pháp luật xuất phát từ thực tế, trên những đòi
hỏi của thực tế, pháp luật ở nước ta thường là do các cơ quan nhà nước ban hành
(đôi lúc được hiểu như “ban phát”) trước mà không hỏi người dân, sau đó người
dân mới tham gia thụ động. Pháp luật được định hình theo quan niệm, hoài bão
của các nhà soạn thảo dựa trên kinh nghiệm cá nhân trong quá khứ hoặc học hỏi
được từ nước ngoài nhưng lại được diễn giải theo cách của họ. Hoặc lúc khó quản
quá thì dùng pháp luật để cấm như nói ở trên. Do mang trong đầu quan niệm như
thế, nhà làm luật đôi lúc bảo thủ với ý tưởng của mình, không có cái nhìn bao
quát, không hiểu được lợi ích của đối tượng điều chỉnh, giành phần dễ về mình.
Do đó mà “hợp pháp nhưng không hợp lý” (biển báo tốc độ và bắn tốc độ là ví
dụ), nên khi đưa vào thực hiện gặp nhiều trục trặc, khó mà làm theo nên người
dân hoặc thúc thủ không dám làm gì vì sợ phạm luật, hoặc buộc phải “xé rào” để
mưu sinh. Kết quả là đạo luật chết yểu, hoặc phải chỉnh sửa rất nhiều lần trong
một thời gian ngắn.
Cái nhìn bề trên
Ngày xưa, ở ta quan lại được xem như cha mẹ dân, những điều tranh chấp được
cáo quan để chờ phán xử – một tư thế thấp bé và lệ thuộc trong mối quan hệ giữa
đương sự và quan toà. Quan hệ giữa quan và dân là từ trên xuống, ban phát, bề
trên và cho đến hôm nay dường như vẫn có bóng dáng của cái nhìn như thế. Sau
đây là một vài biểu hiện:
Phương pháp điều chỉnh mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước và công dân ở ta là
mệnh lệnh đơn phương, hình thành từ quan hệ quyền lực, một sự phục tùng giữa
một bên có quyền nhân danh Nhà nước ra mệnh lệnh thi hành và một bên có nghĩa
vụ thi hành mệnh lệnh đó. Trong khi đó, ở Anh chẳng hạn, ngoài việc quy định
thẩm quyền của các cơ quan hành chính và mối tương quan pháp lý giữa các cơ
quan đó với công dân, theo luật hành chính, những công dân này có quyền hạn
nhất định đối với các cơ quan kia theo lẽ công bằng, tức là ràng buộc hai
chiều.
Hiến pháp nước ta quy định quyền tự do kinh doanh của công dân, nhưng có lẽ
cũng một phần vì cái nhìn bề trên, quyền này có lúc được hiểu là do Nhà nước
ban phát, có nguy cơ bị phụ thuộc rất nhiều vào ý chí của một vài cơ quan nhà
nước. Công dân được quyền kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm
mới chỉ là một mặt của vấn đề, mặt thứ hai là chỉ các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền theo quy định của pháp luật mới được phép ra các lệnh cấm hoặc hạn chế
kinh doanh.
Với tư duy bề trên, khái niệm Nhà nước pháp quyền cũng đang có xu hướng hiểu
lệch. Pháp luật thường được hiểu là của Nhà nước, vì thế Nhà nước – mà thực ra
là một số cơ quan, quan chức nhà nước có thể ban hành lúc nào muốn, lúc nào
thấy bí chẳng hạn; người ta hay quá nhấn mạnh đến tính tối thượng của “pháp” –
pháp luật, nhưng lại quên “quyền” – các quyền vốn có tự lúc sinh ra của con
người; tính tối thượng của pháp luật dường như có nơi vẫn được hiểu là tối
thượng đối với dân thôi, còn quan thì không. Đúng ra, cần đặt đúng thứ tự là
“Nhà nước của pháp quyền” chứ không phải đảo thành “pháp quyền của Nhà nước”.
