Sở hữu nhà nước và vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Ở nước ta hiện nay sở hữu nhà nước được hiểu là sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện. Sở hữu nhà nước là trình độ thấp hơn của sở hữu toàn dân. Trong thời kỳ quá độ lên CNXH và trong giai đoạn XHCN chỉ mới có sở hữu nhà nước. Nhà nước đại diện cho toàn dân sở hữu những tài nguyên thiên nhiên, của cải, tài sản, tư liệu sản xuất, vốn, ngân sách nhà nước…, của toàn dân, của toàn xã hội.
Nhà nước không những sở hữu mà còn nhân danh toàn dân, toàn xã hội tổ chức quản lý, sử dụng và phân phối những sản phẩm được tạo ra từ những tài sản, tư liệu sản xuất, vốn, ngân sách nhà nước…
1. Sở hữu Nhà nước ở nước ta hiện nay
Kinh tế nhà nước dựa trên sở hữu nhà nước về tư liệu
sản xuất, về vốn…Ở nước ta hiện nay sở hữu nhà nước được hiểu là sở hữu
toàn dân mà Nhà nước là đại diện. Sở hữu nhà nước là trình độ thấp hơn
của sở hữu toàn dân. Trong thời kỳ quá độ lên CNXH và trong giai đoạn
XHCN chỉ mới có sở hữu nhà nước. Nhà nước đại diện cho toàn dân sở hữu
những tài nguyên thiên nhiên, của cải, tài sản, tư liệu sản xuất, vốn,
ngân sách nhà nước…, của toàn dân, của toàn xã hội. Nhà nước không những
sở hữu mà còn nhân danh toàn dân, toàn xã hội tổ chức quản lý, sử dụng
và phân phối những sản phẩm được tạo ra từ những tài sản, tư liệu sản
xuất, vốn, ngân sách nhà nước… Nhưng muốn thực hiện được điều đó phải
thực hiện được lợi ích kinh tế của sở hữu nhà nước. Nếu không có lợi ích
kinh tế thì sở hữu nhà nước chỉ là danh nghĩa. Điều đó đòi hỏi phải có
cơ chế giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền sở hữu của Nhà nước đối với
những tài nguyên, tài sản, tư liệu sản xuất, vốn, ngân sách nhà nước…
của chung, của toàn dân, của toàn xã hội với quyền sử dụng chúng của các
doanh nghiệp được giao quyền sử dụng và việc phân phối sản phẩm, giá
trị mới được tạo ra nhờ những tài nguyên, tài sản, tư liệu sản xuất,
vốn, ngân sách nhà nước… thuộc sở hữu nhà nước giao cho các doanh nghiệp
sử dụng. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cơ chế ấy phải
chăng là tỷ lệ phân chia sản phẩm, giá trị mới đó giữa Nhà nước và doanh
nghiệp thông qua việc doanh nghiệp nộp thuế cho Nhà nước. Chỉ có thu
được một phần lợi nhuận dưới hình thức thuế theo một tỷ lệ thích hợp từ
các doanh nghiệp được giao quyền sử dụng những tài sản, vốn… chung của
toàn xã hội, thì mới thực hiện được lợi ích kinh tế của sở hữu nhà nước.
Đồng thời, doanh nghiệp mới có động lực để phấn đấu sản xuất – kinh
doanh có hiệu quả nhằm thu được lợi nhuận cao hơn phần thuế phải nộp cho
Nhà nước, thì doanh nghiệp mới có thu nhập. Phần lợi nhuận cao hơn ấy
càng lớn thì thu nhập của doanh nghiệp càng cao.
2. Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Đảng ta chủ trương phát triển và nâng cao hiệu quả
của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,
trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng
với kinh tế tập thể dần dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc
dân.Tính chất nhiều thành phần kinh tế là nét đặc trưng có tính quy luật
của nền kinh tế quá độ lên CNXH ở nước ta. Các thành phần kinh tế trong
nền kinh tế quá độ luôn luôn vận động, phát triển trong mối quan hệ,
tác động qua lại, đan xen trong cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất, trên
cơ sở vừa hợp tác, bổ sung cho nhau, vừa cạnh tranh với nhau trong nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN và bình đẳng trước pháp luật.
Trong
quá trình vận động, phát triển các thành phần kinh tế phải được cải
biến dựa vào những tiền đề khách quan:Thứ nhất, xuất phát từ trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất xã hội và yêu cầu xã hội hoá sản xuất
trên thực tế.Thứ hai, xuất phát từ đặc điểm, tính chất của từng ngành
nghề mà xác định tỷ trọng, quy mô, cơ cấu các thành phần kinh tế cho phù
hợp.Thứ ba, xuất phát từ khả năng tổ chức và quản lý kinh tế của Nhà
nước XHCN và đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế.
