Thị trường M&A có gì khác biệt trong thời kỳ suy thoái hiện nay?
Với tình trạng hỗn loạn trong nền kinh tế tài chính như hiện nay, giới kinh doanh chẳng ngạc nhiên gì khi thấy các hoạt động M&A đột ngột giảm mạnh trong quý bốn năm 2008. Từ năm 1980, các cuộc suy thoái kinh tế ở Mỹ từng dẫn tới những đợt sụt giảm nhanh chóng về giá trị của hoạt động
M&A toàn cầu – thường khoảng 50% trong suốt năm đầu tiên.
Sự sụt giảm đó bắt
nguồn từ những yếu tố mà chúng ta đang thấy trong chính cuộc suy thoái hiện nay
bao gồm việc hạ thấp giá trị hợp đồng trên các thị trườngđầu tư vốn tư nhân; các khó khăn về tài chính, đặc biệt đối với
những thương vụ lớn; và cả một nỗi sợ hãi chung về tương lai của nền kinh tế,
điều buộc các nhà đầu tư hầu như dừng lại những kế hoạch của mình. Hơn nữa, tháng
12 năm 2008, các thị trường cổ phiếu đều đồng loạt tụt giảm từ 40 đến 50 phần
trăm so với các mức kể từ tháng 1 đầu năm. Những mong chờ về lợi nhuận công ty
ngày càng trở nên thấp hơn, còn sự tiếp cận đến các quỹ đang trở thành thách
thức, chí ít là vậy. Môi trường kinh doanh hiện tại đang rất ác nghiệt và không
một ai biết thị trường M&A sẽ phát triển ra sao trong thời gian sắp tới.
Chính quý cuối năm 2008 đã cho thấy sự sụt giảm mạnh trong hoạt động này và đó
vẫn là tình trạng không chắc chắn có thể được cân nhắc về khả năng của các thị
trường vốn đầu tư dài hạn – cụ thể là các thị trường nợ – nhằm cung cấp đủ khả
năng tài chính để hỗ trợ hợp đồng. Tuy nhiên, về lâu dài, chúng ta đều tin rằng
những xu hướng mới nổi lên trong giai đoạn quá khứ sẽ vẫn giữ được tầm quan
trọng của mình. Và như vậy, tất yếu rằng khuôn mẫu của hoạt động M&A trong
thời kỳ suy thoái hiện nay sẽ tương đối khác so với những gì thuộc các thời kỳ
trước đây.
Trong quý bốn năm 2007, các thị trường chứng khoán đã bắt đầu xuống dốc và nền
kinh tế thế giới bắt đầu chậm chạp sụt giảm trong suốt năm 2008. Song, thị
trường M&A nên được nhìn nhận theo bối cảnh: giá trị của hoạt động M&A được
công bố cho cả năm đã đạt được 3,4 nghìn tỉ đô-la trên toàn cầu, đạt mức cao
nhất thứ ba trong mọi thời điểm. Nếu như giá trị của hoạt động này trong năm
2007 được xem như một sự trệch hướng thì năm 2008 dường như để đánh dấu sự quay
lại của nó hơn là sự sụp đổ hoàn toàn: giá trị sụt giảm 25% so với năm 2007,
quay về bằng với mức của năm 2006, năm có giá trị cao nhất thứ hai trong mọi
thời kỳ. Hơn nữa, giá trị đó đã tăng lên đáng kể theo từng quý cho tới khi xảy
ra khủng hoảng vào quý bốn – bất chấp các thị trường chứng khoán giảm 40 đến 50
phần trăm, những mong đợi về lợi nhuận công ty bị sụt giảm và khả năng tiếp cận
các quỹ bị hạn chế. Trong quý bốn, số lượng đáng kể của những hợp đồng quy mô
lớn, chẳng hạn như cuộc đấu thầu của BHP Billiton
dành Rio Tinto, đã bị hủy bỏ. Tuy nhiên, dù số lượng của các hợp đồng bị hủy bỏ
trong quý này tương đối cao thì so với cả năm vẫn chưa đáng kể – chỉ khoảng 15%
hợp đồng theo giá trị và 4% hợp đồng về số lượng của năm, trái với mức trung
bình tương ứng là 13% và 5% kể từ năm 1995. Quả thực, dù chu trình đã đạt đỉnh
trong các năm 2006 và 2007, chỉ hơn 60% các hợp đồng đã công bố trong hai năm
này được hoàn thành thì vẫn chẳng là gì so với con số 87% trong mười năm trước.
