Quyền tự chủ quốc gia và chuẩn quốc tế trong kinh tế - Đỗ Tuyết Khanh
Trong những lời buộc tội toàn cầu hóa, có một luận điểm thường được đưa ra, đáng ngạc nhiên là xuất phát từ những khuynh hướng chính trị rất khác nhau nếu không muốn nói đối nghịch: từ tả sang hữu, các phong trào đối kháng thường tố cáo rằng toàn cầu hoá xâm phạm chủ quyền của các quốc gia, thậm chí đe dọa sự sống còn của các nhà nước dân tộc (nation states).
Đối với phía tả, toàn cầu hoá
đồng nghĩa với chủ nghĩa tự do cực đoan trong kinh tế (ultra-liberalism).
Trước sự bành trướng và sức mạnh khổng lồ của các đại công ty đa quốc gia, các
nhà nước phải giới hạn lại vai trò và phạm vi hoạt động của mình và càng yếu
thế hơn nữa khi phải tuân thủ các quyết định ràng buộc của các tổ chức quốc tế
được coi như vừa là công cụ vừa là hiện thân của chủ nghĩa tự do cực đoan này
như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund - IMF), Ngân hàng
Thế giới (World Bank) và Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade
Organization – WTO).
Theo phái hữu, nhất là ở Mỹ, chủ
quyền quốc gia bị xâm phạm khi luật quốc tế không cho phép nhà nước bảo vệ
quyền lợi các thành phần dân chúng qua các chính sách hành chính hay pháp chế.
Thí dụ mất chủ quyền hay được đơn cử nhất là việc chính quyền Mỹ không được
dùng đến các biện pháp đơn phương quen thuộc để o ép các nước khác vì như thế
vi phạm các quy định của WTO, hoặc phải chấp hành các quyết định của bộ phận
giải quyết tranh chấp của WTO sau các vụ kiện.
Điều rõ ràng là toàn cầu hoá đã
đi kèm với sự xuất hiện của nhiều yếu tố mới, như Internet và những công nghệ
tiên tiến, thay đổi cục diện và mối tương quan giữa các tác nhân : chính quyền,
tổ chức quốc tế, doanh nhân, và xã hội công dân. Trong bối cảnh đó, vai trò của
các nhà nước dân tộc đã thay đổi thế nào, chủ quyền quốc gia trong kinh tế có
thật sự bị thương tổn không và cho đến mức độ nào? Ở đây cần phân biệt chủ
quyền (sovereignty) và quyền tự chủ (autonomy), tuy trong công
luận và sách vở chỉ thường dùng chữ chủ quyền để nói đến quyền tự chủ. Sự lẫn
lộn dễ hiểu vì thật ra hai cụm từ này chỉ là hai mặt của một vấn đề: chủ quyền
là một khái niệm pháp lý, de jure, và qưyền tự chủ là biểu hiện thực
tiễn, de facto, của khái niệm ấy. Do đó chữ chủ quyền thường được
hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm cả hai mặt này. Nếu theo định nghĩa hẹp, như
trong công pháp quốc tế, chủ quyền là quyền lực tối cao ban hành và áp dụng các
luật lệ và chính sách, cai quản mọi hoạt động xã hội và chính trị trong một
nước, thì có thể nói không nơi nào chủ quyền bị sứt mẻ, kể cả trong những nước
thành viên của Liên hiệp châu Âu, vì chưa có hệ thống nào thay thế, ở mức quốc
gia, các nhà nước trong chức năng ấy. Nhưng các nhà nước có thật sự chủ động
tới đâu trong việc chọn lựa chính sách và các luật lệ và biện pháp thi hành lại
là chuyện khác. Quyền tự chủ ấy bị giới hạn bởi nhiều ràng buộc và cản trở, ở
mức độ quốc gia và quốc tế, do nhiều yếu tố, chủ yếu là tình hình kinh tế và
chính trị thế giới, tương quan lực lượng giữa các nước, và hệ thống pháp lý
quốc tế.
Trong bài này, chúng ta sẽ tìm
hiểu sự tương quan giữa quyền tự chủ trong kinh tế và các chuẩn kinh doanh quốc
tế, chuẩn ở đây định nghĩa là những quy tắc được đa số công nhận hay bắt buộc
phải theo, dẫu thành văn qua các hiệp ước song phương và đa phương, các quy
định hay chỉ đạo (guidelines) của các tổ chức quốc tế, các điều lệ và
tiền lệ (jurisprudence) của công pháp quốc tế, hay bất thành văn qua các
thông lệ (established practice) đã trở thành nguyên tắc chung trong hoạt
động và bang giao kinh tế giữa các nước, và cả các quyết định đơn phương của
một vài nước.
Quốc gia, chủ quyền và cộng đồng quốc tế trong lịch sử
Bất cứ tập thể nào khi hình thành
đều đặt ra luật lệ để tổ chức cuộc sống chung, tránh và giải quyết các mâu
thuẫn xung đột. Hình thức tập hợp càng tinh vi, luật lệ càng nhiều và càng chi
tiết, càng giới hạn sự tự do của mỗi cá nhân. Tại châu Âu, mô hình tập hợp trên
cơ sở một lãnh thổ quốc gia như hiện nay được coi như xuất hiện vào thế kỷ XV
khi vua Louis XI thống nhất toàn nước Pháp dưới quyền cai trị của mình năm
1483. Nhà triết học và kinh tế gia Pháp Jean Bodin là người đầu tiên nêu lên và
phân tích khái niệm chủ quyền năm 1576, nhưng phải đợi đến năm 1648, khi hai
hiệp ước Westphalia được ký kết tại hai thành phố Đức Munster và Osnabrück,
chấm dứt cuộc chiến kéo dài 30 năm (The Thirty Years's War) giữa các
nước Âu châu, vấn đề chủ quyền quốc gia mới được đặt ra như khái niệm nền tảng
của một "công pháp Âu châu" để chi phối các quan hệ giữa các nước
liên can. Do đó các hiệp ước Westphalia được coi là điểm khởi đầu cho sự hình
thành và tiến hoá của nền công pháp quốc tế hiện nay, và khái niệm chủ quyền,
theo nghĩa thông thường, còn được gọi là mô hình Westphalia.
Theo tiền đề của mô hình Westphalia, mỗi quốc gia là một tác nhân của cộng đồng
quốc tế, bình đẳng với các nước khác và có toàn quyền tự chủ trong những sinh
hoạt phục vụ lợi ích của mình. Mỗi nước có toàn quyền định đoạt mọi việc trên
lãnh thổ của mình và không được can thiệp vào nội bộ nước khác. Nói cách khác,
chủ quyền quốc gia dừng lại ở biên giới lãnh thổ, cũng như tự do của mỗi con
người chấm dứt ở nơi tự do của người khác bắt đầu . Và để được các nước khác
công nhận chủ quyền của mình, mỗi nước cũng phải công nhận chủ quyền của nước
khác và chấp nhận tự giới hạn như thế. Cũng như chấp nhận những giới hạn khác
do những nghĩa vụ quốc tế phải đảm nhận khi thoả hiệp với nước khác hay tham
gia vào một hình thức tập hợp đa quốc gia.
Song song với đà tiến triển của
khoa học, với sự phát triển của kinh tế thế giới và các mối quan hệ giữa các
nước, nền công pháp quốc tế cũng trở thành một kho luật ngày càng phong phú và
chi tiết hơn. Mỗi hoạt động kinh tế mới hoặc đã phát triển thành một lĩnh vực
quan trọng của bang giao quốc tế đều dẫn đến một số quy tắc đưa vào luật quốc
tế qua các hiệp ước đa phương. Tuy nhiên, cho đến cuối thế kỷ XX, vị trí độc
tôn của nhà nước vẫn là định đề cho mọi thảo luận thương thuyết dẫn đến những
quy tắc mới. Điểm khác biệt giữa thời kỳ hiện đại và các thế kỷ trước đây là
tốc độ ngày càng tăng của đà tiến hoá khiến những thay đổi trong xã hội, trên
nhiều phương diện, trở thành thay đổi về bản chất chứ không chỉ về mức độ. Toàn
cầu hoá đã từng xảy ra trong lịch sử, nếu đo bằng sự tự do giao lưu thì trên
vài phương diện như quyền tự do đi lại của con người và các giao dịch tài
chính, còn cao hơn ở cuối thế kỷ XIX và trước đệ nhất thế chiến so với hiện
nay. Nhưng sự xuất hiện của Internet và những công nghệ mới, cộng với tốc độ
tiến hoá của tình hình chung đã đặt ra nhiều vấn đề mới, trong đó có vai trò
của các nhà nước và quan hệ giữa các nước trong cộng đồng quốc tế.
Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế toàn cầu hoá
Ở đây chỉ nêu ra vài thí dụ cho
thấy khả năng chủ động của các nhà nước đã giảm sút trên nhiều mặt, khiến quyền
tự chủ cũng không còn được nguyên vẹn: môi sinh, giao dịch tài chính, vệ sinh y
tế và Internet.
Thảm họa Tchernobyl năm 1988 là
một cú sốc cho nhiều người bỗng thấy vấn đề môi sinh quả là vô biên giới, một
biến cố xảy ra cách xa cả ngàn cây số cũng đe doạ trực tiếp mạng sống mỗi
người, và không nhà nước nào có thể chế ngự được những hậu quả chưa lường hết
được cho dân mình. Trước đó đã có nhiều vụ ô nhiễm biển cả, những “thuỷ triều
đen” gây ra bởi tàu bè từ nước khác đến, gieo khốn khổ cho cả một vùng, song đa
số công chúng vẫn tặc lưỡi coi như đấy là những bất trắc đáng tiếc nhưng khó
tránh khỏi của sự phát triển kinh tế, cái giá phải trả cho “tiến bộ” và phồn
thịnh. Sau Tchernobyl cái nhìn của số đông thay đổi hẳn: ưu tiên là bảo vệ môi
trường và con người, là thành lập một hệ thống pháp lý quốc tế để kiểm soát và
phòng ngừa các tai hoạ cho thiên nhiên. Đổi lại, cái giá sẵn sàng chấp nhận là
giới hạn lại quyền tự chủ quốc gia trước quyền lợi chung, vì thiên nhiên là tài
sản chung của nhân loại. Luật quốc tế về môi trường dần dà hình thành như một
lĩnh vực riêng biệt, một môn học mới của công pháp quốc tế, sẽ còn tiếp tục
phát triển nhiều trong thời gian tới. Các hiệp ước đa phương về môi trường vẫn
tiếp tục được bàn thảo, ngay cả trong những tổ chức thoạt nhiên có vẻ không
liên quan gì đến vấn đề này như WTO. Các chính quyền không còn có thể bỏ lơ vấn
đề môi sinh khi hoạch định chính sách phát triển kinh tế, và nhất là trong
những nước nghèo, khó có thể cưỡng lại sức ép của công luận và bất chấp các
chuẩn quốc tế về môi trường.
Một trong những biểu hiện của
toàn cầu hoá hay được nhắc đến là các giao dịch tài chính. Các thị trường tài
chính quốc tế, với một số lượng giao dịch hàng ngày cao gấp mấy lần ngân sách
quốc gia cả năm của những nước nghèo nhất, quả là một sức mạnh rất đáng kể,
nhất là khi các giòng chảy tư bản có thể di chuyển rất nhanh từ nước này sang
nước khác, ảnh hưởng lên giá trị đồng tiền và tình hình kinh tế của cả một
nước. Hơn thế nữa, với mức độ giao lưu và phụ thuộc vào nhau rất cao hiện nay,
mọi biến động ở một nơi sẽ lan ra ngay trong cả một khu vực và có thể đi xa hơn
nữa, vì ảnh hưởng dây chuyền còn được nhân thêm nữa với tốc độ hiện nay của các
phương tiện thông tin và giao dịch điện tử. Sự khủng hoảng tiền tệ ở Á châu năm
1997 cho thấy rõ sự bất lực của một số nhà nước, không kiềm chế được ảnh hưởng
của các luồng vốn và phải tuân theo chỉ thị của IMF để ra khỏi bế tắc.
Cũng như các thị trường tài chính
và chứng khoán, các công ty đa quốc gia có thể bất cứ lúc nào quyết định dời
nơi sản xuất sang nước khác, gây ra thất nghiệp và hàng loạt vấn đề kinh tế và
xã hội khác, mà chính quyền sở tại không có cách nào ngăn chận, ngoài vài biện
pháp vá víu chủ yếu để trấn an dư luận trong nước. Hiện tượng xuyên quốc gia (transnationalism)
cho thấy rõ thế yếu của các nhà nước, bị gò bó trong khuôn khổ lãnh thổ quốc
gia, trong khi các đại công ty và thị trường quốc tế tự do hoạt động trên bàn
diện thế giới. Quan niệm chủ quyền theo mô hình Westphalia thành vô nghĩa khi
quyền lực của thị trường vượt qua quyền lực của nhà nước, nhất là khi chính
quyền ở vào thế phải ve vãn các công ty hay khi chính sách kinh tế của một nước
phụ thuộc vào sự phồn thịnh và lợi ích của các công ty. Để thu hút đầu tư, các
chính quyền địa phương và trung ương đua nhau đề nghị những biện pháp giảm thuế
miễn thuế, tạo ra cạnh tranh về thuế má (tax competition) trong
một nước và giữa các nước. Các nhà nguyên thủ quốc gia khi đi kinh lý nước khác
bao giờ cũng được tháp tùng bởi một đoàn các nhà doanh nghiệp và các hợp đồng
thương mại được ký kết hay không trong những dịp ấy được coi như quan trọng
ngang với, nếu không hơn, các hoạt động ngoại giao chính thức.
Vấn đề vệ sinh y tế phần nào cũng
vượt khỏi phạm vi kiểm soát của các nhà nước. Trước các dịch sida (Aids),
SARS và cúm gà, lan truyền rất nhanh với các luồng giao lưu người và
hàng hoá, các nhà nước bắt buộc phải hợp tác và cầu viện đến sự hợp tác của
nước khác, không nước nào có thể bế quan toả cảng mà tránh khỏi hay khắc phục
được các hiểm họa này. Bệnh bò điên và bệnh sốt aptơ của súc vật cũng bất chấp
biên giới, đòi hỏi các nước phối hợp với nhau, biện pháp của nước này đương
nhiên ảnh hưởng lên chủ trương của nước khác, chẳng nước nào hoàn toàn chủ động
quyết định chính sách mà còn phải tuân theo các chuẩn của những tổ chức quốc tế
như Office international des épizooties (OIE) hay Uỷ Ban Codex
Alimentarius của tổ chức FAO (Food and Agriculture Organization)
thuộc Liên Hợp Quốc.
