Tìm hiểu các quy định luật phá sản năm 2004 về tài sản, nghĩa vụ về tài sản, các biện pháp bảo toàn tài sản, hội nghị chủ nợ và một số kiến nghị
Phá sản là tình trạng không mong muốn của thương nhân trong kinh doanh, nhưng lại là một quy luật kinh tế khách quan của nền kinh tế thị trường. Pháp luật về phá sản có nhiệm vụ quan trọng là tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, hợp tác xã đang trong tình trạng kinh doanh khó khăn, thua lỗ có cơ hội để tái tổ chức lại hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc rút ra khỏi thương trường một cách có trật tự, đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ nợ.
Pháp luật về phá sản bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của các chủ nợ thông qua nhiều quy định khác nhau nhưng thể hiện rõ
nhất, đặc trưng nhất là thông qua các quy định về tài sản, nghĩa vụ về
tài sản, bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản và thông qua tổ chức và hoạt động của hội nghị chủ nợ.
Trên cơ sở thực tiễn năm năm thi hành Luật Phá sản
năm 2004, trong chuyên đề này chúng tôi sẽ đi sâu phân tích các quy định
của Luật Phá sản năm 2004 về: (1) tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
lâm vào tình trạng phá sản, nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp
tác xã lâm vào tình trạng phá sản; (2) các biện pháp bảo toàn tài sản
của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản; và (3) hội nghị
chủ nợ.
I. TÀI SẢN VÀ NGHĨA VỤ VỀ TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÃ LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN
1. Khái niệm tài sản và nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản và nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm
vào tình trạng phá sản là những thuật ngữ pháp lý quan trọng của Luật
Phá sản năm 2004.
Thuật ngữ “tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản” thường được gọi tắt là tài sản có của doanh nghiệp, hợp tác xã.
Thuật ngữ “nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản” là tài sản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
Hai thuật ngữ này thường được gọi chung là tài sản
phá sản (hay sản nghiệp) của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng
phá sản.
Như vậy, tài sản phá sản bao gồm cả tài sản có và tài
sản nợ, thông thường khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng
phá sản thì tài sản có của doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình
trạng phá sản thường ít hơn tổng số tài sản nợ và tài sản này thường
được xác định tại thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản.
Luật Phá sản năm 2004 tuy không có điều luật quy
định riêng về khái niệm tài sản và khái niệm nghĩa vụ về tài sản của
doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Nhưng căn cứ vào
những quy định khác nhau của Luật Phá sản năm 2004 chúng ta có thể xác
định như sau:
Tài sản (tài sản có) của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm
vào tình trạng phá sản là toàn bộ số tài sản thuộc quyền sở hữu của
doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của pháp luật có hoặc sẽ có tại
thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
Nghĩa vụ về tài sản (tài sản nợ) của doanh nghiệp,
hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là toàn bộ các khoản nợ theo quy
định của pháp luật mà doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá
sản có nghĩa vụ phải thực hiện.
Luật Phá sản năm 2004 chỉ chấp nhận xem xét những
khoản nợ được hình thành hợp pháp trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở
thủ tục phá sản và chỉ là những khoản nợ không có bảo đảm. Những khoản
nợ có bảo đảm được bảo đảm thanh toán bằng chính những tài sản bảo đảm
như cầm cố, thế chấp theo phương thức do các bên thoả thuận và theo đúng
quy định pháp luật.
2. Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
Tài sản (tài sản có) của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm
vào tình trạng phá sản là những tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp
tác xã khi đã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản. Tài sản này được xác định
theo quy định tại Điều 49 của Luật Phá sản năm 2004, bao gồm:
- Tài sản và quyền về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã có tại thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;
- Các khoản lợi nhuận, các tài sản và các quyền về
tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ có do việc thực hiện các giao
dịch được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản;
- Tài sản là vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của doanh
nghiệp, hợp tác xã. Trường hợp thanh toán tài sản là vật bảo đảm được
trả cho các chủ nợ có bảo đảm, nếu giá trị của vật bảo đảm vượt quá
khoản nợ có bảo đảm phải thanh toán thì phần vượt quá đó là tài sản của
doanh nghiệp, hợp tác xã;
- Giá trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác định theo quy định của pháp luật về đất đai.
Tài sản của doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh
lâm vào tình trạng phá sản bao gồm tài sản quy định tại khoản 1 Điều 49
của Luật Phá sản năm 2004 và tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành
viên hợp danh không trực tiếp dùng vào hoạt động kinh doanh. Trường hợp
chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh có tài sản thuộc sở hữu
chung thì phần tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh
đó được chia theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 và các quy định
khác của pháp luật có liên quan.
Chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh là các
đối tượng phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với nghĩa vụ của công ty. Đã
có ý kiến cho rằng quy định như vậy là không bình đẳng trong quan hệ
giữa doanh nghiệp nhà nước, các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ
phần và doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh. Tuy nhiên, theo chúng
tôi quy định này là hợp lý nếu xét dưới góc độ bản chất của doanh nghiệp
tư nhân và công ty hợp danh là loại hình doanh nghiệp chịu trách nhiệm
vô hạn đối với khoản nợ phát sinh từ hoạt động của doanh nghiệp. Nhưng
dưới góc độ chính sách của Luật Phá sản năm 2004 thì quy định này cần
được nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung lại cho linh hoạt hơn.
3. Nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
a. Xác định nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
Luật Phá sản năm 2004 quy định nguyên tắc chung để
xác định nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản tại Điều 33 Luật Phá sản năm 2004. Theo đó, nghĩa vụ về
tài sản (tài sản nợ) của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá
sản thực chất là nghĩa vụ về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã có
nghĩa vụ phải thanh toán, là lý do đưa doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản. Tài sản để làm căn cứ xác định nghĩa vụ về tài sản
của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản được xác định
theo quy định tại Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005 “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”.
Nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá
sản được xác định căn cứ theo quy định tại Điều 33 của Luật Phá sản năm
2004 bao gồm:
- Các yêu cầu đòi doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện
nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở
thủ tục phá sản mà nghĩa vụ này không có bảo đảm;
- Các yêu cầu đòi doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện
nghĩa vụ về tài sản có bảo đảm được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản, nhưng quyền ưu tiên thanh toán đã bị huỷ bỏ.
Xác định nghĩa vụ về tài sản (tài sản nợ) của doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thực chất là xác định tổng
các khoản nợ (cả nợ chưa đến hạn và nợ đã đến hạn) của doanh nghiệp,
hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản đối với các chủ nợ tại thời điểm
Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và số lượng các chủ nợ được
quyền yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thanh
toán.