Trong năm 2008, hoạt động M&A đã có sự gia tăng từ việc cơ cấu lại các vụ
giao dịch do tình trạng khủng hoảng tạo ra: các hợp đồng có tài trợ của chính
phủ chiếm 25% tổng số trong kim ngạch các tổ chức tài chính, được giải ngân tới
23% tổng số hợp đồng trong năm 2008. Tuy nhiên, ảnh hưởng của những hợp đồng đó
có lẽ bị hạn chế nhiều hơn so với suy nghĩ của hầu hết giới quan sát. Mười vụ
giao dịch lớn hàng đầu dành cho các tổ chức tài chính một lần nữa lại chiếm tới
4,5% tổng số hợp đồng trong năm 2008 so với giới hạn 5% trong năm 2007.1 Thậm
chí, những giao dịch này có bị hạn chế thì số lượng ưu đãi vẫn gây sửng sốt cho
giới quan sát trong năm 2008 và M&A đã lần nữa chứng tỏ ngày càng trở nên
sôi động hơn trong cả năm này. Vì vậy, dĩ nhiên câu hỏi chính là hoạt động của
năm 2008 cảnh báo điều gì cho năm 2009.
Một kiểu chu trình khác biệt?
Trong cả chu trình diễn ra một M&A như trước đây, khi số lượng đạt đỉnh vào
năm 1999 và sau đó sụt xuống gần một nữa trong suốt năm kế tiếp trước khi chạm
đáy thì năm 2002, chu trình đã kết thúc một cách đột ngột và dứt khoát. Người
ta không thể dự đoán được thị trường M&A sẽ đi đến đâu trong thời gian ngắn
cũng như không một ai tiên đoán được sự phục hồi nhanh nhất. Tuy nhiên, khi suy
ngẫm về các xu hướng trong chu trình trước đây và sự thực hiện của thị trường
trong năm 2008, ta sẽ thấy bối cảnh vừa xuất hiện tương đối khác với khuôn mẫu
bùng nổ và tắt ngấm của những chu trình trước đây. Những đặc tính cụ thể về
hoạt động hợp đồng trong chu trình trước đây luôn gợi ý rằng M&A có thể trở
nên sôi động hơn và phù hợp hơn với nền kinh tế chung trong thời kỳ khủng hoảng
như hiện nay so với những thương vụ M&A thời gian trước.
- M&A đang
ngày càng gia tăng trên toàn cầu hơn là bị thống trị bởi một vài quốc gia
ít liên kết với nhau. Trong các năm 2000 và 2001, Mỹ, châu Âu và châu Á đã
giải ngân xấp xỉ tương ứng là 60, 30 và 10 phần trăm số lượng hợp đồng
theo mục tiêu. Nhưng từ năm 2005 tới năm 2008, sự phân bố đã cân bằng hơn
nhiều theo tỉ lệ tương ứng là 40, 40 và 20 phần trăm. Hoạt động M&A
xuyên quốc gia đã tăng từ 23% theo tổng số trong năm 2000 lên 29% trong
năm 2006 và 41% vào năm 2007 trước khi rớt xuống còn 35% trong năm 2008.
Các thị trường mới nổi, đặc biệt ở châu Á, đã đóng một vai trò quan trọng
trong sự chuyển biến này; cụ thể là cả Trung Quốc và Ấn Độ cùng chiếm tới
12% tổng số các hợp đồng xuyên quốc gia về lĩnh vực này trong năm 2008.