Cuối cùng, ở thời đại Internet,
thế giới bước vào một không gian ảo xoá bỏ mọi biên giới địa lý, mọi khoảng
cách thời gian, đưa sự tự do thông tin lên đến mức gần như tuyệt đối, hầu như
ra khỏi vòng kiểm soát các nhà nước. Cho tới nay chưa bao giờ các nhà nước có
vẻ mất chủ động như thế trước sự phát triển vũ bão của cả một vùng kinh tế mang
nhiều hình thức mới lạ, khó có thể quản lý với những phương pháp và hệ thống cổ
truyền. Đây là đề tài cho rất nhiều tranh cãi, và đa số kết luận rằng Internet
trực tiếp đe doạ các thể chế chính trị truyền thống và có thể cả khái niệm chủ
quyền quốc gia, vì những lý do chính sau đây.
Đặc điểm của Internet là vừa toả
rộng khắp toàn cầu vừa rất dễ thâm nhập đối với dân chúng và, khác với các hệ
thống truyền tin khác như điện thoại, viễn thông, phát thanh và truyền hình,
hầu như thoát khỏi sự kiểm soát bằng các phương pháp kỹ thuật của nhà nước.
Không gian xi-be là một thế giới ảo nhưng có hậu quả trong thế giới thực, các
hoạt động xi-be nằm trong một địa hạt pháp chế (jurisdiction)
nhưng ảnh hưởng lan đến nhiều địa hạt pháp chế khác. Ảnh hưởng lên nhiều nước
là đặc tính của mọi hoạt động và giao dịch quốc tế nhưng chỉ có Internet mới
làm nảy sinh một hình thức văn hoá mới, xuyên quốc gia, một nền văn hoá xi-be (cyber-culture)
xây dựng trên khái niệm tự do toàn diện, chối từ sự kiểm soát của bất kỳ thể
chế nào, và thách thức ba chức năng truyền thống của nhà nước: an ninh quốc
gia, điều tiết hoạt động kinh tế và bảo vệ các giá trị xã hội và luân lý. Đầu
tiên, bất cứ nhóm chính trị hay tôn giáo cực đoan, hay thành phần chống đối nào
cũng có thể dùng Internet để khích động dư luận trong một nước và tuyên truyền
đến cả thế giới. Sau biến cố 11.9, Internet càng tỏ rõ tác dụng kinh hồn của
một mạng lưới chỉ trong vài phút có thể truyền đi khắp nơi những thông tin có
thể làm rung chuyển công luận, thậm chí kéo hàng triệu người xuống đường biểu
tình, đốt phá. Những tấm hình quân đội Mỹ tra tấn, hành nhục tù nhân Iraq trong
nhà tù Abu Ghraib làm cả thế giới công phẫn, những bức biếm họa về Mahomet trên
tờ báo Jyllands Posten khiến hàng loạt các nước Hồi giáo, từ Trung Đông đến
châu Á, tẩy chay hàng hoá Đan Mạch, chỉ là hai thí dụ cho thấy Internet có thể
tác động lên cả bang giao quốc tế chứ không chỉ thách đố khả năng gìn giữ trật
tự an ninh nội bộ của một chính quyền.
Trên bình diện kinh tế, sự phát
triển của các giao dịch qua Internet cũng là bài toán cho các chính quyền, một
mặt cổ vũ những tiềm năng đầy hứa hẹn của ngành thương mại điện tử, mặt khác
lúng túng khi áp dụng cho lĩnh vực mới này những phương pháp quản lý kinh tế cổ
điển. Sự tranh cãi từ mấy năm nay về quyền đánh thuế hoặc truy tố các công ty
Internet của nước ngoài là một thí dụ. Cuối cùng, Internet cũng thách đố một
vai trò cơ bản khác của nhà nước là bảo vệ văn hoá truyền thống và đạo đức xã
hội. Đạo luật Mỹ về sự nghiêm chỉnh trong truyền thông (Communications
Decency Act) nói lên sự lo âu của chính quyền trước ảnh hưởng của các sản
phẩm đồi trụy xi-be (cyberporn) lên sự lành mạnh của xã hội. Ban hành
ngày 8.2.1996, đạo luật này ngay lập tức bị các nhóm sử dụng Internet (và Bill
Gates!) kiện là phi hiến pháp và chỉ 4 tháng sau là bị đình chỉ áp dụng khi ba
quan toà liên bang quyết định là nó vi phạm Tu chính thứ Nhất của hiến
pháp Mỹ (First Amendment). Tại Đức, chính quyền tìm cách cấm cản các
trạm Web của những nhóm tân Nazi để bảo vệ những giá trị dân chủ rất quan trọng
đối với xã hội Đức. Ở Trung Quốc và Việt Nam, nhà nước viện lý do bảo vệ văn
hoá dân tộc trước văn hoá ngoại lai và đề phòng âm mưu chống phá chính trị để
kiểm soát Internet. Sau biến cố 11.9, Internet lại càng trở thành mục tiêu
kiểm soát hàng đầu của các nhà nước, nhất là Mỹ trong cuộc chiến tranh chống
khủng bố.
Bốn lĩnh vực nêu trên chỉ là vài
trong nhiều thí dụ các lĩnh vực vượt ra khỏi khả năng quản lý của một nước, do
đó đòi hỏi phải có phối hợp và điều tiết ở mức đa hay siêu quốc gia và dẫn đến
sự thành lập của các chuẩn quốc tế, giới hạn lại quyền tự chủ của các quốc gia.
Internet là lĩnh vực mới nhất nhưng đã bắt đầu có một số chuẩn kỹ thuật như các
giao thức (protocol) do tổ chức Internet Society (ISOC) soạn
thảo, và tất cả các tổ chức quan trọng như WTO, Tổ chức hợp tác và phát triển
kinh tế (Organisation for Economic Cooperation and Development - OECD),
Tổ chức sở hữu tri thức thế giới (World Intellectual Property Organization -
WIPO), v.v., đều lập ra các nhóm làm việc, các uỷ ban để nghiên cứu, thảo
luận về các đề tài liên quan đến Internet và thương mại điện tử, sửa soạn cho
việc lập các chuẩn quốc tế. Có thể nói tất cả những lĩnh vực hoạt động kinh tế
khác cũng đều được chi phối bởi một hệ thống quản trị đa phương hoặc siêu quốc
gia gồm các quy định, điều lệ và các tổ chức quản trị những quy định ấy. Trong
phạm vi bài này sẽ chỉ đi sâu vào hai trường hợp điển hình nhất của vấn đề
tương quan giữa quyền tự chủ quốc gia và chuẩn quốc tế trong hệ thống ấy : tổ
chức WTO và Liên hiệp châu Âu.
Các quốc gia và “luật WTO”
Như đã nêu trên, một trong những
cái “tội” lớn nhất của WTO trong mắt các phong trào chống đối là xâm phạm “chủ
quyền” quốc gia. Có thể nói trong hiện tượng “quản trị toàn cầu” (global
governance) hay được coi như một nguy cơ của toàn cầu hoá, WTO có một vị
trí và uy thế đặc biệt so với các tổ chức khác. Thương mại là cái gì đụng chạm
trực tiếp đến cuộc sống mỗi người và bao gồm hầu hết các lĩnh vực hoạt động
kinh tế ngày nay, nên vai trò của WTO càng nổi bật thì càng là đề tài cho tranh
cãi và cho cả hiểu lầm. Một trong những sự hiểu lầm là vấn đề chủ quyền quốc
gia, đã được đặt ra ngay từ năm 1948, khi Quốc Hội Mỹ giờ phút chót không thông
qua Hiến chương La Havana để thành lập tổ chức thương mại quốc tế ITO vì một số
dân biểu chống đối, nêu lên nguy cơ mất chủ quyền. Hiểu lầm là vì cả tổ chức
GATT ra đời thay cho ITO năm 1948 cũng như tổ chức WTO kế thừa GATT từ 1995 đều
không dính dáng đến khái niệm chủ quyền quốc gia. Thành viên của GATT/WTO không
phải là các quốc gia mà là các chính quyền cai quản những “lãnh thổ thuế quan
có quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh”. Hồng Kông không có chủ quyền quốc
gia nhưng là thành viên sáng lập của GATT/WTO, trong khi Trung Quốc sau 15 năm
thương thuyết mới được gia nhập. GATT/WTO không xây dựng trên nguyên tắc chủ
quyền (sovereignty-based) như các tổ chức thuộc Liên Hợp Quốc mà trên
thoả ước (treaty-based) với những quy tắc và cách vận hành riêng. Nhưng,
nếu xem như chủ quyền đồng nghĩa với quyền tự chủ, theo định nghĩa rộng đã nêu
ở phần đầu bài này, và xét rằng WTO dựa trên khái niệm quyền tự chủ, thì chúng
ta có thể tìm hiểu WTO có “xâm phạm chủ quyền” vì giới hạn lại quyền tự chủ của
các nước thành viên hay không.
WTO có nhiệm vụ quản lý khoảng 30
hiệp ước và thoả thuận áp dụng cho hầu hết các lĩnh vực kinh tế, chi phối không
những hầu hết toàn bộ các luồng thương mại trên thế giới mà cả các hàng hoá và
dịch vụ chỉ trao đổi trong nước. Các điều lệ của WTO không chỉ nhắm các biện
pháp ở biên giới mà còn ảnh hưởng sâu sắc lên các cơ cấu pháp lệnh quốc nội.
Tất cả những luật lệ quốc nội liên quan đến quyền sở hữu tri thức, dịch vụ tài
chánh, tài trợ nông nghiệp, biện pháp khuyến khích đầu tư, hàng rào thuế quan,
chuẩn kỹ thuật trong xuất nhập khẩu, v.v và v.v. đều phải phục tùng những kỷ
luật do WTO ấn định. Qua những quyết định của hệ thống giải quyết tranh chấp
gọi tắt là DSU (Dispute Settlement Understanding), WTO đóng góp nhiều
yếu tố mới và quan trọng vào công pháp quốc tế. Do đó báo chí sách vở hay dùng
cụm từ "luật WTO" để chỉ hệ thống pháp lý do WTO khởi động và quản
lý. Ảnh hưởng của luật WTO lên quyền tự chủ các quốc gia có thể được phân tích
qua ba lĩnh vực hoạt động của WTO: Cơ chế duyệt các chính sách thương mại (Trade
Policy Review Mechanism - TPRM), các điều khoản của các hiệp ước, và hệ
thống DSU.
Cơ chế TPRM
Mối tương quan giữa quyền tự chủ
trong chính sách kinh tế và chuẩn quốc tế được thể hiện rõ nhất ở đây. Văn kiện
thành lập cơ chế này, phụ lục 3 của Hiệp ước Marrakesh thành lập WTO, nói rõ
mục đích của TPRM như sau: “góp phần đảm bảo là tất cả các thành viên sẽ tuân
thủ đúng đắn các quy tắc, kỷ luật và giao ước đã thoả thuận trong khuôn khổ các
hiệp ước thương mại đa phương ... bằng cách làm các chính sách và thủ tục
thương mại của các thành viên trong suốt hơn và được hiểu rõ hơn”. Các nước
thành viên WTO, thông qua Cơ quan duyệt các chính sách thương mại (Trade
Policy Review Body - TPRB), thường xuyên xem xét các bản báo
cáo định kỳ về từng nước, để kiểm tra xem các chủ trương, chính sách, biện pháp
và thủ tục của mỗi nước có phù hợp với luật WTO không. Đây là một hình thức
“phê bình lẫn nhau” (peer review), tuy tương đối nhẹ nhàng và tránh đụng
chạm đến chủ quyền nhưng cũng khẳng định vị trí thứ yếu của các chính sách quốc
gia, phải dần dà đồng nhất theo các quy tắc chung, trước các chuẩn quốc tế.
Quyền tự chủ bị giới hạn vì mỗi nước không những phải tuân theo các chuẩn đã ấn
định mà còn phải chịu sự giám sát thường xuyên của tập thể các thành viên.
Các điều khoản của các hiệp
ước
Các hiệp ước ký kết sau vòng đàm
phán Uruguay, thường gọi là hiệp ước WTO hay hiệp ước Uruguay Round, có rất
nhiều điều khoản ràng buộc các thành viên, không chỉ là các điều lệ phủ định (negative
regulations) cấm không được làm điều gì, mà còn có các điều lệ thực định
(positive regulations) bắt buộc phải làm điều nào đó. Mỗi hiệp ước được
một uỷ ban riêng của WTO quản lý, và đều quy định các nghĩa vụ thông báo, cứ 6
tháng hay hàng năm, về những biện pháp và chính sách quốc gia trong lĩnh vực
liên quan. Các thành viên khác có thể chất vấn và đặt câu hỏi cho đến khi thoả
mãn với các câu trả lời. Đây cũng là một hình thức giám sát lẫn nhau, nước nào
cũng có quyền “hạch hỏi” nước khác nhưng ngược lại cũng phải chịu sự kiểm soát
chung và chấp nhận để những ràng buộc rất chi li giới hạn quyền tự chủ của
mình.
Điểm sơ qua các hiệp ước WTO,
chúng ta thấy quyền chủ động các quốc gia bị giới hạn một cách hết sức chi tiết
và cụ thể trong nhiều lĩnh vực:
● Nông nghiệp:
các chính quyền không được tài trợ các nhà sản xuất nông nghiệp nội địa và trợ
giá nông sản xuất khẩu nhiều hơn các mức tối đa tính trên các chi tiêu của nhà
nước, và phải cam kết sẽ dần dần giảm các viện trợ này theo một lịch trình và
tỷ số nhất định. Hiệp ước về nông nghiệp liệt kê tất cả những hình thức viện
trợ thuộc thẩm quyền của WTO, cách tính các mức tài trợ tối đa cho phép, những
ngoại lệ, những điều kiện để được miễn thi hành các quy tắc của WTO v.v.
● Hiệp ước về hàng rào
kỹ thuật (technical barriers to trade - TBT): tất cả các chuẩn kỹ thuật
áp dụng trong nước phải được công bố cho dân chúng và thông báo lên WTO, không
được có tác dụng cản trở ngoại thương, phải bãi bỏ khi không còn cần thiết,
phải tương ứng với chuẩn quốc tế, v.v. Mỗi nước phải lập một cơ quan thông tin
(enquiry point) để trả lời các câu hỏi của nước khác, cung cấp
thông tin tài liệu theo yêu cầu, v.v.