Vấn đề không phải là
xoá bỏ hay ưu tiên thành phần kinh tế này hay thành phần kinh tế khác,
mà điều quan trọng là phải nắm vững bản chất của từng thành phần và sử
dụng chúng đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Mỗi thành phần kinh tế có bản
chất và những quy luật kinh tế hoạt động riêng, dựa trên một hình thức
sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất, và có khả năng tái sản xuất một
cách tương đối độc lập lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tương ứng.
Khả năng tái sản xuất là điều kiện tồn tại và vận động của mỗi thành
phần kinh tế. Chính xu hướng mở rộng hay thu hẹp khả năng tái sản xuất
chỉ rõ vai trò và triển vọng của mỗi thành phần kinh tế trong nền sản
xuất xã hội.
Tuy nhiên, các thành phần kinh tế không tồn tại một
cách biệt lập, mà có mối quan hệ và tác động qua lại, đan xen. Để đảm
bảo nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN, trong quá trình vận
động vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác, thành
phần kinh tế nhà nước phải tự vươn lên, làm sao để cùng với kinh tế tập
thể dần dần trở thành nền tảng cho chế độ XHCN.
Kinh tế nhà nước
bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, các sở hữu nhà nước như đất đai, tài
nguyên thiên nhiên, của cải, tài sản, tư liệu sản xuất, vốn, ngân sách
nhà nước, lực lượng dự trữ, kể cả một phần vốn của Nhà nước đưa vào các
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Nghĩa là, hệ thống kinh
tế nhà nước gồm hai bộ phận cấu thành: doanh nghiệp nhà nước và kinh tế
nhà nước phi doanh nghiệp (đất đai, tài nguyên thiên nhiên, của cải, tài
sản, tư liệu sản xuất, vốn, ngân sách nhà nước, các quỹ quốc gia…).
Thành phần kinh tế không chỉ bao hàm giác độ sở hữu mà còn bao hàm sức
mạnh tổ chức, sức mạnh hợp tác của các tổ chức kinh tế hoạt động dựa
trên một chế độ sở hữu nhất định. Thành phần kinh tế nhà nước không chỉ
bao hàm doanh nghiệp nhà nước, mà còn bao hàm sức mạnh kinh tế đứng đằng
sau các chính sách và hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước, bao hàm
khả năng tổ chức và hoạch định chính sách đúng đắn của Nhà nước, bao hàm
sự gắn kết hợp lý của hệ thống doanh nghiệp nhà nước, tài chính nhà
nước, luật pháp và hiệu lực quản lý của nhà nước. Như vậy, thành phần
kinh tế nhà nước được hiểu tổng hợp hơn so với trước đây. Hình thức tổ
chức kinh doanh là sự tập hợp tư liệu sản xuất dưới một hình thái nào đó
được pháp luật thừa nhận để trực tiếp tiến hành sản xuất, kinh doanh.
Nói cách khác, đó là các loại hình doanh nghiệp khác nhau. Một doanh
nghiệp có thể dựa trên một hoặc nhiều hình thức sở hữu, là công cụ trong
tay thành phần kinh tế đầu tư vốn vào doanh nghiệp để phục vụ cho mục
tiêu của chủ đầu tư. Thông qua các doanh nghiệp, thông qua các tổ chức
đại diện cho chế độ sở hữu, các thành phần kinh tế phát huy vai trò của
mình trong nền kinh tế.Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà
nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc
hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội do Nhà
nước giao. Doanh nghiệp nhà nước có hai loại: loại hoạt động kinh doanh
vì mục tiêu lợi nhuận, và loại hoạt động công ích không vì mục tiêu lợi
nhuận. Ngoài ra, còn có loại nằm giữa hai loại trên như những tổ chức
kinh tế đang quản lý, duy tu, bảo dưỡng cơ sở kinh tế hạ tầng (cầu,
đường, sân bay, bến cảng…).
Loại này có xu hướng chuyển hoá từng
phần sang loại trên.Kinh tế nhà nước cần và có thể giữ vai trò chủ đạo
vì những lý do sau đây:
Thứ nhất, kinh tế nhà nước dựa trên chế độ
công hữu (sở hữu nhà nước) về tư liệu sản xuất, là chế độ sở hữu phù hợp
với xu hướng xã hội hoá của lực lượng sản xuất. Ở đây, cần phân biệt
hình thức sở hữu và chủ sở hữu. Nhà nước- đại diện cho toàn dân – là chủ
sở hữu công cộng của toàn dân.