- Một đặc
tính hạn chế của những năm qua chính là các hợp đồng quy mô lớn – những
giao dịch được định giá từ 10 tỉ đô-la trở nên – đều bị định hướng bởi sự
tin tưởng vào thị trường cũng như xu hướng về sự tập trung ngành nghề lớn
hơn. Trong năm 2008, sự tập trung của những hợp đồng như vậy đã thay đổi
một cách đáng kể; hầu hết chúng đều được tái cơ cấu trong lĩnh vực tài
chính (ví dụ như vụ mua lại Ngân hàng Mỹ của Merrill Lynch). Và 37 hợp
đồng như vậy, với giá trị gần 833 tỉ đô-la trên toàn cầu, đã chiếm một tỉ
lệ đáng kể trong tổng số hợp đồng về M&A. Khi cuộc khủng hoảng về tài
chính và kinh tế lắng xuống, hoạt động của những hợp đồng lớn có thể
chuyển hướng thành những hợp đồng chuyển đổi quy mô lớn trong những ngành
nghề khác chẳng hạn như năng lượng, vật liệu hay viễn thông. Cuộc suy
thoái những năm 2001 – 2002 đã không đẩy nhiều công ty lớn vào tình cảnh
túng quẫn về tài chính. Nhưng cuộc suy thoái hiện nay lại đang làm điều đó
và như vậy sẽ chuẩn bị cho các hợp đồng định hình theo ngành nghề, quy mô
lớn diễn ra theo con số cao hơn.
- Hoạt động
thù địch chính là việc đạt đỉnh vào năm 2007 đã trở nên ngày càng nổi bật
như kết quả của sự tin tưởng vào thị trường quá mạnh mẽ và các điều kiện
tài chính bất thường. Nhưng thật ngạc nhiên khi sự ổn định của những hợp
đồng như vậy vẫn cao vào năm 2008; trong ba quý đầu tiên của năm 2008, số
hợp đồng được thực hiện đã đạt gần 50 tỉ đô-la mỗi quý, bằng với ngưỡng
trung bình từ năm 2000 đến năm 2007, trước khi giảm xuống 21 tỉ đô-la vào
quý bốn. Và chúng đều là những hợp đồng quy mô lớn chẳng hạn như thương vụ
hãng sản xuất ổ bi Schaeffler của Đức đã bỏ thầu 35,6 tỉ đô-la để mua lại
hãng sản xuất các bộ phận xe ô tô Continental.
- Chính nguồn
vốn đầu tư tư nhân đã đạt được các mức chưa từng thấy về hoạt động và tầm
quan trọng trong suốt chu trình này, mở rộng từ 4% thị trường M&A toàn
cầu trong năm 2000 lên thành 20% đến kinh ngạc chỉ trong nửa đầu năm 2007.
Phần nào thì sự phát triển ồ ạt và nhanh chóng này cũng đã phản ánh được
nhu cầu triển khai các quỹ có quản lý với sự gia tăng từ 3% một năm từ năm
2000 tới năm 2004 vụt lên 33% một năm từ năm 2004 tới năm 2007, đến nỗi
ngành mua lại toàn cầu đã tiêu tới 900 tỉ đô-la vào các thương vụ M&A
này. Tài sản của mười quỹ vốn đầu tư tư nhân tên tuổi hàng đầu ở Bắc Mỹ đã
tăng lên gấp mười lần trong suốt mười năm qua. Được kết hợp với tín dụng
mức thấp và có sẵn tiền một cách dễ dàng, những sự phát triển này đã làm nảy
sinh việc đầu tư khoản tiền lớn chưa từng có trong lịch sử của nguồn vốn
đầu tư tư nhân. Tuy nhiên, xu hướng này đã dẫn đến một kết cục bất ngờ
trong năm 2008 ngay khi các thị trường tín dụng bị vỡ nợ. Hầu hết số lượng
hợp đồng bằng nguồn vốn đầu tư tư nhân đã giảm xuống 72% so với năm 2007,
chiếm khoảng 6% tổng số hợp đồng M&A. Quan trọng hơn là bản chất của những
hợp đồng bằng nguồn vốn đầu tư tư nhân đã khép lại sự thay đổi đột ngột.
