Tài sản bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ: Ưu tiên thanh toán cho ai?
Xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các chủ thể cùng nhận một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ là một vấn đề còn vướng mắc trong thực tiễn xét xử của Tòa án và thực tiễn ký kết, thực hiện hợp đồng bảo đảm của các ngân hàng thời gian qua.
Được coi là mục tiêu quan trọng hàng đầu khi xây dựng
hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm, nhưng dường như vấn đề nêu trên
chưa thực sự được quan tâm đầy đủ và toàn diện.
Giấy tờ gốc hay thời điểm đăng ký quan trọng hơn?
Đầu tháng 7/2010, tòa án nhân dân tỉnh P thụ lý một
vụ tranh chấp về hợp đồng tín dụng giữa Chi nhánh Ngân hàng X (dưới đây
gọi tắt là X) và Chi nhánh Ngân hàng Y (dưới đây gọi tắt là Y) xoay
quanh việc X nhận thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay của Công ty
TNHH A và sau đó Công ty TNHH A lại dùng tài sản hình thành từ vốn vay
đó thế chấp tại Y để vay vốn. A mất khả năng thanh toán, làm nảy sinh
vấn đề xử lý tài sản thế chấp. Theo bản án sơ thẩm số 05/2010/KDTM-ST
ngày 09/7/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh P thì Y được hưởng quyền ưu tiên
phát mãi tài sản thế chấp vì đã “xuất trình toàn bộ các giấy tờ gốc của
tài sản”, còn X không được hưởng quyền ưu tiên phát mãi tài sản thế
chấp vì “không cầm, nắm giữ cơ sở pháp lý gốc của tài sản thế chấp”.
X không “tâm phục khẩu phục”, vì họ đã đăng ký giao
dịch bảo đảm trước Y tới hơn 1 năm, cùng tại Trung tâm đăng ký giao
dịch, tài sản tại TP Đà Nẵng (Giấy chứng nhận đăng ký thế chấp tài sản
giữa A và X có thời điểm đăng ký là 13h56’ phút ngày 14 tháng 4 năm
2006; trong khi việc đăng ký thế chấp tài sản giữa A và Y có thời điểm
đăng ký là 15h21’ ngày 4 tháng 6 năm 2007).
Tra lại các quy định của pháp luật hiện hành về thời
điểm đăng ký, thứ tự ưu tiên thanh toán và căn cứ xác định thứ tự ưu
tiên thanh toán thì “một tài sản có thể bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ
dân sự, nếu có giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn
tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận
khác hoặc pháp luật có quy định khác” (khoản 1, Điều 324 BLDS 2005).
Căn cứ để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm phải là thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm
Trong trường hợp một tài sản bảo đảm thực hiện nhiều
nghĩa vụ và đều thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm thì thứ tự ưu tiên
thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm được pháp luật quy định như sau:
“Thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm được xác định theo
quy định tại Điều 325 Bộ luật Dân sự” (khoản 1 Điều 6 Nghị định số
163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm). Trong trường hợp giao dịch bảo đảm
được đăng ký thì “thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm
được xác định theo thứ tự đăng ký” (khoản 1 Điều 325 BLDS 2005). Ngoài
ra, khoản 1 Điều 11 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP quy định: “Giao dịch bảo
đảm có giá trị pháp lý đối với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký” và
theo Thông tư số 06/2006/TT-BTP ngày 28/9/2006 của Bộ Tư pháp hướng dẫn
về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin về giao
dịch bảo đảm tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng
ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp thì “thời điểm đăng ký
giao dịch bảo đảm là thời điểm Trung tâm Đăng ký nhận hồ sơ đăng ký hợp
lệ”.
Theo một chuyên gia của Bộ Tư pháp, với các quy định
nêu trên, căn cứ để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản
bảo đảm phải là thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm chứ không phải là
việc cầm, giữ giấy tờ chứng minh về quyền sở hữu đối với tài sản bảo
đảm.
Mặt khác, theo quy định tại khoản 1 Điều 350 Bộ luật
Dân sự 2005 thì việc “nắm, cầm, giữ” giấy tờ về tài sản thế chấp hoàn
toàn do các bên thỏa thuận (giấy tờ có thế chấp do bên thế chấp hoặc bên
nhận thế chấp giữ).