Áp dụng luật: thiếu mềm dẻo
Các nhà nghiên cứu vẫn hay đặt câu hỏi: Bộ luật Dân sự Pháp đến nay đã ra
đời đã 200 năm (1804), nhưng vẫn có hiệu lực và hầu như không thay đổi về tư
tưởng lớn, bất chấp những biến đổi về kinh tế và khoa học-công nghệ, tại sao? Vì
tư duy của những nhà làm luật Pháp hồi đó xác định ngay từ đầu rằng, ngay cả
một nhà làm luật nhìn xa trông rộng nhất cũng không thể thấy hết được mọi vấn
đề nảy sinh trong thực tế, vì thế cần phải để một khoảng tự do cho thẩm phán
trong quá trình áp dụng có thể làm cho luật phù hợp với cuộc sống, đáp ứng được
những thay đổi trong cuộc sống. Mặt khác, thẩm phán cùng với nhà làm luật cùng
phát triển, mở rộng các quy định của Bộ luật và đem lại những tư tưởng pháp lý
mới cho Bộ luật. Như vậy là ở đây thẩm phán có quyền giải thích luật trong khi
xét xử, và đây chính là nguyên nhân then chốt làm cho Bộ luật Dân sự Pháp được
“cập nhật” thường xuyên, nên có sức sống bền lâu đến vậy. Nhìn sang đảo quốc
Anh thì thẩm phán đã có quyền sáng tạo pháp luật ngay từ đầu, án lệ (phán xử
của vụ án trước làm hình mẫu cho vụ tương tự sau này) đã trở thành nguyên tắc
xét xử ở đó.
Trong khi đó, thẩm phán Việt Nam vẫn có thói quen chỉ áp dụng văn bản thành
văn và chờ hướng dẫn xét xử của toà cấp trên (mà không có quyền sáng tạo pháp
luật) nên không hiếm khi phán quyết của Tòa án trở nên lạc lõng, xa lạ với đời
thường. Ví dụ: việc bán nhà đang trong quá trình quy hoạch hoặc xây dựng của
các công ty kinh doanh nhà ở đã thành thông lệ phổ biến từ nhiều năm nay, vậy
mà thẩm phán Việt Nam vẫn loay hoay quy chiếu việc “mua nhà trước khi xây” với
khái niệm hàng hoá, và không hiếm khi tuyên bố hợp đồng vô hiệu, bất lợi cho
khách mua nhà (Vụ Phú Mỹ Hưng). Thói quen này nhiều khi cũng khiến cho việc áp
dụng pháp luật tại toà án thành cứng nhắc, vô cảm, “như chiếc chày vồ lạnh lùng
bổ xuống”, thiếu lẽ công bằng. Trong đợt cúm gà năm 2004, hai nông dân nuôi gà
mỗi người phải huỷ hàng chục ngàn con gà, bị trắng tay, đã thế lại bị kiện ra
toà vì làm gì còn tiền để mà trả nợ cho đại lý thức ăn. Theo báo Tuổi Trẻ đưa
tin, toà đã tuyên buộc hai ông phải trả nợ ngay cho chủ nợ, nếu không sẽ phong
toả số tiền hỗ trợ 5000 đ/con gà để chuyển cho chủ nợ. Nếu đúng như báo đưa,
dường như ở đây toà đã có phần cứng nhắc, không tính đến tình huống thực tế để phán
quyết, mà chỉ chăm chăm chiểu đúng theo luật mà xử.