Kể từ khi tình hình trở nên khó khăn trong xu thế hiện này thì việc xây
dựng tổ hợp doanh nghiệp cho những hợp đồng chung, có liên quan tới vốn
đầu tư tư nhân trong những hợp đồng quy mô lớn chỉ còn thưa thớt và hầu
như đã dừng hẳn. Trong năm 2008, duy nhất một giao dịch đơn lẻ kiểu như
trên được công bố trị giá 10 tỉ đô-la, nhưng sau đó cũng bị hủy bỏ và
không một hợp đồng có giá trị lớn nào nữa như vậy được thực hiện trong
năm, so với 9 hợp đồng được thực hiện trong năm 2007 và 14 trong năm 2006.
Trong sự thiếu vắng đi các quỹ vốn đầu tư tư nhân với mức tín dụng thấp,
người ta mới nhận thấy chính những quỹ này đã hạn chế những hợp đồng với
lượng vốn đầu tư cổ phần cao hơn nhiều. Bởi thông thường, các quỹ này vẫn
nắm khoản tiền vốn đặt cọc ít ỏi trong những hợp đồng mà trước đó họ từng
thừa nhận kiểm soát hoặc tập trung vào các lớp tài sản thay thế chẳng hạn
như nợ tịch biên. Và như vậy, với sự giảm sút trên quy mô lớn, các hoạt
động vốn đầu tư tư nhân thực sự vừa xảy ra thì không thể sụt giảm thêm
được nữa mà ngược lại, mọi cái dường như sẽ tăng lên một khi cuộc khủng
hoảng tài chính bắt đầu lắng xuống.
- Những người
mua chiến lược, với nguyên tắc định hướng rõ ràng, đã không mất đi sự hiểu
biết sâu sắc về giá trị. Trong thời kỳ bùng nổ M&A, những người mua
thường bị lôi kéo để trả cao hơn chứ không như trong tình trạng hiện nay
khi giá trị do M&A tạo ra lại tự tăng một cách ổn định. Tuy nhiên, một
số tín hiệu bất an đã xuất hiện trong năm 2008. Tổng mức giá trị được tạo
ra bắt đầu sụt giảm và mục tiêu giữ vững được nó là cả một vẫn đề lớn 2,
cho dù phí bảo hiểm đã trả vẫn còn thấp. Trong năm 2008, giá trị hợp đồng
gia tăng (deal value added – DVA) trung bình – mức hạn định ủy quyền của
tổng giá trị được tạo ra đối với người mua và người bán – đã giảm xuống so
với năm 2007 (6,4%) còn 2,8%, thậm chí thấp hơn cả mức trung bình dài hạn
4%.3 Sự sụt giảm này hoàn toàn bắt nguồn từ sự giảm sút nhanh chóng trong
việc tạo ra giá trị cho người mua, còn đối với bên bị mua thì có tăng một
chút vào năm 2008 so với những năm trước. Để hiểu được điều gì vừa xảy ra,
bạn phải xem xét sự phản ứng của thị trường đối với các hợp đồng – cụ thể
là tỉ lệ cân xứng của chúng mà người mua từng phải trả cao hơn.4 Từ năm
2004 đến năm 2007, con số này dao động giữa khoảng 55 đến 57 phần trăm,
dưới mức trung bình dài hạn 61%. Tuy nhiên, trong năm 2008 tỉ lệ này đã
tăng tới 63%.
Trong năm 2009, hầu hết những vấn đề này vẫn chưa có gì thay đổi. Những sự kiện
xảy ra của năm cũ đã chắc chắn giải quyết được thảm họa lớn đối với sự tin
tưởng của nhiều công ty. Vì vậy, chẳng cần phải nói cũng thấy số lượng các vụ M&A
vẫn giữ nguyên sự ổn định. Trong tình trạng suy thoái hiện nay, các công ty
tham gia với bản cân đối kế toán cùng những đánh giá giá trị tương đối tốt sẽ
trở nên có nhiều điều kiện tồn tại hơn. Và khi tình trạng suy thoái tăng cao
thì những công ty có tiếng trong nhiều lĩnh vực chắc chắn sẽ đến gần với tình
trạng túng quẫn về tài chính hơn. Vì vậy, những hợp đồng giá trị lớn của các
năm 2006 và 2007 đều trở thành những đòi hỏi đầy tham vọng của các công ty hoạt
động tốt được tạo điều kiện thuận lợi bởi việc có được nguồn tài chính thấp;
những công ty trong năm 2008 có sự thức tỉnh từ việc thất bại của các ngân
hàng. Mặc dù các điều kiện tài chính giờ đây được cân nhắc đầy thử thách hơn,
nhưng điều đó không có nghĩa là đặt dấu chấm hết cho các bản hợp đồng qui mô
lớn vì trong năm 2009 và năm 2010, chắc chắn sẽ có một lượng các nhà tiếp quản
lên kế hoạch tốt về những gã khổng lồ trong ngành đang chật vật. Mà hiện nay,
trên thị trường đã bắt đầu thấy xuất hiện một vài điểm sáng cho dù còn rất ít.