● Hiệp ước về các biện
pháp đầu tư liên quan đến thương mại (trade related investment measures
- TRIMs): các nhà nước không được ép các nhà đầu tư nước ngoài phải dùng một
tỷ lệ tối thiểu tư liệu nội địa, vì như thế vi phạm quy tắc công dân thương mại
(national treatment) của WTO. quy tắc này không cho phép phân biệt đối
xử giữa doanh nghiệp bản xứ và doanh nghiệp nước ngoài.
● Hiệp ước về các phương
diện của quyền sở hữu tri thức liên quan đến thương mại (trade-related
aspects of intellectual property rights - TRIPs) : các chính quyền phải
áp dụng những chuẩn tối thiểu để bảo vệ quyền sở hữu tri thức, bằng cách ban
hành các đạo luật mới hay sửa đổi luật hiện hành để phù hợp với các điều lệ của
WTO, phải thiết lập các toà án, thủ tục để thực thi quyền sở hữu tri thức.
● Hiệp ước về giá trị
thuế quan (customs evaluation): các nhà nước phải đánh thuế hải quan
dựa theo giá trị kê khai trong các hoá đơn vận chuyển, không được tuỳ nghi chọn
cách tính toán mà phải theo các nguyên tắc kế toán thông dụng (generally
accepted accounting principles - GAAP). Các nguyên tắc GAAP thường là những
chuẩn được áp dụng tại các nước đã phát triển.
● Hiệp ước về các biện
pháp y tế và vệ sinh thực vật (sanitary and phyto-sanitary measures -
SPS): các biện pháp SPS phải tương ứng với chuẩn quốc tế, tương ứng với
tình hình y tế của nơi sản xuất và nơi nhập hàng hoá, phải dựa trên cơ sở khoa
học, và không được có tác dụng cản trở thương mại quá mức độ "cần
thiết".
v.v. và v.v.
Tất cả các hiệp ước WTO, ngoài
những điều khoản áp dụng riêng cho từng lĩnh vực, đều nhắc lại các quy tắc cơ
bản chung : không phân biệt đối xử (giữa các thành viên và giữa trong
nước/ngoài nước), trong suốt (công bố cho dân chúng biết và thông báo lên WTO),
không cản trở thương mại, luật quốc gia phải phù hợp với luật WTO. Và tuy mỗi
năm có tới hàng ngàn luật lệ, biện pháp, thủ tục đủ loại được các thành viên
thông báo lên WTO, đây vẫn không phải chỉ là một việc làm hình thức, mà đáp ứng
một sự giám sát rất chặt chẽ như trong thí dụ nhỏ sau đây. Tháng 1.2001, Bỉ
thông báo lên uỷ ban TBT của WTO một dự luật nhằm khuyến khích “ý thức trách
nhiệm xã hội trong sản xuất” qua một nhãn hiệu dành cho các sản phẩm được sản
xuất một cách phù hợp với những chuẩn mực của Tổ chức lao động thế giới (International
Labour Organization - ILO). Thế là có khoảng hơn một chục nước đặt
ngay vấn đề tại các buổi họp sau đó của uỷ ban TBT, khuyến cáo là dự luật này
sẽ vi phạm luật WTO, đòi hỏi giải thích và yêu cầu Bỉ rút lại dự luật này. Liên
hiệp châu Âu, đại diện cho Bỉ, đã phải phân trần là đây chỉ là một dự thảo, chỉ
liên quan đến Bỉ chứ không áp dụng trong toàn Liên hiệp, và sẽ được sửa đổi
theo các góp ý tại WTO để không đi ngược lại các quy tắc chung.
Quyền tự chủ trên phương diện đối
nội cũng bị giới hạn. Theo quy tắc cơ bản của WTO về chế độ công dân thương mại
(national treatment), các nhà nước không được ưu đãi công ty bản xứ so
với công ty nước ngoài, dẫu là trong chính sách thuế má, qua tài trợ hay bất cứ
đặc lợi nào. Sức ép của các công ty ngoại quốc đòi hỏi được hưởng đầy đủ chế độ
này sẽ góp phần dần dà đồng nhất hoá các chính sách quốc gia theo mô hình của
các chuẩn quốc tế. Mặt khác, vì phải đảm bảo trước WTO tính hợp lệ với luật
quốc tế, chính quyền trung ương phải chỉ thị cho các địa phương tuân theo các
chuẩn quốc tế, do đó cũng không còn toàn quyền định đoạt trong nội bộ. Và nếu
sơ sót thì có thể sẽ bị đưa ra kiện trước WTO, với tất cả những phiền hà và tốn
kém của một vụ tranh chấp.
Hệ thống giải quyết tranh
chấp DSU
Đây là đặc thù chính, điểm
mạnh nhất của WTO, và cũng thể hiện rõ nhất đối với bên ngoài vị trí đặc biệt
của WTO đối với các nước thành viên, có khả năng "vi phạm chủ quyền quốc
gia" hơn mọi tổ chức quốc tế khác. Ở đây cũng có nhiều tranh cãi. Người
ủng hộ thì thấy hệ thống DSU là một đóng góp quan trọng cho nền thương mại đa
phương vì bảo đảm các luật lệ và chính sách kinh tế quốc gia sẽ ổn định, thuần
nhất và công minh. Kẻ chống lại thì thấy DSU củng cố và tập trung quyền lực của
giới thương mại vào một nhóm "quan toà" siêu quốc gia, thông qua
trong bí mật những quyết định quan trọng bó buộc các chính quyền, bất kể chính
sách quốc gia, quyền lợi dân chúng hay thậm chí các tập tục hay truyền thống
của một nước. Chỉ có một điều tất cả đều đồng ý: các quyết định của hai bộ phận
thuộc DSU đã và sẽ ảnh hưởng sâu rộng lên chính sách các quốc gia.
Cả hai bên đều có lý nhưng mỗi
bên chỉ đúng một nửa. Thực tế DSU có cả hai mặt: vừa góp phần củng cố hệ thống
thương mại và pháp lý đa phương, vừa có khả năng ép buộc một nhà nước phải thay
đổi chính sách dẫu có đi ngược lại ý kiến của đa số công chúng trong nước.
Trong tất cả các vụ tranh chấp đưa ra trước WTO, nhóm hội thẩm (panel)
lập ra để phân xử mỗi vụ đều kết luận trong bản báo cáo là bên "thua
kiện" phải rút lại hay thay đổi biện pháp bị tố cáo để hợp lệ WTO. Để được
WTO xét xử, mỗi đơn kiện phải dựa trên một cơ sở pháp lý. A chỉ có thể kiện B
vì B vi phạm luật lệ, chứ chỉ vì bực mình nhau thì không đủ. Như đã nói ở trên,
bất cứ hình thức tập hợp nào cũng kèm theo luật lệ nhưng, vì cho phép các thành
viên dùng đến biện pháp trừng phạt kinh tế nếu "đối phương" không
chấp hành quyết định phân xử đã thông qua, WTO là tổ chức duy nhất có khả năng
cưỡng bức thành viên phải thi hành những quy định chung. Quyền tự chủ quốc gia
bị giới hạn ở nhiều mặt, bằng nhiều cách, nhưng không ở đâu thể hiện rõ rệt và
đánh mạnh vào tâm lý công chúng như trong các vụ tranh chấp trước WTO. Khi một
cường quốc như Mỹ phải phân trần trước các nước khác về một chính sách của mình
và phải sửa đổi luật để tuân thủ quyết định của một nhóm hội thẩm chỉ gồm 3
luật gia do WTO chọn, thì làm sao các thành phần chống đối, tả hay hữu, có thể
không kêu lên là Mỹ đã bị xâm phạm chủ quyền? Chả thế mà một trong những điều
kiện quốc hội Mỹ đưa ra để phê chuẩn các hiệp ước Uruguay, dẫn đến sự thành lập
WTO, là Mỹ sẽ rút khỏi WTO nếu bị thua kiện quá 3 lần.
Tuy nhiên Mỹ đã thua kiện quá 3
lần từ rất lâu nhưng vẫn không nói đến rút ra khỏi WTO, cũng như chưa thấy nước
nào tỏ ý muốn rời tổ chức. Ngược lại, gần như tất cả các nước còn đứng ngoài
đều đang thương thuyết để gia nhập WTO. Không nước nào coi nhẹ vấn đề chủ
quyền, các nước lớn như Trung Quốc và Liên Bang Nga, cũng như các nước nhỏ
nhưng có tinh thần dân tộc cao như Việt Nam. Lý do đơn giản là nước nào
cũng chấp nhận việc có thể phải tự giới hạn quyền chủ động để đổi lại được
hưởng những lợi ích của sự hội nhập và bảo vệ quyền lợi của mình trong khuôn
khổ pháp lý đa phương. Cũng vì lý do ấy mà các nước Đông Âu, ngay sau khi hệ
thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ tại Âu châu cuối thập niên 1980, đã bắt đầu
thương thuyết để gia nhập Liên hiệp châu Âu trong khi cái "giá" phải
trả về mặt quyền tự chủ trong khuôn khổ ấy còn cao hơn gấp bội khi gia nhập
WTO
Liên hiệp châu Âu, phòng thí nghiệm cho một mô hình quản
trị toàn cầu
Tiền thân của Liên hiệp châu Âu
là Cộng đồng châu Âu (European Communities- EC) ra đời ngày 1.1.1958 sau
khi 6 nước thành viên của Cộng đồng than sắt châu Âu (European Coal and
Steel Community - ECSC) - Pháp, Tây Đức, Ý, Bỉ, Hà Lan, Lục Xâm Bảo -
ký hai hiệp ước Rome để thành lập một Cộng đồng năng lượng hạt nhân (European
Atomic Energy Community - Euratom) và nới rộng tổ chức ECSC ra các
lãnh vực kinh tế khác thành một Cộng đồng Kinh tế châu Âu (European Economic
Community- EEC). Euratom và EEC cộng lại thành Cộng đồng châu Âu, cho đến
năm 1972 vẫn chỉ có sáu nước sáng lập, nên được quen gọi là châu Âu - 6 (Europa-Six).
Nước Anh tuy hai lần được mời tham gia, vẫn từ chối và năm 1959 thành lập riêng
một tổ chức khác (European Free Trade Association - EFTA), lỏng lẻo hơn,
ít tập trung hơn, với 6 nước Tây Âu khác: Áo, Bồ Đào Nha, Đan Mạch, Na Uy, Thuỵ
Điển và Thuỵ Sĩ. EFTA sau đó đón nhận thêm Iceland (1970), Phần Lan (1961) và
Liechtenstein (1991). Song, theo xu thế hội nhập ở Âu châu, các thành viên của
EFTA lần lượt gia nhập Cộng đồng châu Âu: Anh và Đan Mạch (1972), Bồ Đào Nha
(1985), Áo, Phần Lan và Thuỵ Điển (1995), khiến EFTA ngày nay chỉ còn 4 nước
Iceland, Liechtenstein, Na Uy, và Thụy Sĩ. Và trừ Thuỵ Sĩ, ba nước EFTA cũng là
thành viên của Khu vực Kinh tế châu Âu (European Economic Area – EEA),
được thành lập ngày 1.1.1994 trên cơ sở một hiệp ước hợp tác giữa các nước EFTA
và Liên hiệp châu Âu, quy tụ tất cả các thành viên của hai tổ chức.
Ngoài các nước EFTA kể trên, Ái
Nhĩ Lan, Hy Lạp, Tây Ban Nha cũng vào Cộng đồng châu Âu, khiến châu Âu-6 thành
9, rồi 10, 12, 15 và bây giờ 25, với 10 thành viên mới từ ngày 1.5.2004:
Cyprus, Estonia, Hungary, Latvia, Lithuania, Malta, Ba Lan, Cộng hoà Czech,
Slovakia, và Slovenia. Các nước Romania và Bulgaria sẽ gia nhập ngày 1.1.2007,
và ba nước Croatia, Macedonia và Thổ Nhĩ Kỳ còn tiếp tục thương thuyết để gia
nhập. Như thế gần như toàn bộ châu Âu đã nằm trong Liên hiệp, và ngay cả những
nước lẻ loi còn đứng ngoài trong tương lai cũng đã ký kết từ lâu với Liên hiệp
các hiệp ước song phương chi phối đủ mọi quan hệ kinh tế, văn hoá, giáo dục.
Ngoài chiều rộng (số thành
viên), Cộng đồng rổi Liên hiệp châu Âu cũng phát triển chiều sâu, đưa sự hội
nhập ngày càng đi xa hơn cả về mức độ lẫn phạm vi, trở thành một liên hiệp kinh
tế gần như toàn diện, đã thống nhất tiền tệ và, trong tương lai xa hơn, có thể
thống nhất cả chính trị và xã hội. Hiệp ước Maastricht ký ngày 7.2.1992 không
chỉ đổi tên của Cộng đồng châu Âu thành Liên hiệp châu Âu, với sự hoàn tất của
một quá trình dài cải tổ và củng cố các cơ cấu, mà còn đánh dấu một bước tiến
mới trong xu thế hội nhập ở châu Âu và cả một sự thay đổi tư duy về vấn đề này.
Để có hiệu lực, Hiệp ước Maastricht
phải được dân chúng các nước thành viên chấp thuận qua biểu quyết (referendum).
Quá trình vận động dân chúng kéo dài cả mấy năm và là cả một cuộc tranh luận
sôi nổi giữa các phe chống và phe ủng hộ, xoay quanh một số đề tài trong đó
được nhắc đến nhiều nhất là vấn đề chủ quyền quốc gia, sự phân bố quyền lực
giữa các nước thành viên và các cơ cấu của cộng đồng, tính dân chủ hoặc phi dân
chủ của cách vận hành của cơ chế chung, v.v.
