Tìm hiểu các quy định cơ bản về thuế Giá Trị Gia Tăng (GTGT)
Thuế giá trị gia tăng có nguồn gốc từ thuế doanh thu và Pháp là nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế giá trị gia tăng - vào năm 1954. Thuế giá trị gia tăng theo tiếng Pháp gọi là: Taxe
Sur La Valeur Ajou tée (viết tắc là TVA), tiếng Anh gọi là Value Added Tax (viết tắc là VAT), dịch ra tiếng Việt là thuế giá trị gia tăng.
I.
KHÁI NIỆM, CƠ CHẾ HOẠT ÐỘNG CỦA THUẾ
GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1. Khái niệm:
Khai sinh từ
nước Pháp, thuế giá trị gia tăng đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế
giới. Ngày nay, các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu, châu Phi, châu Mỹ La
Tinh và một số quốc gia Châu Á trong đó có Việt Nam đã chính thức áp dụng thuế giá
trị gia tăng. Các quốc gia khác cũng đang trong thời kỳ nghiên cứu loại thuế
này. Tính đến nay đã có khoảng 130 quốc gia áp dụng thuế giá trị gia
tăng.
Ở nước ta, tại kỳ họp lần thứ 11 Quốc hội khoá 9,
Quốc hội nước ta đã thông qua Luật thuế giá trị gia tăng ngày 10/05/1997 và có
hiệu lực thi hành kề từ ngày 01-01-1999. Tiếp theo đó, để phù hợp hơn với tình
hình thực tế, Quốc hội cũng đã thông qua Luật sửa đổi vào ngày 17/06/2003 và
mới đây tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XII ngày
03/06/2008 đã thông qua Luật thuế GTGT mới thay thế 2 luật trên và chính thức
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009.
Tài liệu tham khảo vui lòng tải tại các địa chỉ sau:
+ Luật thuế GTGT ban hành năm 1997: Tại đây
+ Luật sửa đổi năm 2003: Tại đây
+ Luật thuế GTGT ban hành năm 2008: Tại đây
Theo quy định của Luật thuế giá trị gia
tăng thì thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thuđánh trên khoản giá
trị tăng thêm cuả hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu
thông đến tiêu dùng.
Ðây là một loại thuế doanh thu đánh vào
mỗi giai đoạn sản xuất, lưu thông sản phẩm hàng hoá, từ khi còn là nguyên liệu
thô sơ cho đến sản phẩm hoàn thành, và cuối cùng là giai đoạn tiêu dùng. Chính
vì vậy mà chúng ta còn gọi là thuế doanh thu có khấu trừ số thuế đã nộp ở giai
đoạn trước. Thuế gía trị gia tăng được cộng vào giá bán hàng hoá, dịch vụ, và
do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ.
2. Vai trò cuả thuế giá trị gia tăng trong lưu thông
hàng hoá:
Luật thuế doanh thu quy định doanh thu phát
sinh là cơ sở để thực hiện chế độ thu nộp thuế. Do đó Nhà nước đánh thuế trên
toàn bộ doanh thu phát sinh cuả sản phẩm qua mỗi lần chuyển dịch từ khâu sản
xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Nếu các sản phẩm, hàng hoá chịu thuế càng qua
nhiều khâu thì số thuế Nhà nước thu cũng tăng thêm qua các khâu nên việc áp
dụng thuế doanh thu dẫn đến tình trạng thuế thu trùng lặp đối với phần doanh
thu đã chịu thuế ở công đoạn trước. Ðiều đó mang tính bất hợp lý, tác động tiêu
cực đến sản xuất và lưu thông hàng hoá. Với tính ưu điểm cuả thuế giá trị gia
tăng là Nhà nước chỉ thu thuế đối với phần giá trị tăng thêm cuả các sản phẩm ở
từng khâu sản xuất, lưu thông mà không thu thuế đối với toàn bộ doanh thu phát
sinh như mô hình thuế doanh thu. Nếu như không có các sự kiện biến động về tài
chính, tiền tệ, sản xuất và lưu thông giảm sút, yếu kém, kinh tế suy thoái và
các nguyên nhân khác tác động thì việc áp dụng thuế giá trị gia tăng thay cho
thuế doanh thu sẽ không ảnh hưởng gì đến giá cả các sản phẩm tiêu dùng, mà trái
lại giá cả càng hợp lý hơn, chính xác hơn vì tránh được thuế chồng lên thuế.
Theo nghiên cứu và thống kê cuả ngân hàng
thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thì phần lớn các nước trong đó có cả
Việt Nam sau khi áp dụng thuế giá trị gia tăng, giá cả các loại hàng hoá, dịch
vụ đều không thay đổi hay chỉ thay đổi một tỷ lệ không đáng kể và mức sản xuất
cuả các doanh nghiệp, mức tiêu dùng cuả dân chúng không sút giảm, hay chỉ sút giảm
một tỷ lệ nhỏ trong thời gian đầu, kể cả các trường hợp tăng thuế suất thuế giá
trị gia tăng đối với một số mặt hàng trong định kỳ điều chỉnh. Như vậy ta
có thể kết luận rằng thuế giá trị gia tăng không phải là một nhân tố gây ra lạm
phát, gây khó khăn trở ngại cho việc phát triển sản xuất, lưu thông hàng hoá mà
trái lại, việc áp dụng thuế giá trị gia tăng đã góp phần ổn định giá cả, mở
rộng lưu thông hàng hoá, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và đẩy mạnh xuất
khẩu.
3. Cơ chế hoạt động cuả thuế giá trị gia tăng:
Cơ sở cuả thuế giá trị gia tăng
chính là phần giá trị tăng thêm cuả sản phẩm do cơ sở sản xuất, kinh doanh mới
sáng tạo ra chưa bị đánh thuế. Nói cách khác, cơ sở cuả thuế giá trị gia tăng
là khoản chênh lệch giữa giá mua và giá bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ. Do đó
cơ chế hoạt động cuả thuế giá trị gia tăng được quy định như sau:
·
Một trong những nguyên tắc cơ bản cuả thuế giá trị gia tăng là sản phẩm,
hàng hoá dù qua nhiều khâu hay ít khâu từ sản xuất đến tiêu dùng, đều chịu thuế
như nhau.
·
Thuế giá trị gia tăng có điểm cơ bản khác với thuế doanh thu là chỉ có người bán hàng
(hoặc dịch vụ) lần đầu phải nộp thuế giá trị gia tăng trên toàn bộ doanh thu
bán hàng (hoặc cung ứng dịch vụ). Còn người bán hàng (hoặc dịch vụ) ở các khâu
tiếp theo đối với hàng hoá (hoặc dịch vụ) đó, chỉ phải nộp thuế trên phần giá
trị tăng thêm. Nói cách khác, thuế giá trị gia tăng là loại thuế duy nhất thu
theo phân đoạn chia nhỏ, trong quá trình sản xuất, lưu thông hàng
hoá (hoặc dịch vụ) từ khâu đầu tiên đến người tiêu dùng, khi khép kín một
chu kỳ kinh tế. Ðến cuối chu kỳ sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ,
tổng số thuế thu được ở các công đoạn sẽ khớp với số thuế tính trên giá bán hàng
hoá hoặc giá dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng.
·
Thuế giá trị gia tăng không chịu ảnh hưởng bởi kết qủa sản xuất, kinh
doanh của đối tượng nộp thuế, không phải là yếu tố của chi phí mà chỉ đơn thuần
là một khoản được cộng thêm vào giá bán của đối tượng cung cấp hàng hóa, dịch
vụ.