Một vài năm tới sẽ cho thấy các cơ hội có thể cân nhắc được đối với những người
mua đầy nguyên tắc và tham vọng – và những cơ hội này không chỉ có ý nghĩa cung
cấp ngắn hạn như chúng ta vừa thấy trong những năm qua. Những người mua châu Á,
ít bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tín dụng hơn các đồng sự của họ ở châu Âu
và Mỹ, lại sẽ có được sự khích lệ mạnh hơn trong việc tìm kiếm những vụ mua bán
công ty ở nước ngoài.
Sẽ khác biệt ở điều gì?
Cho dù chúng ta thấy sự thay đổi rất ít trong những vấn đề đang định hướng thị
trường M&A thì cách mà các công ty nghĩ tới việc thực hiện những hợp đồng
này hầu như lại thay đổi rõ rệt. M&A trong một thị trường đang gia tăng
luôn dễ dàng tiếp cận được với nguồn vốn hơn so với quá nhiều người mua khác
nhau trong một thị trường thời kỳ suy thoái, thời điểm các cơ hội tăng lên đồng
thời mọi quyết định phải trở nên cực kỳ nhanh nhạy. Và những khác biệt chủ yếu
đó nằm trong ba khía cạnh cụ thể sau.
Tốc độ
Khoảng thời gian giữa việc công bố và chốt lại các hợp đồng trị giá lớn hơn 1
tỉ đô-la vừa mới rút ngắn lại một cách nhanh chóng, từ khoảng 130 ngày (1995 –
2007) xuống còn gần 60 ngày trong năm 2008. Các công ty phải hết sức tỉnh táo
về vấn đề này nếu muốn chốt hợp đồng thành công trên những thị trường không
kiểm soát được như hiện nay. Điều này đòi hỏi họ phải đảm bảo được sự nhanh
chóng, đánh giá trách nhiệm cao nhất nhắm vào những vấn đề chính và sau đó sử
dụng các báo cáo lẫn bảo hành một cách mở rộng hơn để đánh giá những vấn đề nhỏ
còn lại.
Quản lý cổ đông
Trong thị trường ngày nay, một công ty không thể bắt đầu thương lượng hợp đồng
mà thiếu hiểu biết chắc chắn về việc liệu hợp đồng đó có sự hỗ trợ cần thiết
vào phút chót hay không không: không mất quá nhiều thời gian để tạo dựng được
sự đồng tâm nhất trí nội bộ trong ban giám đốc cũng như các nhà điều hành không
còn phải thừa nhận rằng cổ đông sẽ có lợi tức cao hơn nhờ bất kỳ rắc rối nào.
Thực tế, một công ty phải tích cực thiết lập được những kỳ vọng thực tế về lợi
nhuận và sự tăng trưởng vì không thể như những năm trước, nhiều thành viên ban
giám đốc và cổ đông đều chỉ có những kỳ vọng phi thực tế kiểu như tình trạng
suy thoái vẫn chưa phản ánh được những ước tính lợi nhuận trong tương lai và
vấn đề đó sẽ được quản lý nhằm đưa ra các biện pháp tăng trưởng mở rộng chính
xác hơn. Còn trong tình hình hiện nay, chúng ta sẽ thấy tỉ lệ hợp đồng có nguồn
vốn nhờ đầu tư tư nhân lớn hơn do chính những tình hình không chắc chắn về nền
kinh tế: điều này khiến cho sự hỗ trợ ban giám đốc và nhà đầu tư tin cậy thậm
chí trở nên quan trọng hơn.