Về việc xác định nghĩa vụ về tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, Mục 1 Phần III Nghị quyết
số 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28-4-2005 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân
dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Phá sản năm 2004
về phần nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản đã xác định như sau:
- Tổng các yêu cầu của các chủ nợ đòi doanh nghiệp,
hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thực hiện nghĩa vụ về tài sản
không có bảo đảm (kể cả đến hạn và chưa đến hạn), mà các nghĩa vụ này
được xác lập, được phát sinh trước thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản;
- Tổng các yêu cầu của các chủ nợ có bảo đảm đòi
doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thực hiện nghĩa vụ
về tài sản có bảo đảm (kể cả đến hạn và chưa đến hạn), mà các nghĩa vụ
này được xác lập, được phát sinh trước thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu
cầu mở thủ tục phá sản, nhưng quyền ưu tiên thanh toán đã bị huỷ bỏ.
Như vậy, Luật Phá sản năm 2004 chỉ xem xét những
khoản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã được hình thành hợp pháp trước khi
Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và những khoản nợ đó là
khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm nhưng quyền ưu tiên thanh toán
đã bị hủy bỏ.
Đối với những khoản nợ có bảo đảm dưới các hình thức
như cầm cố, thế chấp… thì nghĩa vụ về tài sản được xác lập theo các giao
dịch bảo đảm không được xác định là nghĩa vụ về tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã.
Bên cạnh việc quy định nguyên tắc chung để xác định
nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá
sản, Luật Phá sản năm 2004 còn quy định việc xác định nghĩa vụ về tài
sản trong trường hợp khoản nợ không phải là tiền (Điều 38) và nghĩa vụ
về tài sản trong trường hợp nghĩa vụ liên đới hoặc bảo lãnh (Điều 39)
của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
Theo đó, trường hợp đối tượng nghĩa vụ không phải là
tiền thì theo yêu cầu của người có quyền hoặc của doanh nghiệp, hợp tác
xã, Toà án xác định giá trị của nghĩa vụ đó vào thời điểm ra quyết định
mở thủ tục phá sản để đưa vào nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp
tác xã (Điều 38 Luật Phá sản năm 2004). Giá trị của nghĩa vụ không phải
là tiền có thể là các quyền về sở hữu trí tuệ, mẫu mã, kiểu dáng công
nghiệp, giá trị thương hiệu của sản phẩm, dịch vụ… các quyền tài sản này
đều có thể trị giá ra thành tiền và được coi là tài sản. Nếu doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là đơn vị có nghĩa vụ thì
giá trị của nghĩa vụ đó được thống kê vào giá trị tài sản phải thanh
toán (khoản nợ), của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá
sản.
Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ liên
đới hoặc bảo lãnh thì việc xác định nghĩa vụ về tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã được xác định như sau:
- Trường hợp nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa
vụ liên đới về một khoản nợ mà một hoặc tất cả các doanh nghiệp, hợp tác
xã đó lâm vào tình trạng phá sản thì chủ nợ có quyền đòi bất cứ doanh
nghiệp, hợp tác xã nào trong số các doanh nghiệp, hợp tác xã đó thực
hiện việc trả nợ cho mình theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp người bảo lãnh lâm vào tình trạng phá
sản thì người được bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với
người nhận bảo lãnh.
- Trường hợp người được bảo lãnh hoặc cả người bảo
lãnh và người được bảo lãnh đều lâm vào tình trạng phá sản thì người bảo
lãnh phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với người nhận bảo lãnh.
Như vậy, nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp
tác xã lâm vào tình trạng phá sản về bản chất là tổng giá trị các khoản
nợ cả đến hạn và cả chưa đến hạn mà doanh nghiệp, hợp tác xã phải thanh
toán cho các chủ nợ của mình. Tuy nhiên, giá trị khoản nợ hay nghĩa vụ
về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản phải
thanh toán được xác định tại thời điểm nào đang là vấn đề còn có ý kiến
khác nhau.
Loại ý kiến thứ nhất cũng là loại ý
kiến đã được thể hiện tại Điều 33 của Luật Phá sản năm 2004, đó là xác
định thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là thời điểm
xác định nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản.
Loại ý kiến thứ hai cho rằng quy định
thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là thời điểm xác
định nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng
phá sản cho tất cả các trường hợp là chưa hợp lý. Bởi vì trong một số
trường hợp đặc biệt, nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
vẫn phát sinh sau khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Ví
dụ: nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đối với Nhà nước
trong trường hợp Nhà nước áp dụng biện pháp đặc biệt về tài sản để phục
hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh (Điều 36 Luật Phá sản năm 2004). Do
đó, cần nghiên cứu để sửa đổi quy định tại Điều 36 Luật Phá sản năm 2004
theo hướng, trong những trường hợp đặc biệt, nghĩa vụ về tài sản của
doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản sẽ được xác định tại
thời điểm thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản.
b. Xử lý nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
Luật Phá sản năm 2004 quy định việc xử lý nghĩa vụ về
tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản trong
trường hợp đã có quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản đối với doanh
nghiệp, hợp tác xã. Mọi trường hợp không có quyết định mở thủ tục thanh
lý tài sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì không thể tiến hành xử
lý nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng
phá sản.
Luật Phá sản năm 2004 quy định các trường hợp xử lý
nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá
sản như sau: Xử lý các khoản nợ chưa đến hạn (Điều 34); Xử lý các khoản
nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố (Điều 35); Xử lý tài
sản của Nhà nước đã được dùng để áp dụng biện pháp đặc biệt về tài sản
(Điều 36); Xử lý tài sản thuê hoặc mượn khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị
áp dụng thủ tục thanh lý (Điều 40); Xử lý tài sản đã giao trước khi Toà
án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (Điều 41); Xử lý hàng hóa đã
bán (Điều 42); Xử lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường
hợp mở thủ tục thanh lý tài sản (Điều 37). Cụ thể như sau:
Xử lý các khoản nợ chưa đến hạn:
Trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh
lý đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì các khoản nợ chưa đến hạn vào
thời điểm mở thủ tục thanh lý được xử lý như các khoản nợ đến hạn, nhưng
không được tính lãi đối với thời gian chưa đến hạn.
Xử lý các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố:
Trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh
lý đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì các khoản nợ được bảo đảm bằng
tài sản thế chấp hoặc cầm cố được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được ưu tiên thanh toán bằng tài sản đó; nếu giá trị tài sản thế chấp hoặc cầm cố
không đủ thanh toán số nợ thì phần nợ còn lại sẽ được thanh toán trong
quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; nếu giá trị của
tài sản thế chấp hoặc cầm cố lớn hơn số nợ thì phần chênh lệch được
nhập vào giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã.
Xử lý tài sản của Nhà nước đã được dùng để áp dụng biện pháp đặc biệt về tài sản:
Doanh nghiệp đã được Nhà nước áp dụng biện pháp đặc
biệt về tài sản để phục hồi hoạt động kinh doanh, nhưng vẫn không phục
hồi được mà phải áp dụng thủ tục thanh lý thì phải hoàn trả lại giá trị
tài sản đã được áp dụng biện pháp đặc biệt cho Nhà nước trước khi thực
hiện việc phân chia tài sản theo quy định tại Điều 37 của Luật Phá sản
năm 2004.