·
Thuế giá trị gia tăng do người tiêu dùng chiụ nhưng không phải do người
tiêu dùng trực tiếp nộp mà là do người bán sản phẩm (hoặc dịch vụ) nộp thay vào
ngân sách nhà nước, do trong giá bán hàng hoá (hoặc trong dịch vụ) có cả thuế
giá trị gia tăng. Vì qua từng công đoạn, thuế giá trị gia tăng đã được người
bán đưa vào giá hàng hoá, dịch vụ cho nên thuế này được chuyển toàn bộ cho
người mua hàng hoá hoặc sử dụng dịch vụ cuối cùng chịu.
Ðể áp dụng thuế giá trị gia tăng
cho đúng đắn, công bằng, có hiệu quả, đáp ứng được chủ trương “góp phần thúc
đẩy sản xuất, khuyến khích phát triển nền kinh tế quốc dân, động viên một phần
thu nhập cuả người tiêu dùng vào ngân sách nhà nước”, cần phải giải quyết
trước hết một số vấn đề sau:
· Các hoạt động sản xuất kinh
doanh, mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ lớn và vừa phải thực hiện đầy đủ
chế độ hoá đơn, chứng từ hợp lệ tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra, xác
định doanh thu tính thuế và khấu trừ thuế đối với từng cơ sở kinh doanh.
· Công tác kế toán doanh
nghiệp, nhất là kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phải được
hướng dẫn thực hiện thật tốt, đảm bảo được giá thành sản phẩm phản ảnh trung
thực các chi phí thực tế phát sinh đã cấu tạo ra sản phẩm lưu thông trên thị
trường đến tay người tiêu dùng. Hệ thống bán lẻ (các cửa hàng, cửa hiệu, các
siêu thị) cũng được hướng dẫn chế độ sổ sách kế toán hợp lệ, thực hiện nghiêm
chỉnh và được kiểm tra chặt chẽ. Chỉ số giá cả lên xuống từng thời kỳ phải được
quy định rõ để tiến hành điều chỉnh giá bán lẻ, đảm bảo giá trị tăng thêm hợp
lý.
· Trình độ cán bộ quản lý thu
thuế phải được nâng cao về chế độ hoá đơn, chứng từ, sổ kế toán, thông thạo về
chế độ quản lý, tính thuế, khấu trừ thuế, hoàn thuế giá trị gia tăng. Hơn nữa,
khi áp dụng thuế giá trị gia tăng thì vai trò cuả người thu thuế đồng thời cũng
là người trả thuế (thoái thu) và vai trò cuả người nộp thuế cũng là người thu
thuế (được cơ quan thuế khấu trừ hoặc hoàn lại). Người thu thuế phải có khả
năng tính được mức thuế phải thu, mức thuế khấu trừ cho đúng, đủ, kịp thời. Về
khả năng thì có thể đào tạo được, nhưng vấn đề quan trọng nhất là người thu
thuế nếu kém phẩm chất sẽ có điều kiện để tiêu cực, đó là việc tính mức khấu
trừ, mức thoái thu cao hơn mức chính xác, làm thiệt hại cho ngân sách nhà nước
hoặc khấu trừ không đủ, hoàn thuế chậm trễ làm thiệt hại cho các chủ thể đã
chịu thuế trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Ðối với người nộp thuế, tất
nhiên ngoài khả năng tính toán đầy đủ số thuế mình còn phải nộp sau khi được
khấu trừ, còn phải có đầy đủ phẩm chất cuả một nhà kinh doanh lương thiện xem
việc nộp thuế đầy đủ, kịp thời là một nghĩa vụ hợp lý và công bằng.
· Mở rộng diện thanh toán mua
bán hàng hoá thông qua các tài khoản ngân hàng, tạo điều kiện cho việc xác định
doanh thu bán hàng, làm căn cứ cho việc tính thuế được chính xác.
· Ý thức tự nguyện, tự giác
chấp hành các luật thuế cuả các doanh nghiệp từng bước được nâng lên, gắn liền
với việc xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về thuế.
· Hệ thống pháp luật ngày
càng hoàn thiện và đưa dần việc thực hiện pháp luật vào nề nếp, kỷ cương,
cả trong nhận thức tư tưởng và trong hành động thực tế.
4. Vai trò cuả thuế giá
trị gia tăng trong quản lý nhà nước về kinh tế:
Thuế là công cụ rất quan trọng để Nhà nước thực hiện chức
năng quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế. Nền kinh tế nước ta đang trong quá
trình vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý cuả nhà nước, do đó thuế
giá trị gia tăng có vai trò rất quan trọng và được thể hiện như sau:
·
Thuế giá trị gia tăng thuộc loại thuế gián thu và được áp dụng rộng rãi
đối với mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng sản phẩm hàng hoá hoặc được cung ứng
dịch vụ, nên tạo được nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho ngân sách nhà nước.
·
Thuế tính trên giá bán hàng hoá hoặc giá dịch vụ nên không phải đi sâu
xem xét, phân tích về tính hợp lý, hợp lệ cuả các khoản chi phí, làm cho việc
tổ chức quản lý thu tương đối dễ dàng hơn các loại thuế trực thu.
·
Ðối với hàng xuất khẩu không những không nộp thuế giá trị gia tăng mà
còn được khấu trừ hoặc được hoàn lại số thuế giá trị gia tăng đầu vào nên có
tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện
cho hàng xuất khẩu có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trường quốc tế.
·
Thuế giá trị gia tăng cùng với thuế nhập khẩu làm tăng giá vốn đối với
hàng nhập khẩu, có tác dụng tích cực bảo hộ sản xuất kinh doanh hàng nội địa.
·
Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao.
Việc khấu trừ thuế giá trị gia tăng được thực hiện căn cứ trên hoá đơn mua vào
đã thúc đẩy người mua phải đòi hỏi người bán xuất hoá đơn, ghi doanh thu đúng
với hoạt động mua bán; khắc phục được tình trạng thông đồng giữa người mua và
người bán để trốn lậu thuế. Trong họat động bán lẻ người tiêu dùng không cần
đòi hỏi hoá đơn, vì họ không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào do là người tiêu
dùng cuối cùng điều này dẫn đến việc không xuất hóa đơn của người bán để trốn
thuế. Tuy vậy, ở khâu bán lẻ cuối cùng, giá trị tăng thêm thường không lớn, số
thuế thu ở khâu này không nhiều.
·
Thuế giá trị gia tăng thường có ít thuế suất, bảo đảm sự đơn giản, rõ
ràng. Với ít thuế suất, loại thuế này mang tính trung lập, vì về cơ bản không can
thiệp sâu vào mục tiêu khuyến khính hay hạn chế sản xuất, kinh doanh dịch vụ,
tiêu dùng, theo ngành nghề cụ thể; không gây phức tạp trong việc xem xét từng
mặt hàng, ngành nghề có thuế suất chênh lệch nhau nhiều.