Do đó, việc Tòa án nhân dân tỉnh P cho rằng, do X
“không cầm, nắm giữ cơ sở pháp lý gốc của tài sản trùng lắp” nên không
thể phát mãi tài sản trùng lắp giữa hai ngân hàng để bảo đảm việc thanh
toán nợ cho X là chưa phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005
và các văn bản hướng dẫn thi hành. Nếu áp dụng các quy định về thứ tự ưu
tiên thanh toán trong việc giải quyết vụ việc nêu trên thì tài sản bảo
đảm khi xử lý phải được ưu tiên thanh toán cho X trước khi thanh toán
cho Y.
Tìm hiểu kỹ tình trạng của tài sản thế chấp
Tìm hiểu cặn kẽ thông tin về tình trạng pháp lý của
tài sản được dùng để thế chấp trước khi ký kết hợp đồng thế chấp tài sản
sẽ không bao giờ là thừa – quan chức Vụ Pháp luật Dân sự (Bộ Tư pháp)
khuyến cáo – đặc biệt là đối với bất động sản. Việc tìm hiểu thông tin
này không phải là quá khó (chỉ cần đến cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm
có thẩm quyền), trong khi lại cực kỳ hữu ích: thông tin có xác nhận của
cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm không chỉ giúp ngân hàng đánh giá
được rủi ro tín dụng, mà còn là một cách thức để ngân hàng bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình khi phát sinh tranh chấp liên quan đến thứ
tự ưu tiên thanh toán. Bởi lẽ, đây được coi là một căn cứ chứng minh
người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự.
Về phía các cơ quan tư pháp, để thống nhất cách hiểu
và xử lý những tranh chấp tương tự, nhằm thực hiện đúng quy định của
pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm trong thực tiễn xét xử, vẫn
chuyên gia trên gợi ý, một văn bản liên tịch của Bộ Tư pháp và Tòa án
Nhân dân tối cao hướng dẫn về giá trị pháp lý của việc đăng ký trong
việc giải quyết các tranh chấp về hợp đồng là hết sức cần thiết.
SOURCE; BÁO DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP ĐIỆN TỬ - VŨ HỒNG
Trích dẫn từ:
http://dddn.com.vn/20110425041925436cat177/tai-san-dung-de-bao-dam-thuc-hien-nhieu-nghia-vu-uu-tien-thanh-toan-cho-ai.htm
(SUNLAW FIRM:
Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật
và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý
kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
THAM KHẢO DỊCH VỤ LUẬT LIÊN QUAN:
1. Dịch vụ tư vấn Giải thể Doanh nghiệp tư nhân;
2. Dịch vụ tư vấn Giải thể Công ty cổ phần;
3. Dịch vụ tư vấn thông báo tạm ngừng hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần;
4. Dịch vụ tư vấn chấm dứt hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh Công ty cổ phần;
5. Dịch vụ tư vấn Giải thể Công ty TNHH 2 thành viên trở lên;
6.
Dịchvụ tư vấn đăng ký chấm dứt hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại
diện,địa điểm kinh doanh Công ty TNHH 2 thành viên trở lên;
7. Dịch vụ tư vấn : Thông báo tạm ngừng hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH 1TV do tổ chức làm chủ sở hữu;
8. Dịch vụ tư vấn Giải thể Công ty TNHH 1TV do tổ chức làm chủ sở hữu;
9. Dịch vụ tư vấn Giải thể Công ty TNHH 1TV do cá nhân làm chủ sở hữu;
10.
Dịch vụ tư vấn thông báo tạm ngừng hoạt
độngkinh doanh của Công ty TNHH 01 thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu;
11. Luật sư tư vấn Giải thể Doanh nghiệp;
12. Dịch vụ tư vấn giải thể chi nhánh;
13. Dịch vụ luật sư đại diện theo ủy quyền của Doanh nghiệp;
14. Dịch vụ Luật sư cho công ty;
15. Dịch vụ luật sư tư vấn pháp lý dài hạn cho doanh nghiệp;
16. Tư vấn Giải thể Công ty;
17. Tư vấn tạm ngưng hoạt động doanh nghiệp;
18. Tư vấn giải thể doanh nghiệp.