Có thể nói chủ quyền quốc gia,
ngay từ những ngày đầu tiên và cho đến bây giờ, vẫn là vấn đề cơ bản của Liên
hiệp châu Âu, một đề tài tranh cãi thường xuyên. Thụy Sĩ và Na Uy chính thức đệ
đơn gia nhập năm 1992 nhưng hồ sơ này bị gác lại vô thời hạn sau khi dân chúng
hai nước này hai lần biểu quyết chống, với tỷ lệ rất khít khao nói lên sự phân
vân của dư luận trước những lý lẽ trái ngược nhau về lợi ích của hội nhập và
cái giá về chủ quyền. Nước Anh không lúc nào không tranh luận trong nội bộ về
lợi và hại của việc tham gia vào Liên hiệp châu Âu, trong nội bộ cả hai đảng
Lao Động vả Bảo Thủ đều có hai khuynh hướng một bên chống (Eurosceptics)
và một bên thuận (pro-European). Các nước thành viên Liên hiệp châu Âu
cũng khác nhau về mức độ dấn thân vào xu thế hội nhập. Khi cựu thủ tướng Đức
Gerhard Shröder và cựu bộ trưởng ngoại giao Joschka Fischer, tháng 5.2001, đề
nghị củng cố Liên hiệp châu Âu trong 10 năm sắp đến thành một liên bang hoà
nhập tất cả các quốc gia trong một thể chế chính trị duy nhất, với một chính
quyền trung ương đặt dưới sự kiểm soát của một quốc hội toàn châu Âu, phản ứng
của thủ tướng Anh Tony Blair và cựu thủ tướng Pháp Lionel Jospin là sự dè dặt
dễ hiểu. Người Đức, quen sống với chế độ liên bang, dễ dàng ủng hộ dự án này
trong khi dân chúng Pháp, với truyền thống nhà nước tập trung (từ thời vua
Louis XI, thế kỷ XV!), đương nhiên ít phấn khởi trước viễn tượng nhà nước dân
tộc bị tan loãng trong một thể chế siêu quốc gia. Nhưng Đức lại là một trong
những nước chống lại mạnh mẽ việc thống nhất tiền tệ, khi đồng Euro còn là dự
án, vì đồng Deutsche Mark vừa biểu hiện sức mạnh của kinh tế Đức vừa là sự tự
hào của một dân tộc bại trận sau Đệ nhị thế chiến nhưng đã kiên trì xây dựng
lại, qua vị trí kinh tế, uy thế chính trị của mình. Thay thế đồng Deutsche Mark
bằng đồng Euro cũng khó chấp nhận đối với dân chúng Đức lúc ấy như việc truất
phế Nữ Hoàng đối với dân Anh hay sự lu mờ của một nhà nước kế thừa truyền thống
cộng hoà (tradition républicaine) của cách mạng 1789 đối với dân Pháp.
Tuy thế Liên hiệp châu Âu vẫn
tiếp tục phát triển và củng cố các cơ cấu của mình, càng ngày càng đi xa trong
sự hội tụ. Từ Thị trường chung của những năm đầu đến Định ước duy nhất châu Âu
(European Single Act) năm 1986 nới rộng tự do đi lại, không chỉ
cho hàng hoá, mà còn cho dịch vụ, tài chính và con người, đến không gian
Schengen (1995) xoá bỏ các giới tuyến giữa các nước tham gia, bước đầu cho việc
hình thành một không gian chính trị chung, quá trình xây dựng châu Âu là thí dụ
điển hình của những giằng co giữa những động lực khác nhau trong một xu thế.
Mỗi bước tiến trong việc thống nhất hoá đều gặp sức kháng cự của nước này hay
nước kia, mỗi hiệp ước đưa ra cho dân chúng biểu quyết đều có nơi này bác, nơi
kia thuận.
Cuộc tranh cãi về chủ quyền quốc
gia trong công luận đạt cao điểm trong năm 2005 khi các nước trong Liên hiệp
lần lượt tiến hành thủ tục phê chuẩn Hiến chương châu Âu, được coi như văn kiện
nền tảng cho một thể chế đẩy xa hơn nữa sự hội nhập để đi đến thống nhất hoá về
cả chính trị. Đa số các nước thành viên (15 trên 25) chọn hình thức phê chuẩn
qua quốc hội thay vì trưng cầu dân ý, hoặc vì quy định của hiến pháp quốc gia,
hoặc vì ngại dân chúng có thể bác. Sau khi hai referendum đầu tiên thành công
tại Tây Ban Nha và Lục Xâm Bảo, việc đa số dân chúng Pháp rồi Hà Lan bỏ phiếu
chống, tuy phần nào đã được đoán trước, vẫn là cú sốc. Sự thất bại của hiến
chương trong hai nước tiên phong trong công cuộc xây dựng cộng đồng châu Âu tác
động mạnh đến nỗi sáu nước còn lại đình chỉ vô hạn định việc tổ chức
referendum. Tuy kết quả cuộc bầu phiếu cũng bị các yếu tố khác chi phối (chính
trị nội bộ, tâm lý bất an trước toàn cầu hoá và những vấn đề an ninh thế giới
sau 11.9, v.v.), có thể nói đây là giới hạn của sự nhượng chủ quyền trong tâm
lý dân chúng, hiện còn phải tiêu hoá các đợt mở rộng và cải tổ lớn của Liên
hiệp trước khi có thể chấp nhận đi xa hơn.
Tuy (tạm thời?) thất bại trên chủ
đề hiến chương, Liên hiệp châu Âu vẫn là hình thức tập hợp đi xa nhất
trong việc xây dựng một thể chế siêu quốc gia và chuyển nhượng chủ quyền quốc
gia. Do đó nhiều nhà phân tích coi đấy như một phòng thí nghiệm cho các mô hình
quản trị đa phương, trong viễn tượng một hình thức quản trị toàn cầu.
Một mô hình quản trị nhiều
tầng
Cách vận hành đặc biệt của Liên
hiệp châu Âu được một nhà phân tích gọi là mô hình quản trị nhiều tầng (multi-level
governance) vì dựa trên một cấu trúc phức tạp phân định quyền hạn của mỗi
bộ phận: các nước thành viên, Ủy ban châu Âu (European Commission) đóng
vai trò hành pháp, Hội Đồng châu Âu (European Council) - bộ phận chính
trị gồm các quốc trưởng hay thủ tướng -, Quốc Hội châu Âu, Hội đồng liên hiệp -
gồm các bộ trưởng đại diện các chính phủ - , Toà án châu Âu và Ngân hàng trung
ương châu Âu. Có thể nói Liên hiệp châu Âu là một kiến trúc lập lại đầy đủ các
bộ phận cai trị của một n��ớc, theo nguyên tắc phân quyền giữa lập pháp, hành
pháp và tư pháp. Quyền lực được chia thành nhiều tầng, hàng ngang theo địa hạt
và hàng dọc giữa các quốc gia và Liên hiệp.
Sự phân định quyền hạn giữa các
nước và các bộ phận chung dựa trên hai nguyên tắc cơ bản: bổ trợ (subsidiarity)
và tương xứng (proportionality). Bổ trợ có nghĩa là việc gì có thể giải
quyết ở cấp thấp thì không thuộc quyền hạn của cấp trên. Nguyên tắc này giới
hạn thẩm quyền của các bộ phận chung vào những lĩnh vực vượt quá khả năng giải
quyết tối ưu của các quốc gia. Tương xứng có nghĩa là các bộ phận của Liên hiệp
chỉ hành động trong chừng mực cần thiết để đạt các mục đích chung, và các biện
pháp đề ra không được quá nặng nề so với mục đích của chúng. Hai nguyên tắc này
giới hạn quyền lực của các bộ phận chung để bảo vệ chủ quyền quốc gia, nhưng
vấn đề là ở chỗ định nghĩa, và ai định nghĩa, lĩnh vực nào vượt quá khả năng
giải quyết của một nước và thế nào là chừng mực cần thiết. Trong thực tế, nhất
là với hiện tượng toàn cầu hoá, hầu như mọi vấn đề quan trọng nhất đều thành
lĩnh vực thẩm quyền của Liên hiệp, dần dà bao gồm cả những vấn đề nhỏ bé nhất,
miễn là liên quan đến các hoạt động kinh tế.
Tầm quan trọng của Liên hiệp so
với các nước thành viên có thể đo lường qua vài con số: trong khi tổng số các
đạo luật ban hành hàng năm trong mỗi nước không thay đổi mấy từ những năm 1960,
tổng số các chỉ thị (directives), điều lệ (regulations) và quyết
định của Liên hiệp thông qua mỗi năm tăng vọt từ 36 năm 1961 đến 800 năm 1986.
Luật liên hiệp (Community law) đương nhiên có hiệu lực trong các nước
thành viên và với đà phát triển tiếp tục tăng nhanh này, so với luật quốc gia
thì càng ngày càng có sức nặng hơn. Năm 1996, có tới 409 ủy ban chỉ lo về việc
quản lý và giám sát sự thực thi các quyết định của Hội đồng liên hiệp trong các
nước thành viên. Trong một số lĩnh vực, các nhà nước hầu như chỉ còn việc
truyền đạt đến các cơ quan nội địa những quyết định đã thông qua tại Bruxelles,
và quản lý sự thi hành. Sự mở rộng của Liên hiệp đương nhiên đi kèm với sự bành
trướng phi mã của guồng máy hành chính và các văn kiện.
Quyền lực của Liên hiệp châu Âu
giới hạn quyền tự chủ của các nước thành viên đã đành, ngay cả các nước đứng
ngoài cũng bị ảnh hưởng. Thụy Sĩ, tuy không là thành viên và chưa biết bao giờ
mới thuyết phục được dân mình đồng ý xin gia nhập, nhưng vì mối quan hệ thương
mại chặt chẽ, bắt buộc phải thương thuyết các hiệp ước song phưong và do đó
phải điều chỉnh nhiều biện pháp, chính sách theo các đòi hỏi của Liên hiệp.
Trong những lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Liên hiệp, luật lệ Thụy Sĩ phải được
sửa đổi để phù hợp với các chuẩn Âu châu (euro-compatible). Đối với các
nước muốn xin gia nhập, Liên hiệp đề ra một số điều kiện, gọi là tiêu chuẩn
Copenhagen vì được thông qua tháng 6.1993 tại hội nghị thượng đỉnh ở thành phố
này. Thứ nhất, tiêu chuẩn chính trị: phải có các thể chế ổn định bảo đảm dân
chủ, pháp trị, nhân quyền và tôn trọng quyền lợi các thiểu số. Thứ nhì, tiêu
chuẩn kinh tế: phải có một nền kinh tế thị trường hoạt động tốt. Thứ ba, tiêu
chuẩn hội tụ: phải tán thành mọi mục đích kinh tế, chính trị và tiền tệ của
Liên hiệp và nhất là phải đưa vào luật quốc gia toàn bộ khung pháp chế của Liên
hiệp, gọi là Community acquis, tức là tất cả những luật lệ, quyết định,
và hiệp ước quốc tế ký kết ở mức Liên hiệp và giữa các nước thành viên, cả thảy
là hơn 80,000 trang văn kiện pháp lý. Hơn nữa, cả ba tiêu chuẩn đều hoàn toàn
bắt buộc, không có gì có thể thương thuyết cả, và là điều kiện tiên quyết phải
hội đủ trước khi gia nhập Liên hiệp châu Âu.
Như thế, quyền tự chủ của một
quốc gia còn là bao nhiêu khi gần như tất cả mọi vấn đề, lớn nhỏ, đều được quy
định chi tiết, phải thế này, không được thế kia, dưới sự giám sát chăm chú của
các thể chế đa phương hay siêu quốc gia. Ngay cả các nước độc lập với tổ chức
vì còn đứng ngoài, nếu muốn gia nhập hay giữ mối bang giao, cũng đều phải chịu
những bó buộc ấy. Thật ra, nói cho cùng, một khi đã tự nguyện muốn tham gia vào
một hệ thống như WTO hay Liên hiệp châu Âu để hưởng những quyền lợi dành cho
thành viên, thì chấp nhận những điều kiện khắt khe ấy cũng chỉ là luật chơi, có
chơi có chịu là chuyện bình thường. Nhưng cái không bình thường lắm, trước mắt
người thường dân, là một số hình thức giới hạn quyền tự chủ của nhà nước trong
những hoàn cảnh khác, oái ăm hơn, như các điều kiện đặt ra bởi các tổ chức tài
chính như IMF và Ngân hàng Thế giới, và các can thiệp đa phương hoặc đơn phương
vào nội bộ của một nước.
Hệ điều kiện, từ áp lực kinh tế sang ảnh hưởng chính trị
Hệ điều kiện (conditionality)
là chiến lược cơ bản của một số tổ chức, nhất là IMF và Ngân hàng Thế giới,
nhằm ép một quốc gia thay đổi chính sách, tuân theo một số điều kiện để được
giúp đỡ tài chính. Về hình thức, hệ điều kiện là một sự thoả thuận qua đó một
chính quyền cam kết sẽ áp dụng một số biện pháp quy định để được viện trợ.
Trong các thoả thuận cho vay vốn (credit arrangements) của IMF chẳng
hạn, có ba loại điều kiện: thứ nhất, các điều kiện tiên quyết, phải hội đủ,
trước khi thoả thuận được ký. Thứ nhì, các tiêu chuẩn thi hành (performance
criteria) để xét xem chính quyền nhận vốn có chấp hành nghiêm chỉnh mới
được tiếp tục vay. Thứ ba là một số điều kiện phụ, ghi trong thoả thuận, nhưng
ít có tính cách ràng buộc hơn. Hệ điều kiện thể hiện rõ ràng nhất sự can thiệp
của các tổ chức quốc tế vào chính sách nội bộ của một nước, là thí dụ "xâm
phạm chủ quyền quốc gia" hiển nhiên nhất đối với công chúng, và do đó cũng
là điều oán trách nhất của nhiều người đối với IMF và Ngân hàng Thế giới, hai
tổ chức Bretton Woods.
Khái niệm hệ điều kiện tuy đi
liền với các tổ chức Bretton Woods nhưng đã có từ trước, ít ra là khi Hiệp hội
các quốc gia (League of Nations), tiền thân của Liên Hợp Quốc, ấn định
một số điều kiện trong các chương trình cứu trợ Hungary và Áo năm 1922 và 1923,
sau sự tan rã của Vương quốc Áo-Hung dưới triều đại Habsburg. Hai chương trình
này lúc ấy đã đặt ra những chuẩn mực không khác gì các tiêu chuẩn hiện nay và
cũng đã bị trách cứ một cách gay gắt là quá áp đặt và vi phạm chủ quyền quốc
gia y như các chương trình của IMF và Ngân hàng Thế giới ngày nay. Do đó, những
người sáng lập ra hệ thống Bretton Woods, trong đó có John Maynard Keynes, cũng
muốn thiết lập một hình thức tài trợ có tính cách tự động hơn, ít lệ thuộc vào
các điều kiện hơn. Tuy thế Keynes cũng phải chấp nhận nguyên tắc hệ điều kiện,
mà ông gọi đùa là sự chăm lo ưu ái nhưng kẻ cả ("being grand-motherly").