·
Nâng cao được tính tự giác trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cuả
người nộp thuế. Thông thường, trong chế độ kê khai nộp thuế giá trị gia tăng, cơ
quan thuế tạo điều kiện cho cơ sở kinh doanh tự kiểm tra, tính thuế, kê khai và
nộp thuế. Từ đó, tạo tâm lý và cơ sở pháp lý cho đơn vị kinh doanh không phải
hiệp thương, thoả thuận về mức doanh thu, mức thuế với cơ quan thuế. Việc kiểm
tra thuế giá trị gia tăng cũng có mặt thuận lợi vì đã buộc người mua, người bán
phải nộp và lưu giữ chứng từ, hoá đơn đầy đủ nên việc thu thuế tương đối sát
với hoạt động kinh doanh từ đó tập trung được nguồn thu thuế giá trị gia tăng
vào ngân sách nhà nước ngay từ khâu sản xuất và thu thuế ở khâu sau còn kiểm
tra được việc tính thuế, nộp thuế ở khâu trước nên hạn chế thất thu về thuế.
·
Tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hoá
có hoá đơn chứng từ; việc tính tuế đầu ra được khấu trừ số thuế đầu vào là biện
pháp kinh tế góp phần thúc đẩy cả người mua và người bán cùng thực hiện tốt hơn
chế độ hoá đơn, chứng từ.
·
Việc khấu trừ thuế đã nộp ở đầu vào còn có tác dụng khuyến khích hiện
đại hoá, chuyên môn hoá sản xuất, tăng cường đầu tư mua sắm trang thiết bị mới
để hạ giá thành sản phẩm.
·
Thuế giá trị gia tăng được ban hành gắn liền với việc sửa đổi, bổ sung
một số loại thuế khác như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu...góp phần
làm cho hệ thống chính sách thuế cuả Việt Nam ngày càng hoàn thiện, phù hợp với
sự vận động và phát triển cuả nền kinh tế thị trường, tương đồng với hệ
thống thuế trong khu vực và trên thế giới, góp phần đẩy mạnh việc mở rộng hợp
tác kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Nhìn chung trong các loại thuế gián
thu, thuế giá trị gia tăng được coi là phương pháp thu tiên bộ nhất hiện nay,
được đánh giá cao do đạt được các mục tiêu lớn cuả chính sách thuế, như tạo
được nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, đơn giản, trung lập...Tuy nhiên,
trong thời gian đầu áp dụng thuế giá trị gia tăng đã phát sinh một số khó khăn,
vướng mắc và Nhà nước ta đã từng bước tháo gỡ những khó khăn đó trong quá trình
thực hiện Luật thuế giá trị gia tăng.
II.
ÐỐI TƯỢNG CHỊU THUẾ VÀ NỘP THUẾ
GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1. Ðịnh nghĩa đối tượng
chịu thuế:
Ðối tượng chịu thuế giá trị gia
tăng là các loại hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở
Việt Nam, trừ các đối tượng không thuộc diện chịu thuế theo quy định cuả Luật
thuế giá trị gia tăng và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành.
2. Ðối tượng không chịu
thuế giá trị gia tăng:
Ðối tượng không chịu thuế giá trị gia
tăng bao gồm:
·
Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế
biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ sơ chế thông thuờng của tổ chức, cá nhân
tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu
Sơ chế thông thường là việc sơ chế
gắn với quá trình sản xuất ra sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ
sản mà các loại sản phẩm này qua sơ chế chưa trở thành loại sản phẩm, hàng hoá
khác.
Ví dụ: Phơi, sấy khô, bóc vỏ, tách hạt các sản phẩm
nông nghiệp; ướp đá, ướp muối, phơi khô cá, tôm và cá, sản phẩm nuôi trồng thuỷ
sản khác.
·
Sản phẩm là giống vật nuôi, giống cây trồng, bao gồm trứng giống, con giống,
cây giống, hạt giống, tinh dịch, phôi, vật liệu di truyền.
·
Tưới, tiêu nước; cày, bừa đất; nạo vét kênh, mương nội đồng phục vụ sản
xuất nông nghiệp; dịch vụ thu họach sản phẩm nông nghiệp.
·
Sản phẩm muối được sản xuất từ nước biển, muối mỏ tự nhiên, muối tinh,
muối i-ốt
·
Nhà ở thuộc sở hữu nhà nước do Nhà nước bán cho người đang thuê;
·
Chuyển quyền sử dụng đất;
·
Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm người học, bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm cây
trồng và tái bảo hiểm
·
Dịch vụ tín dụng; kinh doanh chứng khóan; chuyển nhượng vốn; dịch vụ tài
chính phái sinh, bao gồm hoán đổi lãi suất, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương
lai, quyền chọn mua, bán ngọai tệ và các dịch vụ tài chính phái sinh khác theo
quy định của pháp luật.
·
Dịch vụ y tế, dịch vụ thú y, bao gồm dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, phòng
bệnh cho người và vật nuôi.
·
Dịch vụ bưu chính, viễn thông công ích và Internet phổ cập theo chương
trình của Chính phủ.
·
Dịch vụ phục vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân
cư; duy trì vườn thú, vườn hoa, công viên, cây xanh đường phố, chiếu sáng công
cộng; dịch vụ tang lễ
·
Duy tu, sửa chữa, xây dựng bằng
nguồn vốn đóng góp của nhân dân và vốn viện trợ nhân đạo đối với các
công trình văn hóa, nghệ thuật, công trình phục vụ công cộng, cơ sở hạ
tầng và nhà ở cho đối tượng chính sách xã hội.
·
Dạy học, dạy nghề theo quy định của pháp luật.
·
Phát sóng truyền thanh, truyền hình bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước.
·
Xuất bản, nhập khẩu và phát hành báo, tạp chí, bản tin chuyên ngành,
sách chính trị, sách giáo khoa, giáo trình, sách văn bản pháp luật, sách khoa
học - kỹ thuật, sách in bằng chữ dân tộc thiểu số và tranh, ảnh, áp phích tuyên
truyền cổ động, kể cả dưới dạng băng họăc đĩa ghi tiếng, ghi hình, dữ liệu điện
tử; in tiền.
·
Vận chuyển hành khách công cộng bằng xe buýt, xe điện.
·
Máy móc, thiết bị, vật tư thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần
nhập khẩu để sử dụng trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công
nghệ; máy móc, thiết bị, phụ tùng thay thế, phương tiện vận tải chuyên dùng và
vật tư thuộc lọai trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để tiến hành họat
động tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ dầu, khí đốt; tàu bay, dàn khoan, tàu
thủy thuộc lọai trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu tạo tài sản cố định
của doanh nghiệp, thuê của nước ngòai sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và để
cho thuê.
·
Vũ khí, khí tài chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh.
·
Hàng hóa nhập khẩu trong trường hợp viện trợ nhân đạo, viện trợ không
hoàn lại; quà tặng cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -
xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội
– nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; quà biếu, quà tặng cho cá nhân ở Việt
Nam theo mức quy định của Chính phủ; đồ dùng của tổ chức, cá nhân nước ngoài
theo tiêu chuẩn miễn trừ ngoại giao; hàng mang theo người trong tiêu chuẩn hành
lý miễn thuế.
Hàng hoá bán cho tổ chức quốc tế, người nước ngoài, tổ chức quốc tế để viện trợ
nhân đạo, viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam.
·
Hàng hoá chuyển khẩu, quá cảnh qua lãnh thổ Việt Nam; hàng
tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu; hàng tạm xuất khẩu, tái nhập khẩu; nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng hoá
xuất khẩu theo hợp đồng sản xuất, gia công xuất khẩu ký với bên nước ngoài;
hàng hoá, dịch vụ mua bán giữa nước ngoài với các khu phi thuế quan và mua bán
giữa các khu phi thuế quan với nhau.