Thứ hai, kinh tế nhà nước nắm giữ những vị
trí then chốt, yết hầu, xương sống của nền kinh tế, do đó nó có khả
năng, có điều kiện chi phối hoạt động của các thành phần kinh tế khác,
bảo đảm cho nền kinh tế phát triển theo hướng đã định.
Thứ ba, kinh tế nhà nước là lực lượng bảo
đảm cho sự phát triển ổn định của nền kinh tế; là lựclượng có khả năng
can thiệp, điều tiết, hướng dẫn giúp đỡ và liên kết, tạo điều kiện cho
các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.
Thứ tư, kinh tế nhà nước có thể tác động tới
các thành phần kinh tế khác không chỉ bằng các công cụ và đòn bẩy kinh
tế, mà còn bằng con đường gián tiếp, thông qua những thiết chế và hoạt
động của kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa.
Thứ năm, kinh tế nhà nước dẫn đầu trong việc
ứng dụng khoa hoc – công nghệ hiện đại, tiên tiến; do đó nó có nhịp độ
phát triển nhanh, đóng góp phần lớn cho ngân sách nhà nước, và tự tích
tụ để có thể không ngừng tái sản xuất mở rộng.
Thứ sáu, kinh tế nhà nước là lực lượng nòng
cốt hình thành các trung tâm kinh tế, đô thị mới; là lực lượng có khả
năng đầu tư vào những lĩnh vực có vị trí quan trọng sống còn, nhưng đòi
hỏi vốn lớn mà thời gian thu hồi vốn lại chậm…
Đại hội X của Đảng khẳng định lại vai trò chủ đạo của
kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN: “ Kinh
tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà
nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và thúc đẩy
các thành phần kinh tế khác cùng phát triển. Kinh tế nhà nước cùng với
kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế
quốc dân”(1).
Đồng thời với khẳng định vai trò to lớn của kinh tế
nhà nước, Đại hội cũng tuyên bố rõ ràng rằng: “Các thành phần kinh tế
hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền
KTTT định hướng XHCN, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu
dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”(2) Đảng cam kết chỉ đạo Nhà nước
thi hành các chính sách kinh tế không phân biệt đối xử với các hình thức
sở hữu. Đây là một bước tiến mới về quan điểm kinh tế nhiều thành phần
của Đảng ta. Hơn nữa, Đảng chủ trương đưa hệ thống doanh nghiệp nhà nước
ra hoạt động trong môi trường công khai, minh bạch và cạnh tranh thực
sự, xoá bỏ độc quyền và đặc quyền sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
nhà nước, buộc doanh nghiệp nhà nước phải hoạt động hiệu quả mới được
tồn tại.
Đảng ta đặt kinh tế nhà nước nói chung, doanh nghiệp
nhà nước nói riêng trong môi trường thị trường đồng bộ, cạnh tranh đầy
đủ và hội nhập kinh tế quốc tế. Có nghĩa là kinh tế nhà nước nói chung,
doanh nghiệp nhà nước nói riêng phải thích nghi và buộc phải hoạt động
trong môi trường KTTT đầy đủ, chấp nhận luật chơi của các tổ chức kinh
tế quốc tế, chấp nhận cạnh tranh trong điều kiện bảo hộ của Nhà nước
giảm đến mức tối thiểu: "Phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự
vận hành của các loại thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành
mạnh. Phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ. Thu hẹp lĩnh vực nhà
nước độc quyền kinh doanh, xoá bỏ độc quyền doanh nghiệp… Phát triển
vững chắc thị trường tài chính bao gồm thị trường vốn và thị trường tiền
tệ theo hướng đồng bộ, có cơ cấu hoàn chỉnh…Phát triển thị trường bất
động sản, bao gồm thị trường quyền sử dụng đất và bất động sản gắn liền
với đất… Phát triển thị trường lao động trong mọi khu vực kinh tế…Phát
triển thị trường khoa học công nghệ trên cơ sở đổi mới cơ chế, chính
sách để phần lớn sản phẩm khoa học công nghệ trở thành hàng hoá"(3) và
“Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn
với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục vụ
đất nước làm mục tiêu cao nhất”(4). Quan điểm chỉ đạo kiên quyết này đặt
ra cho quản lý của nhà nước và doanh nghiệp những yêu cầu mới: một là,
Nhà nước phải chủ động thay đổi những phương thức hành động không phù
hợp với KTTT và cam kết quốc tế bằng các phương thức phù hợp và có hiệu
quả hơn.