Xử lý tài sản thuê hoặc mượn khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý:
Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày Toà án ra
quyết định mở thủ tục thanh lý, chủ sở hữu tài sản cho doanh nghiệp, hợp
tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý thuê hoặc mượn tài sản để dùng vào
hoạt động kinh doanh phải xuất trình giấy tờ chứng minh quyền sở hữu,
hợp đồng cho thuê hoặc cho mượn với Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài
sản để nhận lại tài sản của mình. Trong trường hợp có tranh chấp thì yêu
cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ
tục thanh lý đã trả trước tiền thuê nhưng chưa hết thời hạn thuê thì chủ
sở hữu chỉ được nhận lại tài sản sau khi đã thanh toán lại số tiền thuê
còn thừa do chưa hết thời hạn để Tổ quản lý, thanh lý tài sản nhập vào
khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó.
Trường hợp tài sản thuộc quyền đòi lại đã bị doanh
nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý chuyển nhượng cho người
khác thì chủ sở hữu có quyền yêu cầu bồi thường đối với tài sản đó như
khoản nợ có bảo đảm.
Xử lý tài sản đã giao trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:
Bất kỳ cá nhân, tổ chức nào đã giao tài sản cho doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản trước khi Toà án thụ lý
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đều không được đòi lại nếu việc giao tài
sản đó nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình đối với doanh nghiệp,
hợp tác xã.
Xử lý hàng hóa đã bán:
Người bán đã gửi hàng hoá cho người mua là doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản nhưng chưa được thanh toán
và người mua cũng chưa nhận được hàng hoá thì người bán được nhận lại
hàng hoá đó.
Xử lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp mở thủ tục thanh lý tài sản:
Xử lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã trong
trường hợp mở thủ tục thanh lý tài sản là một quy định quan trọng của
Luật Phá sản năm 2004 vì quy định này ảnh hưởng rất lớn đến các chủ thể
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản. Xử lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã trong
trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản được phân
ra thành hai trường hợp. Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không tiến
hành thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh và trường hợp doanh nghiệp,
hợp tác xã có tiến hành thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh.
Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không tiến hành
thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh thì việc xử lý tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã được chia ra thành hai giai đoạn chính.
- Giai đoạn 1: ngay sau khi Thẩm phán ra quyết định
mở thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì việc phân chia
giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã được thực hiện theo thứ tự
sau đây:
+ Phí phá sản;
+ Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã
hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác theo thoả ước lao
động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;
+ Các khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho các chủ
nợ trong danh sách chủ nợ theo nguyên tắc nếu giá trị tài sản đủ để
thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ đều được thanh toán đủ số nợ của
mình; nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi
chủ nợ chỉ được thanh toán một phần khoản nợ của mình theo tỷ lệ tương
ứng.
- Giai đoạn 2: nếu giá trị tài sản của doanh nghiệp,
hợp tác xã sau khi đã thanh toán đủ các khoản ở giai đoạn 1 mà vẫn còn
thì phần còn lại này được chia cho các chủ thể sau:
+ Xã viên hợp tác xã;
+ Chủ doanh nghiệp tư nhân;
+ Các thành viên của công ty; các cổ đông của công ty cổ phần;
+ Chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước.
Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã có tiến hành thủ
tục phục hồi hoạt động kinh doanh thì việc xử lý tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã được thực hiện theo sự thỏa thuận của các bên hoặc
được thực hiện theo thứ tự phân chia như trường hợp doanh nghiệp, hợp
tác xã không tiến hành thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh.
4. Một số kiến nghị sửa đổi,
bổ sung các quy định về tài sản, nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp,
hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
a. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định về tài sản
của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản (Điều 49 Luật
Phá sản năm 2004)
Trong quá trình thực hiệc các quy định về tài sản của
doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản tại Điều 49 Luật
Phá sản năm 2004 đã bộc lộ nhiều thiếu sót. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung
một số quy định như sau:
- Việc quy định về tài sản phá sản và cách xử lý đối
với tài sản phá sản như tại Điều 49 là chưa hợp lý, chưa đầy đủ, ảnh
hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá
sản. Toàn bộ tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã có được từ thời điểm có
Quyết định của Toà án về việc thụ lý đơn yêu cầu giải quyết phá sản hợp
thành một khối thống nhất và duy nhất được gọi là tài sản phá sản. Việc
xác định phạm vi của khối tài sản này có ý nghĩa rất quan trọng vì nó
không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ nợ mà còn có ý nghĩa lớn
trong việc quyết định phương hướng giải quyết một vụ việc phá sản cụ
thể. Nếu Toà án xác định được rằng, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
không còn hoặc còn nhưng rất không đáng kể thì Toà án có thể tuyên bố
ngay họ bị phá sản và chấm dứt vụ việc mà không cần phải tiến hành bất
cứ một thủ tục pháp lý nào khác. Do vậy, cần bổ sung thêm quy định Toà
án ra quyết định thanh lý tài sản và tuyên bố doanh nghiệp phá sản ngay
khi xác định được rằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã không còn
hoặc còn nhưng rất không đáng kể. Có như vậy thủ tục tiến hành “khai tử”
một doanh nghiệp, hợp tác xã mới có thể tiến hành nhanh chóng, tiết
kiệm thời gian, chi phí cho các đương sự, cơ quan tiến hành tố tụng cũng
như cho cả xã hội.
- Bổ sung một số loại tài sản, quyền tài sản vào tài
sản phá sản của doanh nghiệp mắc nợ như: Tài sản và quyền tài sản được
thu hồi từ các giao dịch không công bằng của doanh nghiệp; Tài sản và
quyền tài sản có được do thu hồi từ các giao dịch vô hiệu của doanh
nghiệp; Tài sản và quyền tài sản có được do chủ doanh nghiệp tư nhân
hoặc thành viên hợp danh trong công ty hợp danh thừa kế; Tài sản và
quyền tài sản có được sau ngày mở thủ tục phá sản.
Theo quy định của Luật Phá sản năm 2004 thì sau khi
mở thủ tục phá sản, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vẫn có thể
được tiến hành một cách bình thường. Vì vậy, việc doanh nghiệp có thêm
tài sản và quyền tài sản sau ngày bắt đầu vụ kiện là điều hoàn toàn có
thể xảy ra. Do đó, việc đưa tài sản và quyền tài sản mà doanh nghiệp có
được sau ngày mở thủ tục phá sản vào tài sản phá sản là cần thiết.
- Bổ sung quy định về tài sản phá sản của doanh
nghiệp những tài sản như: Tài sản và quyền tài sản do chủ doanh nghiệp
tư nhân hoặc thành viên hợp danh trong trong công ty hợp danh được tặng
cho, thừa kế riêng.