·
Chuyển giao công nghệ theo quy định của Luật chuyển giao công nghệ;
chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ; phần mềm
máy tính.
·
Vàng nhập khẩu dạng thỏi, miếng chưa được chế tác thành các sản phẩm mỹ
nghệ, đồ trang sức hay sản phẩm khác.
·
Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa qua chế biến
theo quy định của Chính phủ.
·
Sản phẩm nhân tạo dùng để thay thế cho bộ phận cơ thể của người bệnh;
nạng, xe lăn và dụng cụ chuyên dùng khác cho người tàn tật
·
Hàng hóa, dịch vụ của cá nhân kinh doanh có mức thu nhập bình quân tháng
thấp hơn mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với tổ chức, doanh nghiệp trong
nước
Cơ sở sản xuất, kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng quy định
tại Điều này không được khấu trừ và hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào, trừ trường
hợp được áp dụng mức thuế suất 0%.
3. Ðối tượng nộp thuế giá trị gia tăng:
Ðối tượng nộp thuế giá trị gia tăng
là các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT
và tổ chức, cá nhân khác nhập khẩu hàng hoá chịu thuế là đối tượng nộp thuế giá
trị gia tăng.
3.1 Tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ:
bao gồm:
·
Doanh nghiệp nhà nước,
·
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác
kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
·
Các công ty nước ngoài và tổ chức nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt
Nam không theo Luật đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam.
·
Doanh nghiệp tư nhân
·
Công ty trách nhiệm hữu hạn
·
Công ty cổ phần.
·
Hợp tác xã
·
Tổ hợp tác
·
Tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ
chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức,
đơn vị sự nghiệp khác.
3.2 Cá nhân sản xuất kinh doanh
hàng hoá, dịch vụ:
Bao gồm những người có kinh doanh
độc lập, hộ gia đình, cá nhân hợp tác với nhau để cùng sản xuất kinh doanh
nhưng không hình thành pháp nhân kinh doanh.
III.
CĂN CỨ VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH THUẾ
1. Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng:
Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá
tính thuế và thuế suất.
1.1 Giá tính thuế giá trị
gia tăng:
Giá tính thuế được xác định tuỳ
theo loại hàng hoá, dịch vụ và được xác định như sau:
·
Ðối với hàng hoá, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá
chưa có thuế giá trị gia tăng. Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc
biệt là giá bán đã có thuế TTĐB nhưng chưa có thuế GTGT.
·
Ðối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập
khẩu (nếu có), cộng với thuế TTĐB (nếu có). Giá nhập tại cửa khẩu được xác định
theo quy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu.
·
Ðối với hàng hoá, dịch vụ dùng để trao đổi, sử dụng nội bộ, biếu, tặng
cho là giá tính thuế giá trị gia tăng cuả hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương
đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này.
·
Ðối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền cho thuê chưa có thuế giá
trị gia tăng.
Trường hợp cho thuê theo hình thức
trả tiền thuê từng kỳ hoặc trả trước tiền thuê cho một thời hạn thuê thì giá
tính thuế là tiền cho thuê từng kỳ họăc trả trước cho thời hạn thuê chưa có
thuế GTGT.
Trường hợp thuê máy móc, thiết bị,
phương tiện vận tải của nước ngòai lọai trong nước chưa sản xuất được để cho
thuê lại, giá tính thuế được trừ giá thuê phải trả cho nước ngòai.
·
Ðối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp, trả chậm là giá tính theo
giá bán trả một lần chưa có thuế GTGT của hàng hóa đó, không bao gồm khỏan lại
trả góp, lãi trả chậm.
·
Ðối với gia công hàng hoá là giá gia công chưa có thuế giá trị gia tăng.
·
Ðối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là giá trị công trình, hạng mục công
trình hay phần công việc thực hiện bàn giao chưa có thuế GTGT. Trường hợp xây
dựng, lắp đặt không bao thầu nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị thì giá tính
thuế là giá trị xây dựng, lắp đặt không bao gồm giá trị nguyên vật liệu và máy
móc, thiết bị.
·
Đối với họat động kinh doanh bất động sản là giá bán bất động sản chưa
có thuế GTGT, trừ giá chuyển quyền sử dụng đất họăc tiền thuê đất phải nộp ngân
sách nhà nước.
·
Ðối với hoạt động đại lý, môi giới mua bán hàng hoá và dịch vụ hưởng hoa
hồng là tiền hoa hồng thu được từ các họat động này chưa có thuế giá trị gia
tăng.
·
Đối với hàng hóa, dịch vụ sử dụng chứng từ thanh tóan ghi giá thanh tóan
là giá đã có thuế giá trị gia tăng thì giá tính thuế được xác định theo công
thức sau:
Giá chưa có thuế GTGT = Giá thanh tóan / (1 + thuế suất của
hàng hóa, dịch vụ)
Giá tính thuế đối với các loại
hàng hoá, dịch vụ bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá hàng hoá,
dịch vụ mà cơ sở kinh doanh được hưởng.
Các khoản phụ thu cơ sở kinh doanh
thu theo chế độ cuả Nhà nước không tính vào doanh thu cuả cơ sở kinh doanh thì
thuế giá trị gia tăng không tính đối với các khoản phụ thu này.
Giá tính thuế được xác định bằng
đồng Việt Nam, trường hợp người nộp thuế có doanh thu bằng ngọai tệ thì phải
quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngọai
tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát
sinh doanh thu để xác định giá tính thuế.
1.2. Thuế suất thuế giá trị gia tăng:
Hiện nay các nước áp dụng thuế VAT
có sự khác nhau trong việc thiết kế mức thuế suất và số lượng thuế suất trong
đạo luật thuế giá trị gia tăng. Một số nước thực hiện cơ cấu một mức thuế suất
như Ðan Mạch (22 %), Nhật Bản, Singapo (3%), Italia (38%)... Một số nước khác
thực hiện cơ cấu nhiều thuế suất như: Bỉ,
Colombia (6 mức
thuế suất), Pháp (5 mức thuế suất)... Theo thông lệ chung, Luật thuế gía trị
gia tăng của các nước thường áp dụng thuế suất 0% đối với hàng hóa xuất khẩu và
một số hàng hoá thiết yếu đối với đời sống của dân cư.
Luật thuế gía trị gia tăng của Việt
Nam
hiện hành quy định 3 mức thuế suất là: 0 % ,5 % , 10 %. Trong đó mức thuế suất
0% áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu, các dịch vụ vận tải, giao nhận quốc tế,
chuyển giao công nghệ, phần mềm…
Các mức thuế chi tiết cụ thể mới
nhất (áp dụng từ năm 2009) như sau:
·
Mức thuế suất 0% đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, vận tải quốc tế và
hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng khi xuất khẩu,
trừ các trường hợp: Chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ
ra nước ngòai; dịch vụ tái bảo hiểm ra nước ngòai; dịch vụ cấp tín dụng, chuyện
nhượng vốn, dịch vụ tài chính phái sinh; dịch vụ bưu chính, viễn thông; sản
phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khóang sản khai thác chưa qua chế biến.
·
Mức thuế suất 5% áp dụng với các hàng hóa, dịch vụ sau đây:
ü Nước
sạch phục vụ sản xuất và sinh hoạt
ü Phân
bón, quặng để sản xuất phân bón; thuốc phòng trừ sâu bệnh và chất kích thích
tăng trưởng vật nuôi, cây trồng.
