Soạn thảo Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa hai chủ thể có trụ sở kinh doanh đặt tại các quốc gia khác nhau được coi là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có rủi ro rất lớn.Để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro, doanh nghiệp cần xây dựng một hợp đồng ......
Hợp
đồng mua bán hàng hóa giữa hai chủ thể có trụ sở kinh doanh đặt tại
các quốc gia khác nhau được coi là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế có rủi ro rất lớn.
Để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro, doanh nghiệp cần xây dựng một hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế hợp pháp, đầy đủ và chi tiết. Với
khuôn khổ một bài viết, chúng tôi không thể đề cập được một cách cụ
thể và toàn diện về các nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế mà chỉ trình bày những vấn đề quan trọng nhất trong một
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà các doanh nghiệp cần lưu tâm
trong quá trình soạn thảo.
1. Xác định chủ thể giao kết hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế:
Khi giao kết, tham gia bất kỳ một hợp đồng nào, điều đầu tiên mà các
bên phải kiểm tra đó chính là đối tác giao kết, tham gia và thực
hiện hợp đồng.
1.1. Bên bán và bên mua
Trong thực tế giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhiều khi
xảy ra hiện tượng:
a) Công ty mẹ là bên bán/mua đích thực (bên có và
thực hiện quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng với tư cách là bên
bán/bên mua) nhưng bên ký hợp đồng lại là công ty con.
b) Bên bán/bên mua là pháp nhân nhưng bên đứng ra ký
kết hợp đồng chỉ là đơn vị trực thuộc của pháp nhân như chi nhánh,
văn phòng đại diện, phòng kinh doanh,…
c) Bên ký kết hợp đồng là một công ty nhưng bên thực
hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng lại là một công ty liên kết
của công ty ký kết hợp đồng
Hiện tượng này thường gây ra hậu quả:
a) Các bên không thiện chí có thể rũ bỏ, đùn đẩy
trách nhiệm;
b) Hợp đồng rất có thể bị tuyên bố vô hiệu;
c) Việc xác định tư cách đương sự khi có tranh chấp
xảy ra là rất khó khăn
Vi phạm về thẩm quyền ký kết hợp đồng cũng là một hiện tượng rất
phổ biến. Pháp luật các nước đều đưa ra nguyên tắc chung rằng người
đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thầm quyền ký kết hợp
đồng. Rất nhiều doanh nghiệp cho rằng giám đốc là người đại diện
theo pháp luật. Cách hiểu này không đúng cho mọi trường hợp. Ví dụ
các công ty Singapore thường có một ban giám đốc gồm rất nhiều giám
đốc. Vậy ai có quyền ký hợp đồng? Một hiện tượng khác, mặc dù rất
dễ phát hiện nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn chủ quan bỏ qua. Đó là
trường hợp phó giám đốc, trưởng phòng, giám đốc kinh doanh, thậm chí
nhân viên kinh doanh ký hợp đồng…nhưng không có văn bản ủy quyền hợp
lệ.
“Đối tác ma” cũng là vấn đề nhiều doanh nghiệp mắc phải, ký kết
hợp đồng xong xuôi, chuyển hàng/chuyển tiền rồi thì mới ngã ngửa ra
là đối tác không có thật.
Vì vậy, để tránh những rủi ro đáng tiếc về tư cách chủ thể, các
doanh nghiệp nên:
1) Kiểm tra kỹ tư cách chủ thể của đối tác giao kết
hợp đồng. Trong nhiều trường hợp cần yêu cầu đối tác chuyển bộ hồ
sơ pháp lý của đối tác để thẩm tra. Cẩn trọng hơn có thể đề nghị
bên thứ ba tham gia thẩm tra.
2) Trong trường hợp bên bán/bên mua đích thực không
trực tiếp ký hợp đồng thì cần phải làm rõ lý do họ không trực
tiếp ký, việc không ký trực tiếp có phù hợp với luật áp dụng
không, nếu chấp nhận việc ký kết qua ủy quyền thì cần yêu cầu văn
bản ủy quyền hợp lệ, đồng thời làm rõ quyền, nghĩa vụ, trách
nhiệm của bên ủy quyền và bên nhận ủy quyền.
3) Về người có thẩm quyền ký kết hợp đồng: Cần
kiểm tra xem ai có quyền ký kết hợp đồng.
Trong nhiều trường hợp, hợp đồng đang được thực hiện thì một phần
hoặc toàn bộ quyền và nghĩa vụ của một bên trong hợp đồng được
chuyển cho bên thứ ba. Ví dụ: Công ty A (Singapore) ký hợp đồng mua 100
tấn cá basa của công ty B (Việt Nam), điều kiện CIF – cảng Singapore, A
là bên trực tiếp nhận hàng, hàng đang trên đường vận chuyển đến
Singapore thì A chuyển thư lệnh đến B yêu cầu giao hàng cho Công ty C,
điều kiện CIF – cảng Singapore.