Để làm được như vậy, Nhà nước phải có tiềm lực tài
chính lớn, có nghĩa là vai trò của kinh tế nhà nước không giảm đi, ngược
lại có thể tăng lên; hai là, doanh nghiệp nhà nước phải được cải tổ
nhanh và chuyển sang các hình thức hoạt động hiệu quả để có thể tồn tại
và đem lại cho nhà nước một công cụ định hướng, điều tiết tốt. Để làm
được như vậy, Đảng ta chỉ rõ: “Đẩy mạnh việc sắp xếp, đổi mới và nâng
cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là cổ phần hoá. Cơ cấu lại
doanh nghiệp nhà nước, tập trung vào một số lĩnh vực kết cấu hạ tầng,
sản xuất tư liệu sản xuất và dịch vụ quan trọng của nền kinh tế, vào một
số lĩnh vực công ích… Thúc đẩy hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh,
tầm cỡ khu vực…”(5); ba là, bộ máy nhà nước phải thích ứng với vai trò
mới theo hướng:- Nhà nước tập trung làm tốt các chức năng vĩ mô như định
hướng bằng các chiến lược, kế hoạch, quy hoạch, cơ chế, chính sách có
chất lượng trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường; tạo môi
trường cho các chủ thể phát huy tối đa các nguồn lực; hỗ trợ phát triển
kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội; bảo đảm tính bền vững và tích cực của
các cân đối vĩ mô…
- Nhà nước tác động đến thị trường chủ yếu thông qua cơ chế, chính sách và các công cụ kinh tế;
-
Thực hiện quản lý nhà nước bằng hệ thống pháp luật, giảm tối đa sự can
thiệp hành chính vào hoạt động của thị trường và doanh nghiệp;
-
Tách chức năng quản lý hành chính của Nhà nước ra khỏi chức năng quản lý
kinh doanh của doanh nghiệp, xoá bỏ “chế độ chủ quản”;
- Tách hệ thống hành chính ra khỏi hệ thống cơ quan sự nghiệp;
Tóm
lại, quan điểm của Đảng ta về kinh tế nhà nước vừa là sự kế thừa quan
điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, vừa phát triển lên một mức cao hơn và giải
thích rõ hơn các nội dung liên quan đến kinh tế nhà nước như mối quan
hệ của nó với thành phần kinh tế khác, cấu thành của kinh tế nhà nước,
vai trò và nội dung chủ đạo của kinh tế nhà nước, phương thức hoạt động
của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường hội nhập và quan hệ
giữa nhà nước kinh tế và nhà nước chính trị… Những điểm phát triển này
tạo cơ sở lý luận và nhận thức đúng đắn cho các đảng viên, nhất là các
đảng viên giữ vai trò lãnh đạo, quản lý trong thành phần kinh tế nhà
nước. Song, có thể nhận thấy, thực tiễn vận hành kinh tế nhà nước sẽ còn
đặt ra nhiều yêu cầu đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn chỉnh về
lý luận.
Để thành phần kinh tế nhà nước có thể thực hiện vai trò
chủ đạo, chi phối hoạt động của các thành phần kinh tế khác, cần áp dụng
nhiều biện pháp đồng bộ, trong đó có một số biện pháp chủ yếu sau đây:
Một là, tập trung nguồn lực để phát triển kinh tế nhà nước trong những ngành, những lĩnh vực trọng yếu; những cơ sở sản xuất thương
mại, dịch vụ quan trọng; một số doanh nghiệp thực hiện những nhiệm vụ
có quan hệ đến quốc phòng, an ninh… Nhà nước chỉ nên nắm một số không
nhiều "những đài chỉ huy" trong nền kinh tế, tức là những vị trí kinh tế
then chốt, yết hầu, thông qua đó mà điều tiết, chi phối, hướng dẫn hoạt
động của các thành phần kinh tế khác, bảo đảm cho nền kinh tế phát
triển theo định hướng XHCN.
Hai là, giải quyết tốt mối quan hệ giữa
quyền sở hữu và sử dụng tư liệu sản xuất của toàn dân bằng cách lựa chọn
các hình thức kinh tế phù hợp.