ü
Dịch vụ đào đắp, nạo vét kênh, mương, ao hồ phục vụ sản xuất nông
nghiệp; nuôi trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng; sơ chế, bảo quản
sản phẩm nông nghiệp.
ü
Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản chưa qua chế biến trừ các sản
phẩm thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.
ü
Mủ cao su sơ chế; nhựa thông sơ chế; lưới, dây giềng và sợi để đan lưới
đánh cá.
ü
Thực phẩm tươi sống; lâm sản chưa qua chế biến trừ gỗ, măng và các sản
phẩm thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.
ü
Đường; phụ phẩm trong sản xuất đường, bao bì gỉ đường, bã mía, bã bùn.
ü
Sản phẩm bằng đay, cói, tre, nứa, lá, rơm, vỏ dừa, sọ dừa, bèo tây và
các sản phẩm thủ công khác sản xuất bằng nguyên liệu tận dụng từ nông nghiệp;
bông sơ chế; giấy in báo.
ü
Máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, bao gồm
máy cày, máy bừa, máy cấy, máy gieo hạt, máy tuốt lúa, máy gặt, máy gặt đập liên
hợp, máy thu họach sản phẩm nông nghiệp, máy họăc bình bơm thuốc trừ sâu.
ü
Thiết bị, dụng cụ y tế; bông, băng vệ sinh y tế; thuốc phòng bệnh, chữa
bệnh; sản phẩm hóa dược, dược liệu là nguyên liệu sản xuất thuốc chữa bệnh, thuốc
phòng bệnh.
ü
Giáo cụ dùng để giảng dạy và học tập, bao gồm các lọai mô hình, hình vẽ,
bảng, phấn, thước kẻ, compa và các lọai thiết bị, dụng cụ chuyên dùng cho giảng
dạy, nghiên cứu, thí nghiệm khoa học.
ü
Họat động văn hóa, triển lãm, thể dục, thể thao; biểu diễn nghệ thuật;
sản xúât phim; nhập khẩu, phát hành và chiếu phim.
ü
Đồ chơi trẻ em; sách các lọai, trừ sách thuộc đối tượng không chịu thuế
GTGT ở phần trên.
ü
Dịch vụ khoa học, công nghệ theo quy định của Luật khoa
học và công nghệ
·
Mức thuế suất 10% áp dụng với các hàng hóa, dịch vụ không có trong quy
định tại các mức thuế thuế 0% và 5%.
2. Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng:
2.1. Phương pháp khấu trừ thuế:
Số thuế giá trị gia tăng phải nộp
bằng (=) số thuế giá trị gia tăng đầu ra trừ (-) số thuế giá trị gia tăng đầu
vào được khấu trừ.
·
Số thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng (=) tổng số thuế giá trị gia
tăng của hàng hóa, dịch vụ bán ra ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng. Thuế GTGT đầu
ra được xác định như sau
Thuế GTGT =
Giá bán chưa thuế GTGT của HH,DV x Thuế suất thuế GTGT của HH,DV
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng
tính thuế theo phương pháp này phải tính và thu thuế giá trị gia tăng cuả hàng
hoá, dịch vụ bán ra. Khi lập hoá đơn bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ cơ sở kinh
doanh phải ghi rõ giá bán chưa có thuế, thuế giá trị gia tăng và số tiền người
mua phải thanh toán. Trường hợp hoá đơn chỉ ghi giá thanh toán, không ghi giá
chưa có thuế và thuế giá trị gia tăng thì thuế giá trị gia tăng cuả hàng hoá,
dịch vụ bán ra phải tính trên giá thanh toán ghi trên hoá đơn, chứng từ.
·
Số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ bằng tổng số thuế giá
trị gia tăng ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng mua hàng hoá, dịch vụ,
chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu
Thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ
quy định như sau:
-
Thuế đầu vào cuả hàng hoá, dịch vụ dùng vào sản xuất, kinh doanh hàng
hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng thì được khấu trừ tòan bộ.
-
Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng đồng thời
cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế thì chỉ
được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho sản xuất,
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng. Trường hợp thuế GTGT
đầu vào của tài sản cố định dùng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng và không chịu thuế giá trị gia tăng thì được
khấu trừ toàn bộ.
-
Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ bán cho tổ chức, cá
nhân sử dụng nguồn vốn viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại được khấu trừ
toàn bộ
-
Thuế GTGT đầu vào phát sinh trong tháng nào được kê khai, khấu trừ khi
xác định số thuế phải nộp của tháng đó. Trường hợp cơ sở kinh doanh phát hiện
số thuế GTGT đầu vào khi kê khai, khấu trừ bị sai sót thì được kê khai, khấu
trừ bổ sung; thời gian để kê khai, bổ sung tối đa là sáu tháng, kể từ thời điểm
phát sinh sai sót.
Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng chung cho các
tổ chức kinh doanh trừ các đối tượng áp dụng tinh thuế theo phương pháp tính
trực tiếp trên giá trị gia tăng.
Điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào quy định như
sau:
-
Có hoá đơn giá trị gia tăng mua hàng hóa, dịch vụ họăc chứng từ nộp thuế
giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu.
-
Có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ
hàng hóa, dịch vụ mua từng lần có giá trị dưới 20 triệu đồng.
-
Đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, ngòai các điều kiện quy định tại 2 điểm
trên phải có hợp đồng ký kết với bên nước ngòai về việc bán, gia công hàng hóa,
cung ứng dịch vụ, hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ, chứng từ thanh toán qua ngân
hàng, tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu.
Việc thanh tóan tiền hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu dưới hình
thức thanh toán bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu với hàng hóa, dịch vụ
nhập khẩu, trả nợ thay Nhà nước được coi là thanh toán qua ngân hàng.
2.2. Phương pháp tính trực tiếp trên gía trị gia
tăng:
Số thuế giá trị gia tăng phải nộp
bằng giá trị gia tăng cuả hàng hoá, dịch vụ chịu thuế nhân (x) với thuế suất
thuế giá trị gia tăng cuả loại hàng hoá, dịch vụ đó.
a. Giá trị gia tăng bằng gía
thanh toán cuả hàng hoá, dịch vụ bán ra trừ giá thanh toán cuả hàng hoá, dịch
vụ mua vào tương ứng.
·
Giá thanh toán cuả hàng hoá, dịch vụ mua vào, bán ra là giá thực tế mua,
bán ghi trên hoá đơn mua, bán hàng hoá, dịch vụ, bao gồm cả thuế giá trị gia
tăng và các khoản phụ thu, phí thu thêm mà bên bán được hưởng, bên mua phải
trả.
·
Giá thanh toán cuả hàng hoá , dịch vụ mua vào tương ứng cuả hàng hoá,
dịch vụ bán ra được xác định bằng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào mà cơ sở kinh
doanh đã dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia
tăng bán ra.
Trường hợp cơ sở kinh doanh chưa
thực hiện đầy đủ việc mua, bán hàng hoá, dịch vụ có hoá đơn, chứng từ làm căn
cứ xác định giá trị gia tăng theo quy định trên đây thì giá trị gia tăng được
xác định như sau:
·
Ðối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện bán hàng hoá, dịch vụ có đầy đủ
hoá đơn, chứng từ theo chế độ, xác định được đúng doanh thu bán hàng hoá, dịch
vụ nhưng không có đủ hoá đơn mua hàng hoá, dịch vụ thì giá trị gia tăng được
xác định bằng doanh thu nhân với tỷ lệ phần trăm(%) giá trị gia tăng tính trên
doanh thu.