Có thể nói sự "chăm lo" này càng ngày càng ít ưu ái và càng nhiều kẻ
cả, với sự phát triển của hệ điều kiện ra ngoài lĩnh vực thuần kinh tế để bao
gồm cả những đòi hỏi chính trị.
Tại Ngân hàng Thế giới, hệ điều
kiện xuất hiện vào những năm cuối nhiệm kỳ của chủ tịch Robert Mc Namara, đánh
dấu một hướng mới. Khác với các hợp đồng vay vốn cho dự án (project lending)
áp dụng cho tới lúc ấy, những hợp đồng vay vốn để điều chỉnh cơ cấu (structural
adjustment loan) nhằm thúc đẩy cải tổ một hay nhiều khu vực kinh tế, thậm
chí cả nền kinh tế quốc gia. Các chương trình cho vay vốn (program lending)
của IMF cũng kèm theo các điều kiện nhằm mục đích tương tự. Cuối thập niên
1980, có hơn 70 nước thế giới thứ ba phải thi hành các chương trình cải tổ của
IMF và Ngân hàng quốc tế, thường có những đòi hỏi sau đây:
- giảm hẳn chi phí
nhà nước, trên nguyên tắc để kiềm chế lạm phát và giảm vay nợ, nhưng hậu
quả thực tế là cắt các ngân sách giáo dục, y tế và phúc lợi xã hội
- giảm
biên chế nên tăng thất nghiệp,
- mở cửa
thị trường cho hàng hoá và đầu tư nước ngoài, để bắt các ngành sản xuất nội địa
phải cải tổ, hữu hiệu hơn, dưới sức ép của cạnh tranh,
- tư nhân
hoá các xí nghiệp quốc doanh, phi quy chế hoá (deregulation) để điều
tiết hoạt động kinh tế qua cơ cấu thị trường thay vì qua sự can thiệp của nhà
nước,
- phá giá
đồng tiền để tăng lợi thế cạnh tranh cho hàng xuất khẩu,
- giảm
lương và bãi bỏ hoặc hạn chế các cơ cấu bảo vệ người lao động (các điều khoản
cấm sa thải hay ấn định mức lương tối thiểu) bị coi là cản trở sự giao lưu của
tư bản nội địa và nước ngoài.
Những đòi hỏi này đương nhiên khó
hợp lòng dân, nhất là khi làm đời sống khó khăn hơn nữa cho nhiều thành phần
dân chúng. Trong các nước áp dụng triệt để các biện pháp này, thường bị gọi mỉa
mai là "cháu ngoan chú IMF" (les bons élèves du FMI), xuất
khẩu có tăng, đầu tư nước ngoài có tăng, cán cân thu chi và trao đổi có thể
được ổn định, lạm phát giảm, nhưng cái giá về mặt xã hội rất cao, với sự nghèo
đói của rất nhiều người. Về mặt chính trị, chính quyền mất uy tín trước người
dân khi tỏ ra bất lực trước các đòi hỏi từ bên ngoài, phải phục tùng để được
chi viện. Vị thuốc đắng của các tổ chức Bretton Woods, chưa biết về lâu dài sẽ
giã tật được bao nhiêu nhưng trước mắt đã làm cho rất nhiều bệnh nhân ngất ngư.
Cũng vì thế và để tô lại hình ảnh
của mình trong công luận, IMF và Ngân hàng Thế giới cũng đã xem xét lại, đánh
giá hiệu quả của hệ điều kiện cho tới nay. Và sau khi công nhận là hình thức ép
buộc qua điều kiện cũng chỉ có hiệu quả tương đối, cả hai tổ chức đã chuyển
sang một cách nhìn mới với một số khái niệm mới. Ngân hàng Thế giới đặt trọng
tâm vào việc khuyến khích các nước quản lý tốt hơn, và dựa vào khái niệm quản
trị tốt (good governance) để đánh giá thành quả và quyết định tiếp tục
viện trợ hay không. IMF, ngoài khái niệm quản trị tốt, còn đưa ra khái niệm “tự
quản tự giác” (ownership) trong việc thi hành các chương trình ký kết
với tổ chức: các chính quyền không còn là chủ thể của các chỉ đạo từ trên ban
xuống mà là chủ thể tích cực thực hiện những biện pháp cần thiết trong lợi ích
của mình. Nhìn như thế, các chính quyền quốc gia là đối tác (partner),
trông đường hoàng hơn là ở vị trí kẻ mang ơn nên phải quy phục, và mấy chữ “tự
quản tự giác” cũng dễ nghe hơn vì gần gũi với tự chủ và chủ quyền, và IMF có vẻ
bớt kẻ cả để trở lại một hình ảnh ưu ái hơn.
Đây không phải chỉ là thay đổi về
ngôn từ mà cũng đánh dấu một sự chuyển hướng nhất định của các tổ chức Bretton
Woods sau khi rút ra bài học về thái độ kiêu căng của mình. Nhất là khi sự
khủng hoảng kinh tế vẫn kéo dài trong nhiều nước áp dụng các chương trình điều
chỉnh cơ cấu chứng minh sự thất bại của các phương án do các nhà kinh tế của
IMF đề ra. Tuy nhiên, bản chất của vấn đề vẫn thế, hệ điều kiện vẫn là yếu tố
then chốt trong quan hệ giữa các tổ chức và những nước cần đến sự chi viện. Các
nước cầu cứu đến IMF và Ngân hàng Thế giới vẫn ở vào thế phải tuân theo các chỉ
đạo và chịu sự giám sát của hai tổ chức. Sự can thiệp có thể bớt thô bạo, cách
dùng chữ tôn trọng đối tác hơn, IMF và Ngân hàng Thế giới quan tâm hơn đến phản
ứng của công luận, và đấy là tiến bộ. Song quyền quyết định vẫn ở phía người
giữ túi tiền, ban phát hay không là tuỳ theo những điều kiện do chính anh ta
đưa ra.
Đáng nói nhất là khi lồng thêm
vào khái niệm quản trị tốt, hệ điều kiện đã chính thức phát triển ra ngoài lĩnh
vực kinh tế để mang tính chất chính trị. Thật ra, khuynh hướng này đã có ngay
từ đầu, vì kinh tế và chính trị có bao giờ đi xa nhau, nhưng cho tới gần đây
yếu tố chính trị tương đối gián tiếp và hàm ẩn hơn. Có thể nói sau khi hệ thống
xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, chỉ còn mô hình kinh tế tư bản và chủ nghĩa
tân tự do trên đà trở thành tư duy độc nhất, thì các tổ chức xây dựng trên
triết lý tự do tư bản không còn ngần ngại đưa các nguyên lý chính trị vào các
hoạt động tư vấn và chi viện của mình. Trong rất nhiều thí dụ, xin chỉ kể đến
vài trường hợp sau đây.
Ở buổi họp thường niên năm 1996,
chủ tịch Ngân hàng Thế giới và giám đốc IMF cùng tuyên bố sẽ cứng rắn hơn nữa
trước tệ nạn tham nhũng trong các nước nghèo. IMF ngưng cho Kenya vay vì chính
quyền nước này không chịu lập một cơ quan chống tham nhũng và đã sa thải một
cán bộ cao cấp tích cực tố cáo những chuyện bê bối của nhà nước. Trong hợp đồng
cho vay ký với Indonesia tháng 1.1998, IMF không những quy định các mục tiêu
kinh tế mà còn ghi rõ chính quyền nước này phải chấm dứt tài trợ và ưu đãi các
xí nghiệp thuộc về gia đình của tổng thống Suharto.
Bản báo cáo hàng năm của Ngân
hàng Thế giới về sự phát triển trên thế giới, World Development Report
cho năm 1997 có chủ đề là nhà nước, và mang tựa đề phụ là The State in a
Changing World. Báo cáo này phân tích tình hình trong các nước châu Phi (là
khách hàng chính của Ngân hàng Thế giới), nói rõ những gì cần làm để chỉnh đốn
các nhà nước, bảo đảm pháp trị, chấm dứt lộng quyền, và quở trách các nhà nước
tiêu pha bừa bãi, không quan tâm đến thành phần này, thiểu số kia, v.v.
Ngân hàng châu Âu cho Phục hồi và
Phát triển (European Bank for Reconstruction and Development - EBRD),
thành lập để giúp các nước Đông Âu chuyển sang cơ chế thị trường, là tổ chức đi
xa nhất trong việc gắn liền các đòi hỏi chính trị với điều kiện kinh tế. Đoạn
mở đầu của Hiệp ước thành lập EBRD khẳng định các bên tham gia sẽ “tuân thủ các
nguyên tắc cơ bản của dân chủ đa đảng, pháp trị, tôn trọng nhân quyền và kinh
tế thị trường”. EBRD nghiêm khắc đến mức Thụy Sĩ, một nước rất ư là tư bản,
cũng phải đề nghị nên áp dụng uyển chuyển hơn các quy tắc đầu tư để cho phép
các nước Đông Âu có thêm thì giờ vượt qua các cú sốc về văn hoá và kinh tế hãy
còn đè nặng lên dân chúng sau sự sụp đổ của chế độ trước. Và Yougoslavia cũng
chỉ mới được vào danh sách các nước có thể được nhận đầu tư của EBRD vào tháng
4.2001, sau khi đã đổi chính quyền cuối năm trước.
Bài trừ tham nhũng, chỉnh đốn thể
chế, pháp trị. Với những đề tài này chúng ta đã ra khỏi lĩnh vực thuần kinh tế
để bàn tới các chuẩn vừa kinh tế vừa chính trị. Và nhắc đến một hình thức giới
hạn quyền tự chủ khác, qua một số hoạt động của tổ chức OECD.
OECD và các chiến dịch trong sạch hoá hoạt động kinh tế
Trong khi WTO, tuy là cái
đích tấn công của các phong trào chống toàn cầu hoá và chủ nghĩa tự do kinh tế,
đang dần dà thành một tổ chức toàn thế giới, quy tụ các nước có chế độ kinh tế
chính trị khác nhau, OECD vẫn chỉ có 30 nước thành viên cùng chia sẻ tôn chỉ
của tổ chức: kinh tế thị trường mở rộng, dân chủ đa nguyên, và tôn trọng nhân
quyền. Mọi hoạt động của OECD đều nhằm củng cố hệ thống kinh tế thị trường quốc
tế và quảng bá các giá trị cơ bản của chủ nghĩa tự do kinh tế. Do đó ngoài
những lĩnh vực “kỹ thuật” như nông nghiệp, kỹ nghệ, xã hội, khoa học, v.v.,
OECD còn có những hoạt động mang tính chất chuẩn mực hoá như cạnh tranh và cải
tổ cơ chế, quản trị quốc gia, bài trừ tham nhũng, chống rửa tiền (money
laundering), và ngăn chận sự cạnh tranh bất chính về thuế.
Hiện tượng tham nhũng là một vấn
đề được bàn cãi đã rất lâu và đụng chạm đến nhiều khía cạnh phức tạp - tâm lý,
thể diện quốc gia, chủ quyền nội bộ - , nên mãi đến năm 1997 các nước thành
viên OECD mới thông qua một Công ước cấm hối lộ các nhà chức trách trong các
giao dịch kinh tế quốc tế, gọi tắt là Công ước chống tham nhũng (Anti-Bribery
Convention). Trong khuôn khổ Công ước này, OECD hàng năm báo cáo về các
biện pháp, luật lệ chống tham nhũng của các nước tham gia (30 nước thành viên
và Argentina, Brazil, Bulgaria và Chile), lập cơ sở dữ liệu và một trung tâm
thông tin điện tử (OECD Anti-Corruption Ring Online - AnCoR Web) để giúp
các chính quyền, các công ty và công chúng có thể tham khảo tất cả các tài liệu
liên quan. OECD cũng thành lập cho mỗi vùng một mạng luới chống tham nhũng tại
Đông Nam Âu châu, Á châu và Thái Bình Dương, v.v. Tất cả những hoạt động này
gây sức ép lên các chính quyền, bắt phải tuân theo các chuẩn quốc tế đã được
quy định.
Cũng cho mục đích trong sạch hoá
ấy, OECD tích cực chống rửa tiền, lập ra một nhóm nghiên cứu các luật lệ và thủ
tục áp dụng cho các giao dịch tài chính trong các nước sống nhiều về ngành ngân
hàng và chuyên đón nhận các luồng vốn từ nước khác đến tìm nơi ẩn náu để trốn
thuế hay để che dấu nguồn gốc bất chính. Nhóm Financial Action Task Force on
Money Laundering, gọi tắt là FATF mỗi năm công bố một danh sách các
nước bất hợp tác trong việc chống rửa tiền (non-cooperative countries and
territories - NCCT ), và yêu cầu các nước thành viên OECD "chỉ thị cho
các cơ sở tài chính của mình đặc biệt cảnh giác trong các giao dịch và quan hệ
kinh tế với những công ty và cơ sở tài chính của các nước này". Đây là một
hình thức vạch mặt chỉ tên, bêu xấu (“name and shame”), gần như kêu gọi
tẩy chay, hết sức hiệu nghiệm để ép các nước bị quy vào danh sách “cứng đầu”
phải sửa đổi luật lệ, cơ cấu để lấy lại thanh danh. Nhóm FATF xem xét từng
trường hợp, khen thưởng nước nào đã sửa sai bằng cách tuyên bố rút tên họ ra
khỏi danh sách NCCT, nhắc nhở và khuyến khích nước nào chưa cải tổ đủ để ra
khỏi danh sách NCCT nhưng tỏ ra có thiện chí, và đối với nước nào ngoan cố thì
đề nghị một số biện pháp theo dõi và hạn chế giao dịch. Báo cáo này của FATF
được chờ đợi, bàn tán rất nhiều mỗi năm, và các phản ứng hú vía mừng rỡ của các
nước “thoát nạn” hay tức giận phản đối của các nước bị nêu tên cho thấy tác
dụng rõ rệt của nó. Tuy FATF chỉ là một nhóm tự nguyện và các quyết định không
có giá trị ràng buộc pháp lý nhưng 40 “khuyến nghị” (recommendations)
của nhóm có hiệu lực chuẩn quốc tế trong việc ngăn chặn các giao dịch rửa tiền.
Với mục đích và biện pháp tương
tự, OECD cũng tìm cách ép các nước phải hợp tác để giải quyết tình trạng cạnh
tranh về thuế qua những chế độ ưu tiên nhằm thu hút đầu tư nhưng gây tổn hại
cho nước khác, thường gọi là "thiên đàng thuế" (tax haven).