Việc chuyển nhượng/chuyển giao này nhiều khi gây khó khăn và thiệt
hại cho bên còn lại. Để ngăn ngừa các tình huống này các bên nên có
những qui định về hạn chế chuyển giao quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng
hoặc xây dựng điều kiện, qui trình chuyển giao quyền, nghĩa vụ trong
hợp đồng chặt chẽ.
Mẫu qui định dưới đây là một gợi ý:
“Không bên nào có quyền chuyển nhượng/chuyển giao bất kỳ quyền
và/hoặc nghĩa vụ nào có trong và/hoặc liên quan đến hợp đồng này
nếu không có được sự đồng ý trước bằng văn bản của bên còn lại.”
1.2. Đại lý/đại diện thương mại/bên nhận ủy thác
Thực tế thương mại quốc tế muôn hình muôn vẻ, không phải lúc nào bên
bán/bên mua đích thực trực tiếp ký và/hoặc thực hiện hợp đồng mà
họ ủy nhiệm, ủy quyền hoặc ủy thác cho bên thứ ba thường là đại
lý, đại diện thương mại hoặc bên nhận ủy thác ký kết hợp đồng
và/hoặc thực hiện hợp đồng. Trong trường hợp này, doanh nghiệp cần
phải kiểm tra các vấn đề sau:
1) Xác định rõ quan hệ đại lý/ủy quyền/ủy thác, cơ
sở pháp lý, tính hợp pháp của quan hệ này? Văn bản xác lập quan hệ
này có hợp lệ không? Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ
đại lý/ủy quyền/ủy thác?...
2) Tư cách pháp lý và tình trạng tài chính của các
bên như thế nào? Trách nhiệm của các bên này đối với hợp đồng mua
bán hàng quốc tế ra sao? …
Nếu không thẩm định toàn diện các vấn đề trên, rất có thể doanh
nghiệp sẽ không biết kiện ai khi tranh chấp xẩy ra hoặc nếu có kiện
thành công thì quyết định, bản án của cơ quan tài phán chưa chăc đã
thi hành được.
2. Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:
2.1. Hình thức tối ưu của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Thực tế hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể tồn tại dưới
dạng văn bản, lời nói hoặc hành động cụ thể. Nhưng, để bảo đảm an
toàn, hình thức tối ưu của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế vẫn
là hình thức văn bản. Ngoài văn bản viết, thực tiễn thương mại quốc
tế thừa nhận các dạng tồn tại sau đây của dữ liệu như là văn bản:
1) Bản fax;
2) Điện tín, điện toán;
3) Tài liệu mềm (tồn tại ở dạng file điện tử như
email,...)
2.2. Các phương thức giao kết hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế:
1) Giao kết trực tiếp: Theo phương thức này hai bên sẽ chuẩn bị một bản
hợp đồng có đầy đủ nội dung và hai bên cùng ký trực tiếp vào hợp
đồng. Phương thức này có tính an toàn cao nhất nhưng lại không tiện
dụng vì hai đối tác ở hai quốc gia khác nhau không phải lúc nào cũng
gặp được nhau để ký kết.
2) Chào hàng và chấp nhận chào hàng: Đây là phương thức phổ biến nhất
trong thương mại quốc tế. Bên bán có thể gửi cho bên mua một thư chào
hàng (offer), bên mua có thể gửi cho bên bán một lệnh đặt hàng (order).
Trong một thời hạn hợp lý, bên nhận chào hàng sẽ gửi thư xác nhận
về việc chấp nhận chào hàng/lệnh đặt hàng hoặc không. Khi bên chào
hàng/đặt hàng nhận được chấp nhận chào hàng/lệnh đặt hàng thì coi
như hợp đồng được giao kết. Các thư giao dịch này có thể được gửi
qua fax, email hoặc phương tiện liên lạc khác. Các doanh nghiệp cần lưu
ý, dù giao kết theo hình thức chào hàng và chấp nhận chào hàng,
các nội dung tối thiểu của một hợp đồng mua bán hàng hóa phải đầy
đủ: Tên, địa chỉ của các bên; hàng hóa, số lượng, chất lượng, qui
cách, giá cả, phương thức thanh toán, thời gian giao giao hàng. Trong
thư chào hàng/lệnh đặt hàng nên ghi thời hạn trả lời chào hàng/lệnh
đặt hàng.
Các đối tác làm ăn lâu dài nên sử dụng phương thức giao kết trực
tiếp để ký một hợp đồng mua bán hàng hóa chung qui định đầy đủ các
vấn đề để áp dụng chung cho tất cả các giao dịch. Mỗi giao dịch đơn
lẻ sẽ áp dụng phương thức chào hàng - chấp nhận chào hàng.
(st)
--------------------------------------------------------------------------------
Nếu Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW (SUN LAW FIRM)


TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM
--------------------------------------------------------------------------------