·
Ðối với cá nhân kinh doanh chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ hoá
IV.
ÐĂNG KÝ, KÊ KHAI, NỘP THUẾ,
QUYẾT TOÁN THUẾ, HOÀN THUẾ
1.
Ðăng ký nộp thuế:
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng
nộp thuế giá trị gia tăng kể cả các cơ sở trực thuộc phải đăng ký nộp thuế giá
trị gia tăng với cơ quan thuế trực tiếp quản lý theo hướng dẫn cuả cơ quan
thuế. Các tổng công ty, công ty và các cơ sở kinh doanh có các đơn vị chi
nhánh trực thuộc đều phải đăng ký nộp thuế giá trị gia tăng với cơ quan thuế
nơi đóng trụ sở.
Việc đăng ký nộp thuế theo quy định này
nhằm tránh bỏ sót các cơ sở kinh doanh, tránh việc thu thuế trùng lắp giữa các
cơ quan thuế đối với cùng một cơ sở kinh doanh và là cơ sở để cơ quan thuế theo
dõi, quản lý hoạt động kinh doanh cuả cơ sở kinh doanh .
Theo quy định, cơ sở kinh doanh mới thành
lập, thời gian đăng ký nộp thuế giá trị gia tăng chậm nhất là 10 ngày kể từ
ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập và
hoạt động hoặc giấy chứng nhận đầu tư ; trường hợp cơ sở chưa được cấp giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh nhưng có hoạt động kinh doanh, cơ sở phải đăng ký
nộp thuế trước khi kinh doanh. Trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải
thể, phá sản hoặc thay đổi kinh doanh, cơ sở kinh doanh phải khai báo với cơ
quan thuế chậm nhất là năm ngày trước khi tiến hành các hoạt động trên.
2. Kê
khai thuế:
·
Cơ sở kinh doanh phải kê khai và nộp thuế giá trị gia tăng từng cho cơ quan
thuế chậm nhất là ngày 20 cuả tháng tiếp theo. Trong trường hợp không
phát sinh thuế đầu vào, thuế đầu ra, cơ sở kinh doanh vẫn phải kê khai và nộp
tờ khai thuế cho cơ quan thuế. Cơ sở kinh doanh phải kê khai đầy đủ, đúng mẫu
tờ kê khai thuế và chịu trách nhiệm về tính chính xác cuả việc kê khai.
·
Cơ sở kinh doanh, người nhập khẩu hàng hoá phải kê khai và nộp tờ khai thuế
giá trị gia tăng theo từng lần nhập khẩu cùng với việc kê khai thuế nhập khẩu
với cơ quan thu thuế nơi có cửa khẩu nhập hàng hoá.
·
Cơ sở kinh doanh buôn chuyến phải kê khai và nộp thuế theo từng chuyến hàng
với cơ quan thuế nơi mua hàng trước khi vận chuyển hàng đi.
·
Cơ sở kinh doanh nhiều loại hàng hoá, dịch vụ có mức thuế suất thuế giá trị
gia tăng khác nhau phải kê khai thuế giá trị gia tăng theo từng mức thuế suất
quy định đối với từng loại hàng hoá, dịch vụ; nếu cơ sở kinh doanh không xác
định được theo từng mức thuế suất thì phải tính và nộp thuế theo mức thuế suất
cao nhất cuả hàng hoá, dịch vụ mà cơ sở có sản xuất, kinh doanh.
3.
Nộp thuế:
Thuế giá trị gia tăng nộp vào ngân
sách nhà nước theo quy định sau:
·
Cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng đầy đủ, đúng hạn vào ngân
sách nhà nước theo tờ khai thuê GTGT nộp cho cơ quan thuế. Thời hạn nộp thuế chậm
nhất là ngày 20 của tháng tiếp theo.
·
Cơ sở kinh doanh, người nhập khẩu hàng hoá phải nộp thuế giá trị gia
tăng theo từng lần nhập khẩu. Thời hạn nộp thuế tùy vào từng trường hợp cụ thể,
có thể là phải nộp trước khi nhận hàng họăc là ân hạn trong 30 ngày, 90 ngày,
275 ngày…Số thuế phải nộp được xác định theo khai báo tại tờ khai nhập khẩu.
Chứng từ nộp thuế (giấy nộp tiền) chính là cơ sở để kê khai và khấu trừ thuế
đầu vào.
·
Trong kỳ tính thuế, cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo
phương pháp khấu trừ thuế, nếu có số thuế đầu vào lớn hơn số thuế đầu ra thì được
khấu trừ vào kỳ tính thuế tiếp theo. Trong trường hợp cơ sở kinh doanh đầu tư
mới tài sản cố định, có số thuế đầu vào được khấu trừ lớn thì được khấu trừ dần
hoặc được hoàn thuế theo quy định cuả Chính phủ.
·
Thuế giá trị gia tăng nộp vào ngân sách nhà nước bằng đồng Việt Nam .
4. Quyết toán thuế:
Cơ sở kinh doanh phải thực hiện
quyết toán thuế hàng năm với cơ quan thuế. Năm quyết toán thuế được tính theo
năm dương lịch. Trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày kết thúc năm, cơ sở kinh
doanh phải nộp báo cáo quyết toán thuế cho cơ quan thuế và phải nộp đủ số thuế
còn thiếu vào ngân sách nhà nước chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn kê
khai thuế, nuế nộp thừa thì được trừ vào số thuế phải nộp kỳ tiếp theo.
Trong trường hợp cơ sở kinh doanh
sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản, cơ sở kinh doanh cũng phải
thực hiện quyết toán thuế với cơ quan thuế trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày
có quyết định trên.
5.
Hoàn thuế:
Việc hoàn thuế giá trị gia tăng đã
nộp được quy định như sau:
·
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế
được xét hoàn thuế GTGT nếu trong 3 tháng liên tục trở lên có số thuế GTGT đầu
vào chưa được khấu trừ hết. Trường hợp cơ sở kinh doanh đã đăng ký nộp
thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới, đang trong giai đọan
đầu tư có số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư mà chưa
được khấu trừ hết và có số thuế còn lại từ 200 triệu đồng trở lên thì được hòan
thuế GTGT.
·
Cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nếu có số
thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên thì được hòan thuế
GTGT theo tháng.
·
Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế được hòan thuế GTGT
khi chuyển đổi sở hữu, chuyển đổi doanh nghiệp, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách,
giải thể, phá sản, chấm dứt họat động có số thuế GTGT nộp thừa họăc số thuế
GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết.
·
Cơ sở kinh doanh có quyết định hòan thuế GTGT của cơ quan có thẩm quyền theo
quy định của pháp luật và trường hợp hòan thuế GTGT theo điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên.
Ðối
với cơ sở sản xuất kinh doanh đầu tư mới, đã đăng ký nộp thuế với cơ quan thuế
nhưng chưa phát sinh thuế đầu ra, nếu thời gian đầu tư từ một năm trở lên được
xét hoàn thuế đầu vào theo từng năm. Trường hợp cơ sở có số thuế giá trị gia
tăng đầu vào cuả tài sản đầu tư được hoàn lớn thì được xét hoàn thuế từng quý.