- Bổ sung vào Điều 49 Luật Phá sản năm 2004 khoản 3,
trong đó quy định về các loại tài sản được miễn trừ khỏi tài sản phá
sản. Hiện nay, theo quan điểm nhân đạo, nhiều nước trên thế giới đã cho
phép người mắc nợ là cá nhân được giữ lại một số tài sản, chủ yếu là
những đồ dùng sinh hoạt thiết yếu hàng ngày nếu họ không có hành vi vi
phạm pháp luật hoặc không có hành vi gian lận trong quá trình quản lý,
điều hành doanh nghiệp. Theo thông lệ của các nước thì các tài sản,
quyền về tài sản được miễn trừ bao gồm: các đồ vật phục vụ cho sinh hoạt
hàng ngày mang tính chất tối thiểu của người mắc nợ và các khoản trợ
cấp cho người mắc nợ do không còn khả năng lao động, do bệnh tật, do mất
việc làm; tiền lương hưu, các khoản nhận được từ hợp đồng bảo hiểm nhân
thọ, các khoản cấp dưỡng sau khi ly hôn, tiền bồi thường do sức khoẻ bị
tổn hại do hành vi vi phạm pháp luật của người khác gây ra…
b. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định về nghĩa vụ
về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
(Điều 33 Luật Phá sản năm 2004)
Như trên đã phân tích, nghĩa vụ về tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản trong một số trường hợp
đặc biệt vẫn phát sinh sau ngày Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản. Do đó, cần sửa đổi Điều 33 Luật Phá sản năm 2004 theo hướng thừa
nhận các khoản nợ mới phát sinh trong quá trình giải quyết phá sản. Có
nghĩa là nghĩa vụ về tài sản phát sinh sau ngày Toà án thụ lý đơn yêu
cầu mở thủ tục phá sản cũng phải được xác định là nghĩa vụ về tài sản
của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Vì khi doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản được áp dụng thủ tục phục
hồi sẽ có thể dẫn tới phát sinh các khoản nợ mới. Nếu không quy định
nghĩa vụ trả nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã trong qúa trình tiến hành
thủ tục phục hồi thì sẽ không có doanh nghiệp nào muốn làm ăn đối với
doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
II. CÁC BIỆN PHÁP BẢO TOÀN TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÃ LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN
Bảo toàn khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
lâm vào tình trạng phá sản tại thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở
thủ tục phá sản là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa không chỉ đối
với doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản mà còn có ý
nghĩa đối với cả chủ nợ và người mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm
vào tình trạng phá sản.
Luật Phá sản năm 2004 đã dành Chương IV với 18 điều
quy định về các biện pháp bảo toàn tài sản. Đây là chương mới được quy
định với 14 điều được xây dựng mới và 4 điều được sửa đổi, bổ sung so
với Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993. Các biện pháp bảo toàn tài sản
theo quy định của Luật Phá sản năm 2004 bao gồm: Các giao dịch bị coi là
vô hiệu (Điều 43); Quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu
(Điều 44); Đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực (Điều 45); Văn
bản yêu cầu đình chỉ thực hiện hợp đồng (Điều 46); Thanh toán, bồi
thường thiệt hại khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện (Điều 47); Bù trừ
nghĩa vụ (Điều 48); Kiểm kê tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản (Điều 50); Gửi giấy đòi nợ (Điều 51); Lập danh sách
chủ nợ (Điều 52); Lập danh sách người mắc nợ (Điều 53); Đăng ký giao
dịch bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
(Điều 54); Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 55); Khiếu nại
quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 56); Đình chỉ thi
hành án dân sự hoặc giải quyết vụ án (Điều 57); Giải quyết vụ án bị đình
chỉ trong thủ tục phá sản (Điều 58); Nghĩa vụ của Ngân hàng nơi doanh
nghiệp, hợp tác xã có tài khoản (Điều 59); Nghĩa vụ của nhân viên và
người lao động (Điều 60).
Những nội dung cụ thể về các biện pháp bảo toàn tài sản như sau:
1. Các giao dịch vô hiệu và quyền yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu
a. Các giao dịch vô hiệu
Theo quy định tại Điều 43 Luật Phá sản năm 2004 thì
các loại giao dịch sau đây của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản bị coi là vô hiệu nếu được thực hiện trong khoảng thời
gian ba tháng trước ngày Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản,
bao gồm:
- Tặng cho động sản và bất động sản cho người khác;
- Thanh toán hợp đồng song vụ trong đó phần nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác xã rõ ràng là lớn hơn phần nghĩa vụ của bên kia;
- Thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn;
- Thực hiện việc thế chấp, cầm cố tài sản đối với các khoản nợ;
- Các giao dịch khác với mục đích tẩu tán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.
Trong trường hợp các giao dịch nêu trên bị tuyên bố
vô hiệu thì những tài sản thu hồi được từ các giao dịch vô hiệu đó phải
nhập vào khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.
Trong điều kiện bình thường doanh nghiệp, hợp tác xã
được quyền tự quyết định chiến lược kinh doanh, kế hoạch kinh doanh và
tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình đối với các quyết định đó.
Doanh nghiệp, hợp tác xã được quyền quy định tham gia hoặc không tham
gia vào quan hệ kinh doanh này hay quan hệ kinh doanh khác mà không một
tổ chức, cá nhân nào được quyền can thiệp trái pháp luật. Tuy nhiên,
trong điều kiện doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì
việc can thiệp và cấm doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện một hoặc một số
giao dịch nhất định là cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
chủ nợ. Quy định này nhằm ngăn chặn việc tẩu tán tài sản hoặc cố ý làm
thất thoát tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá
sản thông qua các giao dịch bất hợp pháp với mục đích tẩu tán tài sản.
Liên quan đến việc cấm doanh nghiệp, hợp tác xã lâm
vào tình trạng phá sản thực hiện một hoặc một số hoạt động nhất định,
Điều 31 Luật Phá sản năm 2004 cũng có những quy định về các hoạt động
của doanh nghiệp, hợp tác xã bị cấm hoặc bị hạn chế như sau :
‘‘1. Kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, nghiêm cấm doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện các hoạt động sau đây:
a) Cất giấu, tẩu tán tài sản;
b) Thanh toán nợ không có bảo đảm;
c) Từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ;
d) Chuyển các khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp.
2. Sau khi nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, các hoạt động sau đây của doanh nghiệp, hợp tác xã phải được sự đồng ý bằng văn bản của Thẩm phán trước khi thực hiện:
a) Cầm cố, thế chấp, chuyển nhượng, bán, tặng cho, cho thuê tài sản;
b) Nhận tài sản từ một hợp đồng chuyển nhượng;
c) Chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực;
d) Vay tiền;
đ) Bán, chuyển đổi cổ phần hoặc chuyển quyền sở hữu tài sản;
e) Thanh toán các khoản nợ mới phát sinh từ hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã và trả lương cho người lao
động trong doanh nghiệp, hợp tác xã.”
Khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá
sản, dấu hiệu biểu hiện là doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng
thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu và đã có đơn yêu
cầu Toà án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó thì
việc can thiệp và cấm doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện một số hoạt
động là cần thiết. Hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ không có
giá trị thi hành (vô hiệu) không chỉ khi có đơn yêu cầu tuyên bố phá
sản, mà cả những hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã đã tiến hành
trước ngày Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Luật quy định
những giao dịch được tiến hành trong khoảng 3 tháng trước ngày Toà án
thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản sẽ bị coi là vô hiệu. Quy định này
nhằm ngăn chặn việc tẩu tán tài sản hoặc cố ý làm thất thoát tài sản
của doanh nghiệp, hợp tác xã thông qua các giao dịch nhằm hợp lý hoá
hành vi tẩu tán tài sản bất hợp pháp của doanh nghiệp, của những người
lãnh đạo doanh nghiệp.
b. Quyền yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, dấu hiệu của
việc lâm vào tình trạng phá sản thường được biểu hiện trong một khoảng
thời gian khá dài. Các nhà làm luật đã đề ra biện pháp phòng ngừa việc
những người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã biết tình
trạng thực của doanh nghiệp, hợp tác xã mà có những giao dịch thiếu công
bằng, không vô tư có thể vì mục đích tư lợi, làm lợi cho một hoặc một
số chủ nợ, nhưng lại gây thiệt hại cho các chủ nợ khác bằng cách làm
giảm khối tài sản phá sản. Những giao dịch loại này sẽ bị vô hiệu. Trong
quá trình Toà án tiến hành thủ tục phá sản nếu phát hiện thấy có những
giao dịch như vậy hoặc nghi ngờ vào tính vô tư, khách quan của những
giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, chủ
nợ không có bảo đảm, Tổ quản lý, thanh lý tài sản có quyền yêu cầu Toà
án đang tiến hành thủ tục phá sản tuyên bố những giao dịch đó là vô hiệu
và xử lý hậu quả pháp lý của những giao dịch vô hiệu theo quy định pháp
luật. Theo quy định tại Điều 44 Luật Phá sản năm 2004 thì chủ nợ không
có bảo đảm, Tổ quản lý, thanh lý tài sản có quyền yêu cầu Toà án tuyên
bố các giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xã quy định tại khoản 1 Điều
43 của Luật Phá sản năm 2004 là vô hiệu. Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý
tài sản có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định của Toà án tuyên bố
giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xã là vô hiệu để thu hồi lại tài sản
cho doanh nghiệp, hợp tác xã.
Mục 1 Phần IV Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP ngày
28-4-2005 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi
hành một số quy định của Luật Phá sản năm 2004 hướng dẫn:
“1.1. Trong quá trình Toà án tiến hành thủ tục phá
sản, nếu phát hiện doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
thực hiện một trong các giao dịch và trong thời hạn được quy định tại
khoản 1 Điều 43 của Luật Phá sản năm 2004, thì chủ nợ không có bảo đảm,
Tổ quản lý, thanh lý tài sản có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch
đó là vô hiệu. Yêu cầu phải được làm thành văn bản. Kèm theo văn bản yêu
cầu là các giấy tờ, tài liệu chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn
cứ. Khi nhận được văn bản yêu cầu và các giấy tờ, tài liệu kèm theo,
Thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản phải kiểm tra, xem xét và nếu xét
thấy yêu cầu là có căn c���, đúng pháp luật, thì ra quyết định tuyên bố
giao dịch đó là vô hiệu.
1.2. Thẩm phán phải gửi quyết định tuyên bố giao dịch của doanh nghiệp,
hợp tác xã quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật Phá sản năm 2004 là vô
hiệu cho Tổ quản lý, thanh lý tài sản và các bên tham gia giao dịch. Tổ
trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản có trách nhiệm tổ chức thi hành
quyết định của Toà án theo quy định tại khoản 2 Điều 44 của Luật Phá sản
năm 2004”.
Việc xử lý hậu quả pháp lý của việc tuyên bố giao
dịch vô hiệu theo quy định tại Điều 44 Luật Phá sản năm 2004 được thực
hiện theo quy định tại Điều 137 Bộ luật dân sự năm 2005, đây cũng chính
là nguyên tắc để xử lý các giao dịch dân sự vô hiệu trong quá trình Toà
án tiến hành thủ tục tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản, cụ thể như sau:
“Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu.
1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.
2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi
phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu
không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ
trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo
quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.”
Khi thụ lý, giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản
doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, thì Toà án không
cần phải tiến hành đề nghị đương sự yêu cầu Toà án có thẩm quyền tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu mà Toà án đang giải quyết yêu cầu tuyên bố doanh nghiệp, hợp
tác xã sẽ tuyên bố giao dịch dân sự đó vô hiệu căn cứ vào Điều 43 hoặc
Điều 31 của Luật Phá sản năm 2004 và sẽ xử lý hậu quả của giao dịch dân
sự vô hiệu theo quy định tại Điều 137 của Bộ luật dân sự năm 2005
theo nguyên tắc các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Tài sản thu
hồi được từ các giao dịch vô hiệu của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản sẽ được nhập vào khối tài sản phá sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản đó.
2. Đình chỉ thực hiện hợp đồng, thủ tục tiến hành và hậu quả pháp lý
a. Đình chỉ thực hiện hợp đồng
Thực tế cho thấy khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã không phải đã
bị đình chỉ, bị ngưng trệ, mà khi đó doanh nghiệp, hợp tác xã vẫn đang
còn kinh doanh, tìm những cơ hội thoát khỏi hoàn cảnh bất lợi hiện tại.
Lúc đó thông thường trong quan hệ kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác
xã vẫn đang còn có những hợp đồng đã được ký kết đang có hiệu lực, chưa
được thực hiện hoặc đang được thực hiện.
Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng có thể sẽ có lợi cho
doanh nghiệp, nhưng cũng có thể bất lợi cho doanh nghiệp. Những hợp
đồng mà việc tiếp tục thực hiện sẽ gây bất lợi cho doanh nghiệp, gây tổn
thất, làm giảm khối tài sản phá sản, do vậy cần bị đình chỉ thực hiện.
Có thể chỉ từ việc đình chỉ thực hiện một vài giao dịch hợp đồng đã ký,
đã và đang được thực hiện sẽ giúp cải thiện đáng kể tình hình tài chính
của doanh nghiệp, hợp tác xã và giúp cho doanh nghiệp, hợp tác xã đang
trong tình trạng khó khăn có khả năng phục hồi hoặc giữ được tài sản của
doanh nghiệp, hợp tác xã còn lại ở mức cao nhất.
Điều 45 Luật Phá sản năm 2004 quy định trong quá
trình tiến hành thủ tục phá sản nếu xét thấy việc đình chỉ thực hiện hợp
đồng đang có hiệu lực và đang được thực hiện hoặc chưa được thực hiện
sẽ có lợi hơn cho doanh nghiệp, hợp tác xã thì hợp đồng đó bị đình chỉ
thực hiện.