Đánh giá nhanh cơ hội
Những cơ hội tốt nhất trong tình trạng suy thoái kinh tế thường là các mẩu tin
tốt của danh mục vốn đầu tư đã túng quẫn tới mức buộc phải trở thành một món
hàng bán tháo. Sự thành công trong môi trường này sẽ tùy thuộc vào việc chọn
được những mục tiêu đúng đắn để đầu tư: những điều này thường rất khác so với
các loại hợp đồng kiểu các nhóm phát triển kinh doanh từng cân nhắc trong suốt
những năm vừa qua. Lúc này chính là thời điểm phù hợp để dẹp sang bên việc suy
nghĩ theo lẽ thường về M&A và phải nắm bắt được cái nhìn mới mẻ về ngành
nghề của mình: đừng cho rằng bất kỳ công ty nào cũng sẽ đơn giản “không để bán”
trong vài năm tới mà hãy suy nghĩ rằng: Những công ty nào sẽ phải trải qua khó
khăn? Những bộ phận nào của những hoạt động kinh doanh nào sẽ trở nên thu hút?
Và bạn có thể cùng kết hợp với nhau để đưa ra các ý tưởng sáng tạo mà sẽ giữ
lại, phát triển được chúng lên như thế nào?
Chú thích:
1 Ba loại hợp đồng trong lĩnh vực này bao gồm: việc bán các tài sản bị tịch
biên của những công ty phá sản (hoặc gần phá sản), sự tách vốn bởi những công
ty sẵn tiền mặt (chẳng hạn như các quỹ kinh doanh tài sản quốc gia) nhằm cung
cấp vốn và khả năng thanh khoản bằng tiền mặt mới cho những công ty trong tình
trạng túng quẫn về tài chính và hoạt động M&A “bị ép buộc” nhằm củng cố lại
cơ sở vốn của công ty bị mua hoặc thậm chí của công ty mới được kết hợp lại.
2 Để theo dõi được các xu hướng về giá trị và đánh giá sự sáng tạo từ M&A,
chúng ta phải so sánh giá cổ phiếu của từng hợp đồng hai ngày trước và hai ngày
sau khi hợp đồng đó được công bố nhằm đánh giá phản ứng ban đầu của các thị
trường tài chính. Nghiên cứu trên lý thuyết từng cho thấy sự tương quan tích
cực giữa sự sáng tạo giá trị hoạt động lâu dài với những “ảnh hưởng công bố” này,
điều hết sức hữu ích để đánh giá được các xu hướng trong M&A cũng như hạn
chế tối đa ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác có thể định hướng những thay đổi về
giá cổ phiếu.
3 Giá trị hợp đồng gia tăng (deal value added – DVA) được định nghĩa như sự
thay đổi trong giá vốn hóa thị trường của cả công ty mua và công ty bị mua,
được điều chỉnh theo những thay đổi của thị trường, từ hai ngày trước tới hai
ngày sau khi công bố hợp đồng như tỉ lệ phần trăm về giá trị của hợp đồng. Kể
từ lúc chỉ số DVA được bắt nguồn từ những phản ứng thị trường tức thời thì nó
không còn là sự đánh giá cuối cùng về giá trị thực mà hợp đồng tạo ra, song lại
trở nên hữu ích để theo dõi được các xu hướng và đặc tính về sự sáng tạo giá
trị kết hợp chung mang lại qua thời gian.
4 Tỉ lệ cân xứng về trả quá cao (proportion of overpaid – POP) là tỉ lệ của
những giao dịch mà theo đó phản ứng giá cổ phiếu, được điều chỉnh theo những
biến động của thị trường từ hai ngày trước tới hai ngày sau khi công bố hợp
đồng, trở nên âm đối với công ty mua. Định nghĩa này cho rằng giá cổ phiếu của
công ty mua bị sụt giảm nếu giá nó trả cho công ty bị mua cao hơn giá trị thực
của công ty đó cộng thêm cả sự đồng vận (vì thế mà thanh toán cao hơn).
 
Bích Hường (Theo
MckinseyQuarterly)
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------
|