Ba là, đổi mới, dẫn đầu trong việc ứng dụng
khoa học – công nghệ hiện đại và phát huy ưu thế về kỹ thuật tiến bộ
nhất; liên kết, liên doanh với các thành phần kinh tế khác nhằm nâng cao
năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả kinh tế – xã hội.
Bốn là, thực hiện từng bước vững chắc việc
cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà nước, trong đó cổ phần thuộc sở
hữu nhà nước là cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt. Để được cổ phần
chi phối, Nhà nước phải nắm trên nửa số cổ phần của doanh nghiệp, hoặc
cổ phần của Nhà nước ít nhất cũng phải gấp đôi số cổ phần của cổ đông
lớn nhất khác trong doanh nghiệp. Cổ phần đặc biệt là cổ phần có quyền
quyết định một số vấn đề quan trọng của doanh nghiệp theo thoả thuận
trong Điều lệ doanh nghiệp. Để thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp, Nhà
nước có thể bán cổ phần cho cán bộ, công nhân viên chức trong doanh
nghiệp; có thể vừa bán cho lao động trong doanh nghiệp vừa bán cho tổ
chức và cá nhân ngoài doanh nghiệp; cũng có thể giữ nguyên tài sản của
Nhà nước, chỉ phát hành một số cổ phiếu để tăng vốn cho cơ sở sản xuất
đã có hay cho phân xưởng mới thành lập; hoặc cũng có thể gọi cổ phần
ngay từ đầu khi mới thành lập.
Năm là, tiếp tục sắp xếp lại các doanh
nghiệp nhà nước cho phù hợp với yêu cầu sản xuất – kinh doanh trong điều
kiện mới. Phương hướng chủ yếu hiện nay là thành lập một số tổng công
ty, tập đoàn kinh doanh lớn có uy tín, có tầm vóc quốc gia và quốc tế,
tạo thế và lực để phát triển, đủ sức cạnh tranh trong nền kinh tế thị
trường, đặc biệt trong quan hệ kinh tế với nước ngoài.Đối với những
doanh nghiệp xét thấy không cần thiết hoặc thua lỗ kéo dài, không có khả
năng vươn lên, thì chuyển sang hình thức sở hữu khác, cho thuê, bán
khoán hoặc giải thể. Ở đây, cần chống hai khuynh hướng sai lầm: hoặc coi
nhẹ doanh nghiệp nhà nước, muốn tư nhân hoá tràn lan; hoặc bảo thủ,
muốn duy trì toàn bộ doanh nghiệp nhà nước, không muốn tổ chức sắp xếp
lại cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới.
Sáu là, để nâng cao tính hiệu quả kinh tế
của các doanh nghiệp nhà nước xứng đáng là bộ khung trong hệ thống các
doanh nghiệp của toàn bộ nền kinh tế, cần phải nâng cao tính hạch toán,
tính chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, của giám đốc và tập thể người lao động. Để cho các doanh nghiệp
hoạt động có hiệu quả cần phải đánh giá toàn diện khả năng sinh lợi của
doanh nghiệp. Đối với những trường hợp lợi nhuận cao là do sự độc quyền
của doanh nghiệp, do chính sách kinh tế ưu đãi của Nhà nước, thì dứt
khoát phải có sự điều tiết thích hợp.Nhìn một cách tổng quát, bảo toàn
vốn và có lãi là nguyên tắc quan trọng nhất và là mục tiêu cơ bản nhất
để quản lý doanh nghiệp nhà nước, tạo cơ sở vững chắc cho Nhà nước thực
hiện đúng các định hướng vĩ mô. Vai trò then chốt của doanh nghiệp nhà
nước được thực hiện thông qua các phương pháp, công cụ kinh tế nhằm bảo
đảm sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư của Nhà nước. Hoạt động của
doanh nghiệp nhà nước phải phù hợp với các nhiệm vụ phát triển kinh tế
của đất nước. Doanh nghiệp nhà nước là công cụ để Nhà nước thực hiện vai
trò điều tiết vĩ mô. Lĩnh vực quan trọng mà doanh nghiệp nhà nước phải
giữ vai trò nòng cốt là ổn định thị trường, thực hiện nghiêm túc các mục
tiêu chính trị, xã hội./.
—————-
(1), (2), (3), (4), (5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr.83, 83, 80-82, 113-114, 85
SOURCE: TẠP CHÍ TUYÊN GIÁO ĐIỆN TỬ - PGS. TS. VŨ VĂN PHÚC – Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
Trích dẫn từ:http://tuyengiao.vn/Home/tutuong/lyluanthuctientutuong/2011/2/29073.aspx
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):1900 6816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------