Khi giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, cần chú ý
rằng, chỉ xem xét đình chỉ những hợp đồng, nếu việc thực hiện hợp đồng
đó sẽ không có lợi cho doanh nghiệp, hợp tác xã (không những không làm
tăng, mà việc thực hiện sẽ làm giảm khối tài sản phá sản). Trường hợp
ngược lại việc thực hiện hợp đồng sẽ vẫn được tiếp tục và tuỳ từng
trường hợp mà sẽ có cách xử lý thích hợp: cho tiếp tục thực hiện bình
thường, cho tiếp tục thực hiện nhưng đặt dưới sự giám sát của Thẩm phán
phụ trách giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản; cho tiếp tục thực hiện
nhưng phải thay người quản lý điều hành doanh nghiệp.
b. Thủ tục tiến hành
Khi phát hiện có những hợp đồng quy định tại Điều 45
Luật Phá sản năm 2004, Chủ nợ, doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản, Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản có quyền yêu cầu
Toà án ra quyết định đình chỉ thực hiện hợp đồng. Yêu cầu Toà án ra
quyết định đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực và đang được
thực hiện hoặc chưa được thực hiện phải được làm thành văn bản với những
nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm văn bản;
b) Tên, địa chỉ của người có yêu cầu;
c) Số và tên hợp đồng; ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng;
d) Đối tác của doanh nghiệp, hợp tác xã trong hợp đồng;
đ) Nội dung cụ thể của hợp đồng;
e) Căn cứ của việc yêu cầu đình chỉ thực hiện hợp đồng.
Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được văn bản
đề nghị, Thẩm phán được phân công giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản
doanh nghiệp, hợp tác xã phải xem xét, giải quyết yêu cầu này, nếu chấp
nhận thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ thực hiện hợp đồng; nếu không
chấp nhận thì thông báo cho người đề nghị biết.
Mục 1 Phần IV Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP ngày
28-4-2005 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi
hành một số quy định của Luật Phá sản năm 2004 hướng dẫn:
“2.1. Khi chủ nợ, doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản, Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản nhận thấy
việc đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực có lợi hơn về mặt tài
sản (vật chất) cho doanh nghiệp, hợp tác xã, thì có văn bản yêu cầu Toà
án ra quyết định đình chỉ thực hiện hợp đồng đó. Kèm theo văn bản yêu
cầu là các giấy tờ, tài liệu chứng minh cho việc đình chỉ thực hiện hợp
đồng đang có hiệu lực là có lợi hơn về mặt tài sản (vật chất) cho doanh
nghiệp, hợp tác xã.
2.2. Việc xác định tính có lợi hơn cho doanh nghiệp, hợp tác xã trong việc đình chỉ thực hiện hợp đồng được thực hiện như sau:
a) Tạm tính các khoản lỗ, thiệt hại mà doanh nghiệp, hợp tác xã phải gánh chịu nếu phải tiếp tục thực hiện hợp đồng;
b) Tạm tính các thiệt hại tài sản (với tư cách là
hậu quả pháp lý xấu) mà doanh nghiệp, hợp tác xã phải gánh chịu nếu đơn
phương đình chỉ thực hiện hợp đồng;
c) Nếu các thiệt hại tạm tính được hướng dẫn tại
điểm b nhỏ hơn các thiệt hại được hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.2 này,
thì được coi là có lợi hơn cho doanh nghiệp.
2.3. Sau khi nhận được văn bản yêu cầu và các giấy tờ, tài liệu chứng minh
cho việc đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực có lợi hơn về mặt
tài sản (vật chất) cho doanh nghiệp, hợp tác xã, thì Thẩm phán phải xem
xét ngay. Nếu xét thấy văn bản yêu cầu có căn cứ, thì chấp nhận và ra
ngay quyết định đình chỉ thực hiện hợp đồng. Nếu xét thấy văn bản yêu
cầu không có căn cứ, thì không chấp nhận và thông báo cho người có yêu cầu biết.”
Quyết định của Thẩm phán có hiệu lực thi hành, pháp
luật không quy định quyền kháng cáo, kháng nghị đối với những quyết định
này.
c. Hậu quả pháp lý của việc đình chỉ thực hiện hợp đồng
Những hợp đồng đang được thực hiện hoặc đã thực hiện
xong việc giao hàng nhưng chưa được thanh toán thì được xử lý tài sản.
Tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản đã
nhận được từ việc thực hiện hợp đồng vẫn còn tồn tại trong khối tài sản
của doanh nghiệp, hợp tác xã đó thì bên kia của hợp đồng có quyền đòi
lại; nếu tài sản đó không còn thì bên kia của hợp đồng có quyền như một
chủ nợ không có bảo đảm, được ghi tên vào danh sách chủ nợ và tham gia
giải quyết theo thủ tục chung về phá sản. Không thể hoàn trả được tài
sản đã nhận bằng hiện vật trong các trường hợp sau đây: đã được đưa vào
khai thác, sử dụng; đã bị mất mát, hư hỏng; đã được chuyển giao cho
người khác và đã được đưa vào khai thác, sử dụng hoặc bị mất mát, hư
hỏng hoặc quá thời hạn sử dụng; không còn giữ được chất lượng, chức
năng, công dụng của tài sản mà do lỗi của bên nhận tài sản (ví dụ: người
nhận được tài sản không bảo quản theo đúng quy định); đã bị mất mát một
hoặc một số bộ phận nào đó của tài sản mà không thể khôi phục lại được
theo nguyên trạng khi nhận.
Trường hợp hợp đồng bị đình chỉ thực hiện thì bên kia
của hợp đồng có quyền như một chủ nợ không có bảo đảm đối với khoản
thiệt hại do việc đình chỉ thực hiện hợp đồng gây ra.
3. Bù trừ nghĩa vụ
Luật Phá sản năm 2004 quy định, chủ nợ và doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản được thực hiện việc bù trừ
nghĩa vụ đối với những giao dịch được xác lập trước khi có quyết định
mở thủ tục phá sản theo các nguyên tắc:
- Trường hợp hai bên có nghĩa vụ với nhau về tài sản
cùng loại thì khi đến hạn không phải thực hiện nghĩa vụ đối với nhau và
nghĩa vụ được xem là chấm dứt, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác;
- Trường hợp giá trị tài sản hoặc công việc không
tương đương với nhau thì các bên thanh toán cho nhau phần giá trị chênh
lệch;
- Những vật được định giá thành tiền được bù trừ
nghĩa vụ trả tiền. Trong trường hợp này, nếu phần chênh lệch được thanh
toán thuộc phía chủ nợ thì chủ nợ được đăng ký vào danh sách với tư cách
chủ nợ không có bảo đảm, nếu ngược lại số chênh lệch sẽ được ghi vào
danh sách khoản nợ phải thu và được giải quyết theo thủ tục chung.
Tuy nhiên, cũng cầm xem xét tính hợp pháp của những
giao dịch này, chỉ những giao dịch không bị tuyên bố vô hiệu và không bị
đình chỉ thực hiện mới được xem xét khả năng thực hiện bù trừ.