Niềm tin nơi công lý
Chính quyền ở ta vẫn nhiều khi hoạt động dựa trên sự đề phòng: công chức
giải quyết việc cho dân luôn sợ dân làm sai, mình bị trách nhiệm, nên đẻ ra
nhiều luật lệ con để trói cho chặt hơn; thấy Luật Doanh nghiệp thông thoáng mới
giật mình, đẻ ra thêm ít giấy phép con; Tổng cục thuế vì sợ nên bắt các doanh
nghiệp phải “làm địa chính”, vẽ sơ đồ nơi có trụ sở công ty… Nhà nước ban hành
luật để kiểm soát và ngăn chặn hành vi xấu -điều này tốt thôi. Nhưng nếu sự
kiểm soát, ngăn chặn có khi chỉ vì một vài hành vi xấu của một số kẻ lợi dụng
kẽ hở, mà ảnh hưởng chung đến số đông người tốt, tức là ít khuyến khích người
tốt mà chú trọng ngăn chặn người xấu, thì có gì đó không ổn.
Vì thiếu niềm tin nên nhiều lúc nặng về trừng phạt, ngay cả trong giao dịch
dân sự. Chẳng hạn, theo Luật Phá sản doanh nghiệp 1993, vỡ nợ ẩn chứa nhiều dấu
hiệu vi phạm pháp luật hình sự; BLHS 1999 cung cấp vô số tội danh có thể vận
dụng để trừng trị người vỡ nợ, người quản trị, điều hành các công ty vỡ nợ.
Thói quen dùng quyền lực công can thiệp vào các tranh chấp kinh tế bằng các
biện pháp hình sự hoặc hành chính dường như vẫn để lại dấu ấn cho đến tận ngày
nay. Điều này có lẽ cũng có nguồn gốc từ xưa: cổ luật Việt Nam nặng về hình
luật, khi can thiệp vào quyền tài sản hay tự do khế ước, cũng được thể hiện bởi
những công cụ của hình luật, vi phạm hình thức khế ước, bội ước, bội tín đều
được xử lý bởi hình phạt.
Pháp luật còn nhiều biểu hiện thiếu công bằng: có thể tìm ra vô số các quy
định ưu đãi cho doanh nghiệp nhà nước trong các văn bản pháp luật; hoặc khi có
sửa đổi luật, những điều khoản có lợi cho doanh nhân thường không được thực
hiện ngay (ví dụ rút gọn thủ tục đăng ký đầu tư), vì có người không còn quyền
lợi gì nữa, nhưng ngược lại, các điều khoản bất lợi cho doanh nhân lại được đưa
vào thực thi nhanh chóng. Do vậy, có lúc càng sửa đổi thì doanh nhân càng thấy
khó. Thay đổi theo chiều hướng tốt cho môi trường kinh doanh nhiều lúc gặp phải
lực cản là vì thế: thói quen không dễ thay đổi và quyền lợi bị động chạm. Thiếu
công bằng nên khó gây được niềm tin, mà đã không có niềm tin thì khó để người
ta làm theo, hoặc làm theo nhưng vẫn ấm ức.
Tình trạng “chạy tội”, “làm luật” với nhà chức trách trở nên khá phổ biến. Hơn
nữa, tình trạng áp dụng pháp luật ở toà còn có nhiều oan sai, cứng nhắc, quyền
lợi của các bên tranh chấp nhiều lúc chưa được đặt đúng trọng tâm, sự nhũng
nhiễu của những người làm việc ở toà, tình trạng “chờ được vạ má đã sưng”, vai
trò của luật sư là cùng với thẩm phán tìm ra sự thật chưa được hiểu đúng nên dễ
bị đánh đồng về một phe với bị cáo, bị can, thẩm phán nhiều lúc vẫn còn cái
nhìn nặng nề coi ai cũng là tội phạm tiềm năng… Những điều này khiến dân không
cảm thấy an tâm khi viện đến toà. Cộng lại, tất cả những hiện tượng nói trên
khiến pháp luật khó làm an được dân.
SOURCE: NHÀ QUẢN LÝ
ONLINE - NGUYỄN ĐỨC LAM
Trích dẫn từ:
http://nhaquanly.vn/Chi-tiet-tin/886/Quan-ly-bang-phap-luat—Mot-vai-rao-can-tu-duy.html