Tháng 5.1998, OECD ra một bản báo cáo về hiện tượng này, đề nghị 19 điều khuyến
dụ và một số nguyên tắc chỉ đạo (Guidelines for dealing with harmful
preferential regimes) nhằm thuyết phục các nước thành viên và cả không
thành viên tránh áp dụng những biện pháp gây tổn hại này. Tháng 6.2000, OECD
công bố một danh sách 35 nước bị coi là thiên đàng thuế theo các tiêu chuẩn đã
ấn định và tổ chức một buổi họp với 30 nước thành viên và 30 nước khác để tìm
cách giải quyết một cách phối hợp. Đầu tháng 7.2001, OECD thông qua một bản báo
cáo sau khi đi đến một giải pháp dung hoà với các nước bị cho vào "sổ
đen" năm ngoái: các thiên đàng thuế sẽ không bị áp dụng các biện pháp
trừng phạt kinh tế nếu đồng ý hợp tác và cung cấp thông tin khi các cơ quan
điều tra của nước khác yêu cầu. Nói cách khác, các nước này chỉ cứu được chính
sách thuế của mình, và quyền tự chủ trong chừng mực này, với điều kiện là trong
suốt hơn và sẵn sàng hợp tác.
Trong các hoạt động chuẩn mực,
đạo đức hoá này, OECD cũng được sự hỗ trợ của nhiều tổ chức và cơ quan quốc tế
khác như IMF, Liên Hợp Quốc, Liên hiệp châu Âu, Interpol, Ủy ban Basel
Committee của tổ chức BIS (Bank for International Settlements), quản
lý các giao dịch giữa các ngân hàng trung ương quốc gia, v.v. Không kể đến một
vài nước như Mỹ, cũng rất tích cực, tiếp tục truyền thống sen đầm quốc tế của mình
xưa nay.
Vai trò sen đầm quốc tế của Mỹ
Ngoài việc tham gia tích cực vào
tất cả các hoạt động trong mọi tổ chức quốc tế để bảo vệ quan điểm và quyền lợi
của mình, nước Mỹ cũng không ngần ngại đơn phương kiểm soát, phân tích, vận
động, răn đe, nói chung là can thiệp vào bất cứ lĩnh vực gì cảm thấy mình có
quyền và có lợi ở đấy. Với những phương tiện khổng lồ của một cường quốc, Mỹ tự
thành lập cho mình một mạng lưới riêng để theo dõi và thúc đẩy việc thực thi
các chuẩn quốc tế song song với những bộ phận quốc tế chính thức có nhiệm vụ
quản lý chúng. Mỹ làm như thế dĩ nhiên không phải vì tinh thần quốc tế hay lý
tưởng đạo đức gì mà để giữ vững vị trí ưu thế của mình. Ở đây chỉ xin đơn cử vài thí dụ.
Ngoài vai trò then chốt trong các
đàm phán gia nhập WTO của các nước như Nga và Trung Quốc, Mỹ còn thiết lập cả
một cơ cấu để sau này tự mình kiểm soát các thành viên mới này có thi hành
nghiêm chỉnh hay không luật lệ WTO và các giao ước. Đấy không chỉ để trấn an dư
luận trong nước và thuyết phục quốc hội Mỹ thông qua các hiệp ước song
phương với Trung Quốc hay Việt Nam, mà còn là một chiến lược chung của chính
quyền Mỹ: kiểm soát và buộc các nước đối tác phải thi hành những gì đã ký kết
và thoả thuận. Nhiệm vụ kiểm tra này được giao cho 4 cơ quan: Bộ Thương mại, Bộ
Nông nghiệp, Bộ Ngoại giao và Văn phòng của Đại diện Ngoại thương Mỹ (United
States Trade Representative -USTR). Chẳng hạn Bộ thương mại có nhiệm vụ
theo dõi xem các nước khác, đặc biệt là Nhật và Liên hiệp châu Âu, có chấp hành
các điều lệ của WTO, và các nước xin gia nhập WTO, nhất là Trung Quốc và Nga,
sẽ có thực thi hay không các giao ước. Vụ ngoại thương thuộc Bộ thương mại cũng
lập ra đủ loại cơ quan để thực hiện chức năng này: các trung tâm Trade
compliance Center, Market access compliance (Mac), China Gateway,
v.v., đều là nơi thông tin cho các doanh nghiệp Mỹ về các luật lệ, chuẩn quốc
gia và quốc tế, và đều có một hộp thư điện tử (complaint hotline) khuyến
khích doanh nhân Mỹ than phiền, tố cáo những vi phạm của nước khác để chính quyền
Mỹ áp dụng biện pháp trả đũa hay đưa ra kiện trước WTO. Mỗi cơ quan được phân
công nhiệm vụ theo dõi trong lĩnh vực thẩm quyền của mình. Chẳng hạn Văn phòng
USTR, trong báo cáo hàng năm ra tháng 4 năm nay, chỉ trích 10 nước còn trì trệ
trong việc cải tổ hệ thống viễn thông, trái với những hiệp ước đã ký, và cho
riêng hai nước Mexico và Colombia một thời hạn nhất định để chấp hành nếu không
muốn bị lôi ra kiện trước WTO.
Trước sự phát triển của các luồng
thương mại đầu tư và các hiệp ước quốc tế, tổng thống Clinton tháng 4.2000 đã
đề nghị tăng thêm 22 triệu đô-la cho ngân sách các hoạt động kiểm tra và bảo vệ
quyền lợi của doanh nhân Mỹ này.
Về chống tham nhũng, Mỹ không
những theo dõi xem các nước kia có thực thi những điều khoản của Công ước hay không
mà còn kiểm soát cả các hoạt động của chính các tổ chức quốc tế trên phương
diện này! Quốc hội Mỹ đã thông qua đạo luật IAFCA (International
Anti-Bribery and Fair Competition Act) để giao cho Bộ thương mại nhiệm vụ
này. Mỗi năm, bộ báo cáo lên quốc hội kết quả của sự kiểm tra chi tiết đối với
từng nước và một số tổ chức quốc tế quan trọng như IMF, WTO hay Liên Hợp Quốc,
và cả những tổ chức nhỏ như Intelsat, chỉ lo về vệ tinh.
Mỹ cũng khuyến khích khu vực tư
nhân tham gia vào “công tác” kiểm soát này, trong đủ mọi lĩnh vực. Những tổ
chức tư nhân như Transparency International, American Bar Association,
tham gia chống tham nhũng. Business Software Alliance (BSA), quy
tụ các nhà sản xuất máy tính và phần mềm, tiếp tay với các chính quyền để chống
lại việc sao chép lậu phần mềm, góp phần thực thi các điều khoản của hiệp ước
TRIPs và các hiệp ước WIPO bảo vệ quyền sở hữu tri thức.
Nói tóm lại, các quốc gia phải
tuân thủ rất nhiều chuẩn mực quốc tế, dưới sự giám sát không những của các nước
khác trong khuôn khổ đa phương mà còn với áp lực đơn phương của vài cường quốc,
nhất là Mỹ. Khi thấy Mỹ tích cực như thế, coi việc kiểm soát thi hành như việc
riêng, thiết thân của mình, chúng ta cũng có thể đặt câu hỏi đâu là luật quốc
tế và đâu là luật của cường quốc, hay nếu dùng chữ nặng nề hơn, vấn đề là chuẩn
quốc tế hay chuẩn đế quốc?
Chuẩn quốc tế hay chuẩn đế quốc?
Không cần nhắc lại ở đây tại sao
Mỹ mang tiếng là có truyền thống và tác phong đế quốc. Chỉ nêu lên một nhận xét
nhỏ: cùng nói một thứ tiếng, nhưng người Anh coi chữ “aggressive” như
lời chê, trong khi người Mỹ thấy đó là lời khen. Điểm ấy đủ cho thấy đây là cả
một vấn đề nhân sinh quan, có thể giải thích được một số điều trong quan hệ
giữa Mỹ và thế giới. Hay chính xác hơn, có thể nói đây là một phong thái riêng,
kết quả không chỉ của sức mạnh kinh tế mà còn của nhiều nét đặc thù văn hoá. Ở
đây, để tìm hiểu cách nhìn và hành động của Mỹ đối với luật lệ và chuẩn quốc
tế, có thể nêu lên ba yếu tố: tính năng động, đầu óc phép tắc và sính kiện cáo
(legalistic attitude, esprit procédurier) và ý chí bảo vệ quyền lực kinh
tế, và ảnh hưởng chính trị và văn hoá.
Ai cũng biết, xã hội Mỹ xây dựng
trên tính năng động và người Mỹ có óc tố tụng cao. Phản ứng tự nhiên của họ là
tìm hiểu rõ quyền lợi của mình, bảo vệ triệt để nó và, vì quen đã làm gì thì
làm tới cùng, nên không ngần ngại kiện cáo. Chính quyền thì đương nhiên muốn có
mặt khắp nơi, cái gì cũng để mắt tới và lớn tiếng bảo vệ quyền lợi quốc gia và
của công dân mình. Sự hăng hái này (aggressive theo nghĩa của Mỹ) vì thế
dễ bị xem là hung hăng (aggressive theo cách hiểu của cả thế giới còn
lại). Óc phép tắc thể hiện qua sự quan trọng của hiến pháp, đạo luật gì cũng có
thể bị lôi ra để bàn cãi xem có kiện được là trái hiến pháp không. Cảnh sát
trước khi bắt bớ ai cũng phải đọc to các quyền lợi công dân cho người ấy nghe
để khỏi bị kiện sau này là giam cầm trái luật, trái phép. Cộng thêm ảnh hưởng
của truyền thống Thanh giáo khiến xã hội Mỹ hay gắn thêm kích thước đạo đức vào
cả các hoạt động chính trị và kinh tế, không có gì khó hiểu khi Mỹ đặt nặng vấn
đề tôn trọng chuẩn, kể cả các chuẩn có tính cách đạo đức như chống tham nhũng,
và tự cho mình quyền và bổn phận kiểm tra sự thực thi các chuẩn ấy khi quyền
lợi của mình bị đụng chạm. Ngược lại, cũng dễ hiểu khi thấy người Mỹ coi như
phạm thượng, chứ không chỉ là xâm phạm chủ quyền, khi một đạo luật Mỹ, hợp
hiến, phải sửa đổi dưới chỉ thị của một bộ phận đa hay siêu quốc gia.
Mặt khác, ngoài quyền lực kinh
tế, Mỹ còn muốn củng cố ảnh hưởng chính trị và văn hoá của mình trên mọi nước
khác. Thật ra cường quốc nào cũng muốn thế, nhưng Mỹ làm một cách có hệ thống
và rõ rệt hơn. Trong lĩnh vực luật quốc tế, Mỹ khuyến khích các viện nghiên
cứu, hiệp hội tư tham gia vào việc đào sâu, triển khai cơ sở lý thuyết của công
pháp quốc tế. Đây là công việc khoa học lúc nào cũng cần thiết và lại càng
không thể thiếu trong một thế giới toàn cầu hoá và tiến về kinh tế tri thức.
Tuy nhiên, qua đó các nhà trí thức Mỹ cũng góp phần củng cố ưu thế của một tư
duy tạm gọi là triết lý tự do Tây phương (Western liberalism). Trong vô
vàn các hiệp hội và cơ sở nghiên cứu ấy, không kể đến các nhóm thuộc các đại
học nổi tiếng như Yale và Harvard, chỉ xin nhắc đến hội American Society of
International Law (ASIL) và viện International Law Institute (ILI),
có mục tiêu chính thức là phổ biến đến tất cả các nước những hiểu biết và kinh
nghiệm để góp phần phát triển hệ thống luật quốc tế. Viện ILI đã thành lập một
trung tâm về luật thương mại quốc tế (International Trade Law Center) để
giúp đỡ các nước thành lập các cơ cấu luật pháp và hành chính cần thiết để tuân
thủ luật WTO, qua các chương trình đào tạo dành cho viên chức, doanh nhân và
trí thức các nước.
Nếu không chỉ nhìn riêng Mỹ mà
đặt vấn đề ở trên bình diện của triết lý tự do Tây phương nói chung, thì thông
qua các tổ chức quốc tế, ảnh hưởng của tư duy này cũng không dừng ở mức độ
thuyết phục bằng lý lẽ. Hai tổ chức Bretton Woods đều tìm cách tác động lên
guồng máy cai trị các nước. Ngay từ đầu thập niên 1950, Ngân hàng Thế giới
khuyến khích các chính quyền thành lập những bộ phận làm việc tương đắc với các
chuyên gia quốc tế và độc lập với bộ máy hành chính nội địa. Các chuyên gia bản
xứ, thường được đào tạo tại Tây phương, chia sẻ triết lý và những quan điểm của
thuyết tân tự do. Và nói chung trong các tổ chức quốc tế, đa số các vị trí lãnh
đạo thường dành cho các nước phát triển, và đa số các viên chức cao cấp là
người Âu châu và Bắc Mỹ. Dẫu biết rằng các quyết định là do các nước thành
viên, tức các quốc gia, chứ không ở do tổ chức nhưng yếu tố con người cũng có
một ảnh hưởng nhất định lên các bộ máy có trách nhiệm quản lý sự hình thành và
áp dụng các chuẩn quốc tế.
Từ đó, ta có thể hiểu được tại
sao Mỹ một mặt rất đòi hỏi các nước khác phải tuân theo luật lệ chung, một mặt không
ngần ngại vi phạm chính những luật lệ ấy khi chúng đụng chạm quyền lợi của
mình, dẫu nhất thời hay cục bộ. Lý do là, với vị trí và ảnh hưởng như thế, Mỹ
tự cho mình một tính ưu việt khác người, tự cho phép đứng trên luật khi cần
đến. Ở điểm này, Mỹ chưa ra khỏi thế kỷ XVII, khi Thomas Hobbes, một trong
những nhà lý luận đầu tiên về vấn đề chủ quyền, định nghĩa chủ quyền như đồng
nghĩa với quyền lực trong tác phẩm Leviathan (1651). Theo Hobbes, vua
làm ra luật nhưng luật không giới hạn quyền của vua. Mỹ có lẽ không dám nói
thẳng mình là vua nhưng không ít nhà trí thức Mỹ đã phân tích và xây dựng cả
một lý thuyết về chủ nghĩa biệt lệ của Mỹ (exceptionalism) để giải thích
tại sao Mỹ có quyền chỉ làm theo ý mình và biến chủ nghĩa đơn phương (unilateralism)
trong cả kinh tế lẫn chính trị và quân sự thành một thái độ chính đáng phù hợp
với sứ mệnh lãnh đạo thế giới của Mỹ (international leadership).