4. Kiểm kê tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được
quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản phải tiến hành kiểm kê toàn bộ tài sản theo bảng kê chi
tiết đã nộp cho Toà án và xác định giá trị các tài sản đó. Thủ tục và
thành phần kiểm kê phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Nếu
doanh nghiệp, hợp tác xã cần có thời gian dài hơn thì phải có văn bản đề
nghị Thẩm phán gia hạn, nhưng không quá hai lần, mỗi lần không quá ba
mươi ngày.
Bảng kiểm kê tài sản đã được xác định giá trị do
doanh nghiệp, hợp tác xã tiến hành phải gửi ngay cho Toà án tiến hành
thủ tục phá sản.
Trong trường hợp xét thấy việc kiểm kê, xác định giá
trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã là không chính xác thì Tổ quản
lý, thanh lý tài sản tổ chức kiểm kê, xác định lại giá trị một phần hoặc
toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã. Giá trị tài sản được xác
định theo giá thị trường tại thời điểm kiểm kê. Chi phí kiểm kê tài sản,
định giá tài sản được tính vào chi phí phá sản theo quy định chung.
5. Lập danh sách chủ nợ, người mắc nợ và tổng số nợ phải trả, nợ phải đòi
a. Gửi giấy đòi nợ
Theo quy định tại Điều 29 Luật Phá sản năm 2004 thì
quyết định của Toà án về mở thủ tục phá sản được gửi cho doanh nghiệp,
hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, Viện kiểm sát cùng cấp và đăng
trên báo địa phương nơi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá
sản có địa chỉ chính, báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên
tiếp. Quyết định của Toà án về mở thủ tục phá sản phải được thông báo
cho các chủ nợ, những người mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản. Thời hạn gửi và thông báo quyết định mở thủ tục phá
sản là bảy ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định.
Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày cuối cùng
đăng báo về quyết định của Toà án mở thủ tục phá sản, các chủ nợ phải
gửi giấy đòi nợ cho Toà án, trong đó nêu cụ thể các khoản nợ, số nợ đến
hạn và chưa đến hạn, số nợ có bảo đảm và không có bảo đảm mà doanh
nghiệp, hợp tác xã phải trả. Kèm theo giấy đòi nợ là các tài liệu chứng
minh về các khoản nợ đó. Hết thời hạn này các chủ nợ không gửi giấy đòi
nợ đến Toà án thì được coi là từ bỏ quyền đòi nợ.
Trong trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc có trở
ngại khách quan thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc có trở ngại
khách quan không tính vào thời hạn sáu mươi ngày kể từ ngày cuối cùng
đăng báo về quyết định của Toà án mở thủ tục phá sản.
Theo hướng dẫn tại Mục 3 Phần IV Nghị quyết số
03/2005/NQ-HĐTP ngày 28-4-2005 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân
tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Phá sản năm 2004 thì
ngày cuối cùng đăng báo về quyết định mở thủ tục phá sản của Toà án là
ngày sau cùng đăng một trong hai báo mà không phân biệt báo đó là báo
địa phương hay báo trung ương.
Ví dụ: Quyết định mở thủ tục phá sản của Toà án được
đăng trên báo địa phương trong ba số liên tiếp vào các ngày 02, 04 và
06-3-2005; được đăng trên báo trung ương trong ba số liên tiếp vào các
ngày 02, 03 và 04-3-2005, thì ngày cuối cùng đăng báo là ngày 06-3-2005.
b. Lập danh sách chủ nợ
Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày hết hạn gửi
giấy đòi nợ, Tổ quản lý, thanh lý tài sản phải lập xong danh sách chủ nợ
và số nợ. Trong danh sách này phải ghi rõ số nợ của mỗi chủ nợ, trong
đó phân định rõ các khoản nợ có bảo đảm, nợ không có bảo đảm, nợ đến
hạn, nợ chưa đến hạn.
Danh sách chủ nợ phải được niêm yết công khai tại trụ
sở Toà án tiến hành thủ tục phá sản và trụ sở chính của doanh nghiệp,
hợp tác xã trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày niêm yết. Trong thời hạn
này, các chủ nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
có quyền khiếu nại với Toà án về danh sách chủ nợ. Trong trường hợp có
sự kiện bất khả kháng hoặc có trở ngại khách quan thì thời gian có sự
kiện bất khả kháng hoặc có trở ngại khách quan không tính vào thời hạn
mười ngày quy định tại khoản này.
Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được khiếu
nại, Toà án phải xem xét, giải quyết khiếu nại; nếu thấy khiếu nại có
căn cứ thì sửa đổi, bổ sung vào danh sách chủ nợ.
c. Lập danh sách người mắc nợ
Tổ quản lý, thanh lý tài sản phải lập danh sách những
người mắc nợ doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Trong
danh sách này phải ghi rõ số nợ của mỗi người mắc nợ, trong đó phân
định rõ các khoản nợ có bảo đảm, nợ không có bảo đảm, nợ đến hạn, nợ
chưa đến hạn.
Danh sách người mắc nợ phải được niêm yết công khai
tại trụ sở Toà án tiến hành thủ tục phá sản và trụ sở chính của doanh
nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày niêm yết. Trong
thời hạn này, người mắc nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản có quyền khiếu nại với Toà án về danh sách người mắc nợ.
Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được khiếu
nại, Toà án phải xem xét, giải quyết khiếu nại; nếu thấy khiếu nại có
căn cứ thì sửa đổi, bổ sung vào danh sách người mắc nợ.
6. Đăng ký giao dịch bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
Doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
cho người khác vay tài sản có bảo đảm phải đăng ký theo quy định của
pháp luật nhưng chưa đăng ký thì Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản
phải thực hiện ngay việc đăng ký giao dịch bảo đảm đó.
Việc đăng ký giao dịch bảo đảm sẽ tạo cơ sở pháp lý
thiết lập quyền ưu tiên thanh toán tài sản đó đối với người thứ ba. Nếu
xét thấy các hợp đồng cho vay là hợp pháp, ngay thẳng nhưng chưa được
hoàn thành thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm thì Tổ trưởng Tổ quản lý,
thanh lý tài sản phải thực hiện ngay việc đăng ký giao dịch bảo đảm đó.
7. Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
a. Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trong trường hợp cần thiết theo đề nghị của Tổ quản
lý, thanh lý tài sản, Thẩm phán phụ trách tiến hành thủ tục phá sản ra
quyết định áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời sau đây
để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá
sản:
- Cho bán những hàng hoá dễ bị hư hỏng, hàng hoá sắp
hết thời hạn sử dụng, hàng hoá không bán đúng thời điểm sẽ khó có khả
năng tiêu thụ;
- Kê biên, niêm phong tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;
- Phong toả tài khoản của doanh nghiệp, hợp tác xã tại ngân hàng;
- Niêm phong kho, quỹ, thu giữ và quản lý sổ kế toán, tài liệu liên quan của doanh nghiệp, hợp tác xã;
- Cấm hoặc buộc doanh nghiệp, hợp tác xã, cá nhân, tổ chức khác có liên quan thực hiện một số hành vi nhất định.