Ðối với
cơ sở kinh doanh đầu tư mở rộng, đầu tư chiều sâu nếu số thuế đầu vào cuả tài
sản đầu tư đã tính khấu trừ sau ba tháng mà số thuế chưa được khấu trừ vẫn còn
lớn hơn số thuế đã được khấu trừ thì được xét hoàn lại số thuế chưa được khấu
trừ.
Ðể giải quyết hoàn thuế, cơ sở kinh
doanh phải gửi đơn đề nghị kèm theo hồ sơ xin hoàn thuế tới cơ quan quản lý thu
thuế cơ sở. Cơ quan thuế có trách nhiệm kiểm tra xác định số thuế hoàn trả và
thực hiện hoàn trả thuế hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hoàn trả thuế cho cơ
sở theo thẩm quyền quy định.
6. Quản lý nhà nước về
thuế:
6.1. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cuả cơ
quan thuế:
a. Trách nhiệm của cơ quan thuế
1. Tổ chức thực
hiện thu thuế theo quy định của pháp luật.
2. Tuyên truyền,
phổ biến, hướng dẫn pháp luật về thuế; công khai các thủ tục về thuế.
3. Giải thích, cung cấp thông tin
liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế cho người nộp thuế.
4. Giữ bí mật thông tin của người
nộp thuế theo quy định.
5. Thực hiện
việc miễn thuế, giảm thuế, xoá nợ tiền thuế, xóa nợ tiền phạt, hoàn thuế theo
theo quy định của pháp luật
6. Xác nhận việc
thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế khi có đề nghị theo quy định của pháp
luật.
7. Giải quyết
khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thực hiện pháp luật về thuế theo thẩm
quyền.
8. Giao kết
luận, biên bản kiểm tra thuế, thanh tra thuế cho đối tượng kiểm tra thuế, thanh
tra thuế và giải thích khi có yêu cầu.
9. Bồi thường
thiệt hại cho người nộp thuế theo quy định.
10. Giám định để
xác định số thuế phải nộp của người nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền.
b. Quyền hạn của cơ quan thuế
1. Yêu cầu người
nộp thuế cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ
thuế, số hiệu, nội dung giao dịch của các tài khoản được mở tại ngân hàng
thương mại, tổ chức tín dụng khác và giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp
thuế.
2. Yêu cầu tổ
chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác
định nghĩa vụ thuế và phối hợp với cơ quan quản lý thuế để thực hiện pháp luật
về thuế.
3. Kiểm tra
thuế, thanh tra thuế.
4. Ấn định thuế.
5. Cưỡng chế thi
hành quyết định hành chính về thuế.
6. Xử phạt vi
phạm pháp luật về thuế theo thẩm quyền; công khai trên phương tiện thông tin
đại chúng các trường hợp vi phạm pháp luật về thuế.
7. Áp dụng biện
pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm pháp luật về thuế theo quy định
của pháp luật.
6.2 Xử lý vi phạm về thuế:
Ðối tượng nộp thuế vi phạm Luật
thuế giá trị gia tăng thì bị xử lý như sau:
·
Không thực hiện đúng những quy định về đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyết
toán thuế, chế độ kế toán và lưu giữ chứng từ, hoá đơn theo quy định…sẽ bị xử
phạt theo quy định tại Luật
quản lý thuế.
·
Nộp chậm tiền thuế, tiền phạt so với ngày quy định phải nộp hoặc quy
định xử lý về thuế thì ngoài việc nộp đủ số thuế, số tiền phạt, mỗi ngày nộp chậm
còn phải nộp phạt bằng 0,05% (năm phần mười nghìn) số tiền chậm nộp.
·
Khai man thuế, trốn thuế thì ngoài việc phải nộp đủ số thuế theo quy
định cuả Luật này, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm còn bị phạt tiền từ một
đến ba lần số tiền gian lận; trốn thuế với số lượng lớn hoặc đã bị xử phạt vi
phạm hành chính về thuế mà còn vi phạm hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng
khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định cuả pháp luật.
·
Các quy định xử phạt chi tiết quy định tại Nghị
định 85/2007/NĐ-CP và Thông
tư 61/2007/TT-BTC.
6.3. Giải quyết khiếu nại về thuế:
· Cơ
quan quản lý thuế khi nhận được khiếu nại về việc thực hiện pháp luật về thuế
phải xem xét, giải quyết trong thời hạn theo quy định của pháp luật về khiếu
nại, tố cáo.
· Cơ
quan quản lý thuế nhận được khiếu nại về việc thực hiện pháp luật về thuế có
quyền yêu cầu người khiếu nại cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc khiếu
nại; nếu người khiếu nại từ chối cung cấp hồ sơ, tài liệu thì có quyền từ chối
xem xét giải quyết khiếu nại.
· Cơ
quan quản lý thuế phải hoàn trả số tiền thuế, số tiền phạt thu không đúng cho
người nộp thuế, bên thứ ba trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được
quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế cấp trên hoặc cơ quan có thẩm quyền
theo quy định của pháp luật.
V.
THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ÐỐI VỚI
HÀNG HOÁ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU
1. Ðối tượng chịu thuế và nộp thuế giá trị
gia tăng ở khâu nhập khẩu:
1.1 Ðối tượng chịu thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập
khẩu:
Ðối với hàng hoá nhập
khẩu, đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng là hàng hoá nhập khẩu dùng cho sản
xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam được phép nhập khẩu qua biên giới Việt
Nam hoặc từ khu chế xuất nhập khẩu vào thị trường nội địa, trừ các đối tượng
không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định cuả pháp luật .
1.2 Ðối tượng không thuộc diện chịu thuế giá trị
gia tăng ở khâu nhập khẩu:
·
Hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại bao gồm: hàng viện trợ
cuả các tổ chức quốc tế, Nhà nước, Chính phủ, Hiệp hội, tổ chức phi Chính phủ
nước ngoài viện trợ cho Chính phủ Việt Nam hoặc cho các tổ chức, đoàn thể, hiệp
hội cuả Việt Nam.
Hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ
không hoàn lại phải có đầy đủ các giấy tờ để xuất trình với hải quan như sau:
- Giấy xác nhận hàng viện trợ cuả cơ quan có
thẩm quyền, ghi rõ cơ quan, tổ chức viện trợ là hàng viện trợ nhân đạo, viện
trợ không hoàn lại.
- Các giấy tờ khác có liên quan đến việc tiếp
nhận lô hàng như quy định đối với hàng hoá nhập khẩu.
·
Quà tặng cho các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị
xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân.
·
Ðồ dùng cuả các tổ chức, cá nhân nước ngoài theo tiêu chuẩn miễn trừ
ngoại giao, hàng mang theo người theo tiêu chuẩn hành lý miễn thuế, hàng là đồ
dùng cuả người Việt Nam
định cư ở nước ngoài khi về nước mang theo.
·
Hàng chuyển khẩu quá cảnh, mượn đường qua Việt Nam, hàng tạm
nhập khẩu, tái xuất khẩu; hàng tạm xuất khẩu, tái nhập khẩu.
·
Các loại nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng hoá xuất khẩu, gia công hàng
xuất khẩu theo hợp đồng sản xuất gia công với nước ngoài.