Với Tổng thống George W. Bush,
chủ nghĩa biệt lệ và đơn phương của Mỹ lên đến một mức cao hơn nữa :
tháng 3.2001, bất chấp sự phẫn nộ của các đối tác như Liên hiệp châu Âu, ông
Bush tuyên bố từ bỏ Công ước Kyoto, không đưa công ước này ra quốc hội Mỹ để
phê chuẩn tuy ông Clinton đã ký, xoá bỏ những gì đã giao ước với nước khác sau
10 năm thương thuyết. Báo chí châu Âu mỉa mai nhận xét là ông Bush có tham vọng
biến nước Mỹ thành một “me-nation” (theo khẩu hiệu “moi d'abord”),
một nước chỉ quan tâm đến việc bảo vệ một cách chật hẹp những quyền lợi nhất
thời của mình mà không cần biết gì đến thế giới chung quanh hay tương lai lâu
dài của nhân loại. Đấy cũng là cái nhìn ích kỷ, cục bộ và chật hẹp của ông Paul
O'Neill, bộ trưởng tài chánh Mỹ chỉ trích nặng nề các hoạt động của OECD (mà Mỹ
tích cực ủng hộ thời Clinton) trong việc chống các thiên đàng thuế và các hoạt
động rửa tiền, bất kể là các hiện tượng này đóng vai trò không nhỏ trong các vụ
khủng hoảng tiền tệ trên thế giới. Và sau biến cố 11.9.2001, chủ nghĩa đơn
phương trở thành quốc sách của Mỹ, nhân danh cuộc chiến tranh chống khủng bố,
chính đáng hoá mọi biện pháp vi phạm luật quốc tế hay chủ quyền của nước khác.
Vấn đề chủ quyền trên thế giới sau biến cố
11.9.2001
Có thể nói cuộc tấn công tàn bạo
ngày 11.9.2001 không chỉ làm sụp đổ hai toà nhà chọc trời cao nhất nhì thế
giới, tượng trưng cho uy quyền và sự thống trị của Mỹ, mà còn làm lay chuyển cả
nền tảng của công pháp quốc tế khi phản ứng của Mỹ là điềm nhiên vi phạm những
quy định cơ bản nhất về bang giao quốc tế, chủ quyền quốc gia, luật nhân đạo và
nhân quyền để thi hành một chính sách phòng ngừa (preventive policy) và
chiến lược đánh phủ đầu (pre-emptive strike strategy).
Ngày 23.9.2001, chỉ mươi
ngày sau biến cố, tổng thống Bush ra lệnh cho Bộ tài chính Mỹ áp dụng mọi biện
pháp cần thiết để điều tra, tại Mỹ cũng như ở bất cứ nước nào, những giao dịch
tài chính của bất cứ ai có thể bị tình nghi có liên hệ với một nhóm khủng
bố. Một trong những biện pháp này là chương trình theo dõi luồng tài chính của
các nhóm khủng bố (Terrorist Finance Tracking Program -TFTP), thi hành
trong vòng bí mật để nhận diện các tổ chức khủng bố và những người hoặc đoàn
thể chi viện họ. Trong không khí khẩn trương và sôi sục căm thù, ngày
24.10.2001, quốc hội Mỹ thông qua đạo luật USA Patriot ActUniting and Strengthening of America by Providing Appropriate Tools
Required to Intercept and Obstruct Terrorism), nhằm phát hiện và ngăn chặn
những nguồn chi viện khủng bố. Ngoài các biện pháp xâm phạm các quyền tự
do cá nhân cơ bản, cho phép các cơ quan an ninh vượt qua luật pháp hiện hành để
tuỳ nghi bắt giữ, tra hỏi những người bị tình nghi, đạo luật Patriot Act cũng
cho phép chính quyền Mỹ vượt qua các biên giới lãnh thổ để tuỳ nghi truy tố
công dân các nước khác theo các quy định do chính mình đề ra. (tên gọi tắt
của
Ở đây chỉ nêu lên vài thí dụ. Đạo
luật Patriot Act ban cho các toà án Mỹ quyền truy tố xét xử công dân các nước
khác về những hành vi ngay trong nước của họ, cho phép cơ quan tình báo Mỹ FBI
cài đặt chương trình Carnivore ở các công ty cung cấp dịch vụ Internet
để theo dõi mọi thư từ trao đổi trên mạng và chép giữ lại tông tích của những
người bị coi là khả nghi, nới rộng định nghĩa để bao gồm dưới quyền giám sát
của chính quyền Mỹ “bất cứ máy tính nào ở ngoài nước Mỹ được dùng một cách
bất lợi cho thương mại của nước Mỹ”. Do cấu trúc của Internet và vì đại đa số
các giao dịch điện tử đều đi qua nước Mỹ, Mỹ đương nhiên nới rộng ra khắp thế
giới địa hạt chủ quyền của mình, bất kể chủ quyền của các nước khác trên
Internet.
Một điều lệ khác của Patriot Act
nới rộng quyền xét xử của Mỹ ra các hành vi tham nhũng của viên chức nước
ngoài, với một diện đối tượng mới gọi là những “người dễ dính líu chính trị” (politically
exposed persons – PEPs). Patriot Act cộng thêm bốn tội phạm vào danh sách
hơn 200 “hành vi phi pháp định rõ” (specified unlawful activities): mua
chuộc công chức, lạm dụng và biển thủ công quỹ, tống tiền và ăn cắp. Tất cả
những tội phạm trên đều thuộc vào quyền xét xử của Mỹ, dẫu xảy ra bất cứ ở đâu,
nếu chỉ một phần thôi của số tiền liên can được chuyển dịch qua đất Mỹ. Ai có
thể bị coi là PEP? Theo định nghĩa trong điều lệ 312 của Patriot Act, mọi công
dân nước ngoài thuộc các diện sau đây: viên chức cao cấp, tại chức hay đã về
hưu, của các ngành lập pháp, tư pháp hay hành pháp, nhân viên các cơ quan
hành chính hay quân đội, chính khách, nhân viên các cơ sở quốc doanh (ngân
hàng, công ty, v.v.) và tất cả những thân nhân, bạn bè, đồng nghiệp và bất cứ
ai có quan hệ với tất cả những người kể trên! Nói cách khác, Mỹ tự cho mình
quyền truy tố bất cứ ai, công dân bất cứ nước nào, vì những hành vi bị coi như
phạm pháp tại Mỹ nhưng có thể hoàn toàn hợp pháp ở nước khác, và xảy ra ở nước
khác, trong khuôn khổ quan hệ kinh tế bình thường. Như thế, Mỹ áp đặt lên các
nước khác những quan điểm và tiêu chuẩn riêng của mình về "đạo đức kinh
tế", bất chấp luật pháp, chuẩn mực, truyền thống và cả chủ quyền của nước
khác.
Một bản tin trên báo New York
Times ngày 23.6.2006 gây chấn động tại châu Âu, đặc biệt ở Thuỵ Sĩ, nước
sống nhiều nhờ ngân hàng và bí mật ngân hàng. Theo tin này, bộ tài chính Mỹ,
trong khuôn khổ chương trình TFTP, đã ép chi nhánh tại Mỹ của công ty SWIFT (Society
for Worldwide Interbank Financial Telecommunications) phải cho họ truy nhập
những dữ liệu mật liên quan đến các dịch vụ ngân hàng để truy tầm khủng bố.
Công ty SWIFT có trụ sở tại Bruxelles và cung cấp các dịch vụ truyền tin và
giao diện cho hơn 7800 ngân hàng trên khắp thế giới, trong đó có những ngân
hàng trung ương các nước. Mỗi ngày, công ty chuyển giao các dữ liệu liên quan
đến các giao dịch tài chính trị giá 4800 tỷ euros. Trong lĩnh vực ngân hàng,
bảo vệ sự bí mật của mọi giao dịch là một đòi hỏi tiên quyết và điều kiện
cơ bản để các doanh nhân có thể yên tâm làm ăn. Việc một người ngoài có thể tuỳ
nghi soi mói, sao chép các dữ liệu riêng tư này bị coi như vi phạm nghiêm trọng
một nguyên tắc cơ bản của các giới tài chính. Trước sự phản đối của công luận,
các nước liên can phải lên tiếng. Một uỷ ban Quốc hội Bỉ kết luận là công ty
SWIFT như thế đã vi phạm các luật Bỉ và Âu châu về tính bảo mật. Điều trần
trước Quốc hội, Hội đồng Liên bang, cơ quan hành chánh tối cao của Thuỵ Sĩ,
công nhận là công ty SWIFT đã phải đồng ý cho phép truy nhập các cơ sở dữ liệu
vì sức ép của luật lệ và chính quyền Mỹ. Nhưng vì “nguyên tắc lãnh thổ của
công pháp quốc tế, quy chế bảo vệ bí mật ngân hàng của Thuỵ Sĩ chỉ áp dụng trên
lãnh thổ quốc gia. Thuỵ Sĩ do đó không thể ngăn cản chính quyền nước khác truy
nhập ở nơi khác những dữ liệu được bảo vệ ở đây.” Nói cách khác, vì tôn
trọng công pháp quốc tế và chủ quyền người khác, Thuỵ Sĩ đành chịu để người
khác xâm phạm chủ quyền của mình!
Mỹ không chỉ “lấn sân” các nước
mà còn “trưng dụng” các hoạt động chính đáng của một số tổ chức quốc tế để phục
vụ cho cuộc chiến tranh toàn diện chống khủng bố của mình. Vì mục tiêu chống
tham nhũng và rửa tiền, nhóm FATF đương nhiên trở thành đồng minh đắc lực của
Mỹ. Chỉ hơn một tháng sau biến cố 11.9, FATF đã thông qua ngày 30.10.2001 Tám
điều khuyến cáo đặc biệt (Eight Special Recommendations) về những việc
phải làm để ngăn chặn các nguồn chi viện khủng bố. Đầu tháng 2.2002, FATF triệu
tập một buổi họp tại Hồng Kông với sự tham dự của 60 nước và 9 tổ chức quốc tế,
trong đó có Interpol, Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng Thế giới, phát động một
chiến dịch tự kiểm điểm và cho các nước thời hạn là 3 tháng để trả lời. Tháng
6. 2002, FATF bắt đầu xem xét để lập danh sách các nước chưa chấp hành Tám điều
răn đặc biệt này, giống như danh sách NCCT các nước bất hợp tác đã nêu ở trên
(trang 15-16). Cuối năm 2004, một điều răn thứ chín được thông qua, và trong
buổi họp tháng 10.2005, FATF cũng khởi động một dự án quy mô nghiên cứu các
quan hệ hữu cơ giữa tham nhũng, rửa tiền và các nguồn chi viện khủng bố.
Song biểu hiện rõ ràng
nhất, huỵch tẹt nhất, của chính sách đơn phương là bản báo cáo 31 trang về
chiến lược quốc phòng (National Security Strategy – NSS) do Tổng thống
Bush trình lên Quốc hội Mỹ tháng 10.2002. Tài liệu này đuợc coi như bản
tuyên ngôn về “luận thuyết Bush” (Bush doctrine), gồm ba điểm cơ bản:
Một, Mỹ có quyền đánh phủ đầu những tổ chức khủng bố và những quốc gia có vũ
khí tiêu diệt hàng loạt (weapons of mass destruction - WMD). Hai, không
nước nào hoặc liên minh quốc gia nào đuợc phép thách thức sự thống trị quân sự
của Mỹ. Ba, để phòng ngừa vũ khí nguyên tử, biện pháp song phương hữu hiệu hơn
các tổ chức và hiệp ước quốc tế. Nói tóm lại, luận thuyết Bush tuyên bố từ nay
Mỹ sẽ không còn bị ràng buộc bởi những chuẩn mực và quy tắc truyền thống của
cộng đồng quốc tế. Đi xa hơn nữa, Mỹ tấn công thẳng vào nền tảng của công pháp
quốc tế và chế ra khái niệm “chủ quyền có điều kiện” (conditional
sovereignty). Các nước có vũ khí WMD đương nhiên sẽ bị Mỹ tịch thu chủ
quyền và đánh phủ đầu để chặn đứng mọi âm mưu. Nói cách khác, các nước trên thế
giới chỉ có chủ quyền nếu không bị Mỹ cho vào danh sách các nước “côn đồ”, và
ngay cả trong trường hợp ấy cũng phải chấp nhận để Mỹ xén bớt chủ quyền (vi
phạm không phận các nước châu Âu để bí mật chuyển tù binh Iraq chẳng hạn) khi
nào Mỹ muốn hoặc thấy cần. Như thế chỉ còn Mỹ là còn có chủ quyền thật sự, tức
là bất khả xâm phạm như theo hiệp ước Westphalia, nguyên tắc kim chỉ nam của
các bang giao quốc tế từ gần 400 năm nay.
Như một tác giả quen thuộc của Thời
Đại Mới, anh Cao Huy Thuần, đã viết trong “Nước Mỹ chúa tể”, cách
đây hai năm, “Chủ quyền của nước
Mỹ là tối thượng. Quan hệ quốc tế là rừng rú. Trong rừng rú, kẻ mạnh nhất là
chúa sơn lâm. ... Ðơn
phương, vì đơn phương là tự do hành động. Mà tự do hành động cao nhất là gì
trong lĩnh vực an ninh? Là đánh lúc nào muốn, lúc nào thuận tiện nhất, không
vướng đồng minh, không vướng tổ chức quốc tế, không vướng luật pháp, không
vướng bất cứ một ràng buộc nào.”
Những thất bại của Mỹ ở Iraq, sa
lầy trong một cuộc chiến ngày càng thảm khốc, ngày càng đi vào bế tắc, vẫn
không làm chính quyền Bush thối lui mà ngược lại càng lao tới trong một chủ
nghĩa đơn phương đầy nguy hiểm cho cả thế giới và tai hại cho cả nước Mỹ vì làm
sói mòn một hệ thống đa phương do chính Mỹ cổ vũ thành lập và cũng đã góp phần
củng cố vị trí và sức mạnh kinh tế chính trị của Mỹ cho tới nay. Bản NSS 2002
còn nhắc sơ qua đến điều lệ của hiến chương Liên Hợp Quốc về quyền tự bảo vệ để
biện bạch cho biện pháp vũ lực, chuẩn bị chiến tranh Iraq. Bản NSS 2006 công bố
tháng 3 năm nay lập lại tất cả những điểm chính của NSS 2002 nhưng không còn
nhắc nhở gì đến luật quốc tế nữa và hầu như không nói gì về vai trò của Hội
đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.