·
Hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho các đối tượng và trường hợp sau không
chịu thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu: Hàng hoá nhập khẩu cung ứng trực
tiếp cho tàu biển, máy bay, tàu hoả, phương tiện vận tải khác từ Việt Nam đi
nước ngoài và từ nước ngoài đến (qua) Việt Nam để đi tiếp đến nước ngoài như
cung ứng xăng, dầu, nước và các loại thực phẩm, bao gồm cả suất ăn phục vụ hành
khách, cung ứng các dịch vụ sửa chữa, làm vệ sinh phương tiện vận tải quốc tế
hoạt động vận chuyển hàng hoá, hành lý, hành khách từ Việt Nam đi nước ngoài và
từ nước ngoài đến Việt Nam.
·
Các loại hàng hoá xuất khẩu để bán miễn thuế tại các cửa hàng miễn thuế,
tại các sân bay, bến cảng, nhà ga quốc tế và các cửa khẩu biên giới.
·
Vàng nhập khẩu dạng thỏi, miếng và các loại vàng chưa chế tác thành sản
phẩm, mỹ nghệ đồ trang sức hay sản phẩm khác.
·
Các loại thiết bị máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng thuộc loại
trong nước chưa sản xuất được mà cơ sở có dự án đầu tư nhập khẩu để làm tài sản
cố định theo dự án đó.Trường hợp cơ sở nhập khẩu dây chuyền thiết bị máy móc
đồng bộ thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng nhưng trong dây chuyền đồng
bộ đó có cả loại thiết bị máy móc trong nước đã sản xuất được thì cũng không
tính thuế giá trị gia tăng cho cả dây chuyền thiết bị máy móc đó.
·
Vũ khí, khí tài chuyên dùng nhập khẩu phục vụ quốc phòng, an ninh.
·
Chuyển giao công nghệ theo quy định của Luật chuyển giao công nghệ.
·
Hàng hoá nhập khẩu thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt ở khâu nhập
khẩu thì không phải chịu thuế giá trị gia tăng.
·
Sản phẩm nhập khẩu là tài nguyên khoáng sản khai thác chưa chế biến thành
sản phẩm khác như: dầu thô, than đá, đá phiến, cát, đất hiếm,đá quý,quặng
man-gan, quặng thiếc, quặng sắt, quặng crommit, quặng emenhit, quặng apatit.
1.3 Ðối tượng nộp thuế giá trị gia tăng đối với
hàng nhập khẩu:
Là các tổ chức, cá nhân hoạt động
kinh doanh nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ chịu thuế ở Việt Nam không phân biệt
ngành nghề, hình thức tổ chức kinh doanh và các tổ chức cá nhân khác có nhập
khẩu hàng hoá chịu thuế.
2. Căn cứ tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu:
Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng đối với
hàng hoá nhập khẩu là giá tính thuế và thuế suất.
2.1 Giá tính thuế:
Giá tính thuế giá trị gia tăng đối với
hàng hoá nhập khẩu là giá nhập khẩu tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu.
Trường hợp hàng hoá nhập khẩu được miễn
thuế nhập khẩu hoàn toàn thì giá tính thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu là
giá xác định để tính thuế nhập khẩu.
Trường hợp hàng hoá nhập khẩu được miễn
một phần thuế nhập khẩu thì giá tính thuế giá trị gia tăng là giá tính thuế
được xác định như đã xác định giá tính thuế nhập khẩu và cộng với phần thuế
nhập khẩu phải nộp (sau khi đã trừ phần được giảm thuế nhập khẩu).
2.2.Thuế suất:
Theo quy định tại Ðiều 8 Luật thuế giá
trị gia tăng năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
3. Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng đối với
hàng hoá nhập khẩu:
Thuế GTGT
phải nộp = (Giá nhập khẩu khai báo + thuế nhập khẩu + thuế TTĐB) x thuế suất
thuế GTGT
Trị giá hàng hoá nhập khẩu để tính thuế
nhập khẩu đồng thời được sử dụng để tính thuế giá trị gia tăng. Trong lô hàng
có trường hợp các mặt hàng có thuế suất giá trị gia tăng khác nhau phải tính
thuế giá trị gia tăng riêng cho từng mặt hàng, sau đó tổng hợp lại tổng số thuế
giá trị gia tăng cho cả lô hàng.
Trình tự tính thuế giá trị gia tăng như sau:
Bước1: Xác định những mặt hàng nhập khẩu chịu thuế giá
trị gia tăng để tính thuế nhập khẩu trước làm căn cứ tính thuế giá trị gia
tăng. Cụ thể các trường hợp:
·
Cả lô hàng nhập khẩu vừa chịu thuế nhập khẩu vừa chịu thuế giá trị gia tăng:
tính thuế nhập khẩu trước, sau đó có căn cứ tính thuế giá trị gia tăng theo
công thức trên.
·
Lô hàng nhập khẩu chỉ có một số mặt hàng chịu thuế giá trị gia tăng:
tính thuế nhập khẩu cho cả lô hàng sau đó tính giá tính thuế giá trị gia tăng
những mặt hàng chịu thuế giá trị gia tăng và tính thuế giá trị gia tăng đối với
những mặt hàng đó.
·
Cả lô hàng nhập khẩu có những mặt hàng được miễn giảm thuế nhập khẩu
nhưng thuế giá trị gia tăng không được miễn giảm thì giá tính thuế giá trị gia
tăng bao gồm cả thuế nhập khẩu.
Những mặt hàng nhập khẩu chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
thì không chịu thuế giá trị gia tăng.
Bước 2: Tính thuế giá trị gia tăng:
·
Xác định giá tính thuế hàng hoá nhập khẩu chịu thuế giá trị gia
tăng.
·
Xác định chính xác số thuế nhập khẩu phải nộp của hàng hoá chịu
thuế giá trị gia tăng.
·
Xác định thuế suất thuế giá trị gia tăng áp dụng cho mặt hàng đó.
·
Tính thuế giá trị gia tăng theo công thức.
Bước 3: Nộp thuế
·
Tùy vào lọai hình cụ thể mà thời gian nộp thuế sẽ khác nhau. Thời gian
nộp thuế căn cứ theo quy định tại Luật quản lý thuế và Luật thuế XNK.
·
Số tiền thuế phải nộp căn cứ vào số liệu khai báo trên tờ khai nhập khẩu
hàng hóa nhập khẩu.
4. Khai báo hải quan và nộp thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập
khẩu:
·
Cơ sở kinh doanh, người nhập khẩu hàng hoá chịu thuế giá trị gia tăng
phải kê khai và nộp thuế giá trị gia tăng theo từng lần nhập khẩu cùng với việc
kê khai thuế nhập khẩu với cơ quan hải quan thu thuế nhập khẩu.
·
Tờ khai hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu và các loại giấy tờ sử dụng khi
khai báo hải quan thực hiện như quy định trong Luật thuế xuất nhập khẩu và các
quy định cuả ngành hải quan.
·
Những hàng hoá nhập khẩu không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng,
người nhập khẩu phải trình nộp các loại giấy tờ chứng minh.
·
Thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng được quy định như thời hạn nộp thuế
xuất khẩu, nhập khẩu.
·
Ðối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo đường xuất nhập cảnh, phi mậu
dịch, nhập khẩu qua biên giới đất liền không thuộc di��n xuất khẩu, nhập khẩu
chính ngạch, hàng nhập khẩu là hàng tiêu dùng phải nộp thuế giá trị gia tăng
ngay khi nhập khẩu.
·
Thuế giá trị gia tăng nộp vào ngân sách nhà nước bằng đồng Việt Nam.
Nguồn : Tổng Cục Thuế
(SUNLAW FIRM:
Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật
và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý
kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)