Nghiêm trọng hơn nữa, hành động
của Mỹ không chỉ tác hại lên tình hình an ninh, chính trị và kinh tế thế giới
mà còn mở cửa cho các vi phạm từ các nước khác. Khi mà một cường quốc chà đạp
những giá trị, chuẩn mực, quy tắc chính mình cổ vũ thì việc gì các nước khác
phải cảm thấy bị ràng buộc bời những luật lệ và nguyên tắc ấy ? Hệ thống pháp
lý cộng đồng quốc tế đã dày công xây dựng từ bao nhiêu năm nay có thể sụp đổ
hay chỉ còn là cái vỏ vô nghĩa nếu các quốc gia không phản ứng trước nguy cơ
của một thế giới trở về với luật rừng rú.
Để thực sự có đối trọng trước một
nước Mỹ hơn bao giờ hết có tác phong đế quốc và những nước tấp tểnh theo đuôi,
chỉ một hệ thống đa phương vững mạnh, có khả năng ép các thành viên tuân thủ
mới có thể chặn được nguy cơ ấy. Để thế giới không phải chịu luật rừng hay luật
đế quốc, hệ thống lập pháp quốc tế phải tập hợp đông đảo các tác nhân, với
nhiều kẻ yếu để họ liên kết với nhau, và nhiều kẻ mạnh để họ tự kềm chế nhau vì
không anh cường quốc nào sẽ chịu để anh cường quốc khác lấn áp mình quá. Không
phải ngẫu nhiên mà những thế lực bảo thủ hay thiển cận ở Mỹ bực mình WTO, vì
đấy là tổ chức duy nhất cho đến nay phần nào ép được Mỹ phải tôn trọng luật
chơi chung. Một thể chế đa phương hùng hậu là giải pháp tốt nhất hiện
nay, dẫu còn nhiều thiếu sót, để cân bằng phần nào tương quan lực lượng khi thế
giới còn đang mò mẫm với các mô hình quản trị đa phương.
Định nghĩa lại chủ quyền và vai trò của nhà nước dân tộc
trong thế giới toàn cầu hoá
Nhận xét trên đưa chúng ta trở về
vị trí của mỗi nước trong cộng đồng quốc tế, về chủ quyền quốc gia và vai trò
của nhà nước dân tộc trong bối cảnh hiện nay.
Từ khi các tập thể xã hội tổ chức
thành quốc gia sống chung với nhau, lúc chiến tranh lúc hoà bình, sự tiến bộ
trong suy nghĩ và hành động của con người, cho đến nay, đi song song với sự
phát triển của luật lệ và các giá trị nhân bản. Quá trình ấy đo bằng cả mấy
trăm năm nhưng chưa bao giờ sự tiến hoá lại nhanh như bây giờ. Trong chỉ vài
chục năm, cục diện của thế giới và đời sống xã hội của nhiều nước đã thay đổi
sâu sắc hơn cả sau một trăm năm trong các thế kỷ trước, đặt ra nhiều vấn đề mới
hoặc đòi hỏi những câu trả lời mới cho những vấn đề cũ. Tranh giành chỗ đứng
dưới mặt trời là vấn đề muôn thuở nhưng ngày nay đặt mỗi nước trước những cơ
hội và thách đố mới. Trong thế giới toàn cầu hoá, khái niệm cộng đồng quốc tế
ít ra cũng có nghĩa là mỗi nước có chỗ đứng của mình và khi các khái niệm như
công bằng (fairness) và pháp trị (rule of law) càng là những giá
trị cơ bản được tất cả chấp nhận, ghi vào luật lệ, trở thành chuẩn, thì đấy
cũng là cơ sở để phát triển và hoàn thiện những quy tắc chi phối các quan hệ
trong xã hội và thế giới.
Song, luật lệ là ràng buộc và
luật quốc tế giới hạn khá nhiều quyền tự chủ quốc gia như chúng ta đã thấy, thì
có thể tự hỏi nhà nước dân tộc còn có vai trò gì hay sẽ biến mất như theo một
số người nghĩ ? Theo nhiều tác giả, nhà nước dân tộc sẽ còn tồn tại, thậm chí
được củng cố vì trên vài phương diện, chính các yếu tố thách thức các chức năng
của nó, như Internet, cũng có thể mở ra những khả năng mới cho nó, như các hình
thức quản trị điện tử (e-governance). Và ngay cả nếu thế giới tiến đến
một mô hình quản trị toàn cầu, nhà nước dân tộc cũng sẽ có vai trò và chỗ đứng
riêng trong đó, dẫu không còn là tác nhân duy nhất trong việc quyết định và
quản lý.
Như đã nói ở trên, ngay cả trong
Liên hiệp châu Âu, các nhà nước vẫn là quyền lực tối cao ban hành và áp dụng
các luật lệ và chính sách, cai quản mọi hoạt động xã hội và chính trị trong một
nước. Luật lệ của Liên hiệp vẫn phải được quốc hội đưa vào luật quốc gia để
chính quyền áp dụng. Chưa có hệ thống đa hay siêu quốc gia nào trực tiếp thực
hiện các chức năng ấy, có thể ngay cả trong một Liên bang châu Âu theo mô hình
của các ông Shröder và Fischer. Đa số dân chúng trong mọi nước vẫn gắn bó với
khái niệm nhà nước dân tộc vì đấy là một trong những yếu tố của bản sắc dân
tộc, bên cạnh tiếng nói, lãnh thổ và các đặc thù văn hoá. Cuối cùng, và có lẽ
quan trọng nhất, cộng đồng quốc tế không phải là từ hành tinh nào đến mà là
tổng thể các quốc gia, và đối với luật quốc tế, các quốc gia vừa là khách thể,
vì chịu sự chi phối và ràng buộc của nó, vừa là chủ thể vì thiết lập và thực
thi các quy định của nó. Cho tới nay, luật quốc tế chỉ công nhận một đối tượng
là nhà nước và chỉ các nhà nước mới có quyền lập và sửa đổi, thông qua các tổ
chức quốc tế, các chuẩn quốc tế có ràng buộc pháp lý. Những chuẩn không do các
nhà nước thiết lập như Lex mercatoria, của các nhà buôn tự quy định với nhau để
hoà giải và tránh kiện tụng khi có vấn đề, hay giao thức TCP/IP, vẫn là những
thông lệ phải được các nhà nước thông qua mới có thể trở thành điều lệ pháp lý.
Mối tương quan giữa luật quốc tế
và nhà nước quốc gia là một quan hệ hỗ tương: chuẩn chỉ trở thành luật quốc tế
khi được thiết lập trong khuôn khổ của nhiều nhà nước và mỗi nhà nước chứng
minh tính chính đáng của các chính sách quốc gia trên cơ sở của chuẩn quốc tế.
Hơn thế nữa, tham gia vào hệ thống pháp lý quốc tế cũng cho phép lấy lại một
phần thế chủ động để ảnh hưởng lên việc thành lập những quy tắc sẽ áp dụng cho
tất cả. Chẳng hạn các nhà thương thuyết và soạn thảo các Hiệp ước WTO, bên cạnh
các điều lệ ràng buộc các thành viên, cũng ghi thêm một điều khoản nói rõ là
các quyết định của các bộ phận của WTO, từ Đại hội đồng đến các cơ quan giải
quyết tranh chấp, sẽ không có tác dụng thay đổi các quyền lợi và nghĩa vụ của
các thành viên. Nói cách khác, các quốc gia tự giữ lại cho mình quyền quyết định
cuối cùng về giới hạn của các ràng buộc phải đảm nhận. Ngay cả trong Liên hiệp
châu Âu, các nước thành viên, tuy nhượng lại một phần không nhỏ quyền tự chủ
của mình sang các bộ phận chung, qua đó cũng can thiệp và tác động được lên
nước khác vì cùng tham gia vào việc lập và quản lý chuẩn.
Từ đó ta có thể thấy vấn đề chủ
quyền, hay quyền tự chủ, phải được nhìn khác trước và định nghĩa lại. Khi các
vấn đề vượt quá khả năng giải quyết tối ưu của một nhà nước, như trong thế giới
toàn cầu hoá, thì việc uỷ quyền cho một thể chế cao hơn vừa là điều tất yếu vừa
là cách lấy lại phần nào sự chủ động vì được tham gia vào việc giải quyết ở mức
độ đa phương. Và nếu định nghĩa chủ quyền quốc gia dưới một góc độ khác, như
khả năng thực hiện các chức năng quản lý và bảo vệ quyền lợi của xã hội dân
tộc, và sự thừa nhận của các quốc gia độc lập khác, thì có thể nói trong bối
cảnh hiện nay, cách bảo tồn chủ quyền quốc gia tốt nhất là tham gia vào hệ
thống pháp lý và quản trị đa phương. Chỉ một khi đã hội nhập vào hệ thống đa
phương, một quốc gia mới được thừa nhận như một thực thể độc lập, có chủ quyền
pháp lý ngang hàng với các nước khác. Và chỉ khi vừa là thành viên vừa là chủ
thể trong một hệ thống quản trị quốc tế, một quốc gia mới có thể khắc phục được
những vấn đề vượt quá biên giới lãnh thổ của mình, bảo vệ quyền lợi của dân tộc
và đáp ứng định nghĩa của chủ quyền thực tiễn.
Mô hình Westphalia đã rất xa
chúng ta. Ngày nay, điều quan trọng không phải là có mất mát chủ quyền hay
không (vì chủ quyền có bao giờ tuyệt đối và bất di bất dịch) mà là biết được
cái phần chủ quyền bị “mất” ấy đi về đâu, vì sao và trong mục đích gì.
Tạm kết luận
Mỗi nước và cộng đồng quốc tế nói
chung đều phải cùng nhau giải quyết những vấn đề mới hoặc đặt ra ở một tầm cỡ
mới trong một khung lý thuyết và pháp chế đã cũ kỹ. Hệ thống các tổ chức đa
phương được hình thành từ sau Đệ nhị thế chiến, xây dựng trên khái niệm chủ
quyền quốc gia khi chỉ có ba mươi mấy nước độc lập trên thế giới. Ở đầu thế kỷ
XXI, có khoảng 200 quốc gia có chủ quyền và cố gắng giành được cho mình một chỗ
đứng thích ứng trong nền kinh tế quốc tế ngày càng hội nhập. Toàn cầu hoá đã
từng xảy ra trong lịch sử, nhưng những công nghệ mới như Internet và sự tiến
hoá của thế giới đến một nền kinh tế tri thức đã làm thay đổi bản chất của rất
nhiều vấn đề. Trong thế giới hậu biến cố 11.9, vấn đề chủ quyền trở thành then
chốt trong việc xem xét lại, củng cố và hoàn thiện thể chế đa phương để thế
giới có thể có hi vọng sống trong hoà bình.
Đỗ Tuyết Khanh
Tháng 11.2006
*Bài viết cho Hội thảo hè tại Aix-en-Provence (Pháp) tháng
7.2001, cập nhật và bổ sung tháng 11.2006
Tài liệu tham khảo
Jean Boulouis, Droit institutionnel de l'Union européenne,
Domat Droit public, Montchrestien, Paris, 1997.
Cao Huy Thuần, Nước Mỹ chúa tể, Thời Đại Mới, số 1,
tháng 3/2004
Jeffrey T. Checkel, Compliance and Conditionality,
Arena Working Papers WP 00/18, http://www.arena,uio.no/publications/wp00_18.htm
Pierre de Senarclens, Mondialisation, souveraineté et
théories des relations internationales, Armand Colin, Paris, 1998.
Christine Gray, The Bush Doctrine Revisited : The 2006
National Security Strategy of the USA, Chinese Journal of International
Law, Vol.5, No.3, trang 555-578, 12.10.2006
Jürgen Habermas, Après l'Etat-nation - Une nouvelle
constellation politique, Fayard, Paris 2000 (édition française)
Susan Hainsworh, Sovereignty, Economic Integration, and
the World Trade Organization, in Osgoode Hall Law Journal, (1996) Vol 33,
No 3.
James C. Hathaway, America, defender of Democratic
Legitimacy?, in European Journal of International Law (2000), Vol. I, No.1,
trang 121 - 134.
David Held, Political Theory and the Modern State,
Stanford University Press, Stanford, California, 1989.
International Monetary Fund, Conditionality in
Fund-supported Programs - Policy Issues, IMF, 16.2.2001
International Monetary Fund, Financial System Abuse,
Financial Crime and Money Laundering - Background paper, IMF,
12.2.2001
Stephen D. Krasner, Sovereignty, organized Hypocrisy,
Princeton University Press, Princeton, New Jersey, 1999.
Mark L. Movsesian, Sovereignty, Compliance, and the World
Trade Organization: Lessons from the History of Supreme Court Review, in
Michigan Journal of International Law, vol. 20, summer 1999, trang 775-818.
Nguyen Quoc Dinh+, Patrick Daillier, Alain Pellet, Droit
international public, Librairie générale de droit et de jurisprudence,
Paris, 1999, 6ème éd.
Organisation for Economic Cooperation and Development , Towards
Global Tax Cooperation - Report to the 2000 Ministerial Council Meeting and
Recommendations by the Committee on Fiscal Affairs, Progress in Identifying and
Eliminating Harmful tax Practices, OECD, 2000.
Henry H. Perritt, Jr., The Internet as a Threat to
Sovereignty? Thoughts on the Internet's Role in Strengthening National and
Global Governance, 1999, in Global Legal Studies Journal, Indiana
University School of Law - Bloomington, http://www.law.indiana.edu/glsj/vol5/no2/4perrit.html
Gary Sampson ed. , The Role of the World Trade
Organization in Global Governance, United Nations University Press, Tokyo,
2001.
US Department of Commerce, International Trade
Administration, Third Annual report under Section 6 of the International
Anti-Bribery and Fair Competition Act, July 2001
World Trade Organization, The Legal texts - The Results
of the Uruguay Round of Multilateral Trade Negotiations, Cambridge
University Press, ed. 1999.
Michael Zürn, The State in the Post-National
Constellation - Societal Denationalization and Multi-Level Governance,
Arena Working Papers WP 99/35, http://www.arena.uio.no/publications/wp99
©
Thời Đại Mới - Số 9 -
Tháng 11/2006
http://tapchithoidai.org/ThoiDai9/200609_DTKhanh.htm