Khi xét thấy cần bảo toàn tài sản của doanh nghiệp,
hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, thì Tổ quản lý, thanh lý tài sản
phải có văn bản đề nghị Thẩm phán phụ trách tiến hành thủ tục phá sản ra
quyết định áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định
tại Điều 55 Luật Phá sản năm 2004. Văn bản đề nghị phải ghi cụ thể loại
biện pháp khẩn cấp tạm thời cần áp dụng, đối tượng áp dụng và lý do áp
dụng.
Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải nhằm
mục đích bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản, nhưng không được làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định tại Điều 30 của Luật Phá sản
năm 2004.
b. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Điều 56 Luật Phá sản năm 2004 quy định trong thời hạn
ba ngày, kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời của Toà án, người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có quyền
khiếu nại với Chánh án Toà án. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận
được đơn khiếu nại đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời, Chánh án Toà án phải ra một trong các quyết định sau đây:
- Giữ nguyên quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
- Huỷ một phần hoặc toàn bộ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Việc Chánh án Toà án có chấp nhận hay không chấp nhận
yêu cầu của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là tùy thuộc
vào sự xem xét, đánh giá của Chánh án Toà án.
8. Đình chỉ thi hành án dân sự hoặc giải quyết vụ án, giải quyết vụ án bị đình chỉ trong thủ tục phá sản
a. Đình chỉ thi hành án dân sự hoặc giải quyết vụ án
Việc đình chỉ thi hành án dân sự hoặc giải quyết vụ
án được quy định tại Điều 57 của Luật Phá sản năm 2004. Theo đó kể từ
ngày Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản, việc thi hành án dân sự về
tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là người
phải thi hành án phải được đình chỉ.
Người được thi hành án có quyền nộp đơn cho Toà án
yêu cầu được thanh toán trong khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
như một chủ nợ không có bảo đảm hoặc như một chủ nợ có bảo đảm, nếu có
bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật kê biên tài sản
của doanh nghiệp, hợp tác xã để bảo đảm thi hành án.
Kể từ ngày Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản,
việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ tài sản mà doanh nghiệp,
hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án đó phải bị đình chỉ. Toà án
ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án phải chuyển hồ sơ vụ án đó
cho Toà án đang tiến hành thủ tục phá sản để giải quyết.
b. Giải quyết vụ án bị đình chỉ trong thủ tục phá sản
Việc giải quyết vụ án bị đình chỉ trong thủ tục phá
sản được thực hiện theo quy định tại Điều 58 của Luật Phá sản năm 2004
như sau: ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án do Toà án ra quyết định đình
chỉ việc giải quyết vụ án chuyển đến, Toà án đang tiến hành thủ tục phá
sản phải xem xét, quyết định nghĩa vụ tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác
xã lâm vào tình trạng phá sản phải thực hiện hoặc nghĩa vụ tài sản mà
bên đương sự phải thực hiện đối với doanh nghiệp, hợp tác xã.
Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản thì người được doanh
nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ về tài sản có quyền yêu cầu được
thanh toán trong khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã như một chủ
nợ không có bảo đảm.
Trường hợp bên đương sự phải thực hiện nghĩa vụ về
tài sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì
phải thanh toán cho doanh nghiệp, hợp tác xã giá trị tương ứng với nghĩa
vụ tài sản đó.
9. Nghĩa vụ của ngân hàng nơi doanh nghiệp, hợp tác xã có tài khoản
Kể từ ngày nhận được quyết định của Toà án áp dụng
thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, nghiêm cấm ngân hàng
nơi doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý có tài khoản
thực hiện các hành vi sau đây:
- Thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp, hợp tác
xã, trừ việc thanh toán được Thẩm phán phụ trách tiến hành thủ tục phá
sản đồng ý bằng văn bản;
- Thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm bù trừ hoặc thanh toán các khoản doanh nghiệp, hợp tác xã vay của ngân hàng.
Việc cấm ngân hàng nơi doanh nghiệp, hợp tác xã có
tài sản thực hiện việc thanh toán các khoản nợ mà không có sự đồng ý
bằng văn bản của Thẩm phán hoặc thực hiện thanh toán bù trừ các khoản
vay của ngân hàng là quy định hợp lý. Quy định này nhằm ngăn ngừa việc
ngân hàng lợi dụng vị thế của mình để thực hiện các giao dịch có lợi cho
mình hoặc chủ nợ khác nhằm tẩu tán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
lâm vào tình trạng phá sản. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã
có khoản vay có bảo đảm với ngân hàng, thì ngân hàng cũng chỉ được quyền
ưu tiên thanh toán đối với tài sản bảo đảm đó theo đúng quy định của
pháp luật.
10. Nghĩa vụ của nhân viên và người lao động
Ngay sau khi nhận được quyết định mở thủ tục phá sản,
doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản phải thông báo công
khai cho tất cả nhân viên và người lao động của mình biết.
Kể từ khi được thông báo, tất cả nhân viên và người
lao động phải có nghĩa vụ bảo vệ tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã,
không được thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm che giấu, tẩu tán hoặc
chuyển nhượng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.
Quy định nghĩa vụ bảo vệ tài sản của nhân viên và
người lao động đối với doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá
sản nhằm bảo vệ những tài sản hữu hình của doanh nghiệp, hợp tác xã
tránh việc tẩu tán, hư hỏng hoặc làm mất mát tài sản phá sản.
11. Một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định về các biện pháp bảo toàn tài sản
a. Về vấn đề thu hồi và quản lý tài sản phá sản
- Nghiên cứu việc tăng quyền cho Thẩm phán, nhất là
trong việc xử lý những khoản nợ nhỏ mà chi phí cho việc đòi nợ bằng hoặc
ít hơn khoản nợ không nhiều, thì Thẩm phán có quyền xem xét miễn đòi.
Riêng những khoản nợ khó đòi cần quy định điều kiện để Thẩm phán xem xét
trình Hội nghị chủ nợ giảm nợ. Có như vậy mới có lối thoát cho những
khoản nợ nhỏ không đáng gì và những khoản nợ khó đòi đã kéo dài nhiều
năm.
- Bổ sung quy định của Luật Phá sản năm 2004 về xử lý
tài sản phá sản ở nước ngoài. Hiện nay, trên thế giới có hai khuynh
hướng quy định về vấn đề này:
Một là không công nhận phán quyết giải quyết vụ phá
sản của toà án nước ngoài hoặc không thừa nhận quyền thu hồi tài sản ở
lãnh thổ nước sở tại của người quản lý tài sản của một nước khác ngoại
trừ trường hợp điều ước quốc tế có quy định riêng.
Hai là, công nhận một phần hoặc toàn bộ các phán
quyết của Toà án nước ngoài như: công nhận ngay lập tức mà không cần
thực hiện bất kỳ một thủ tục tư pháp hay hành chính nào; thủ tục công
nhận trên cơ sở có đi có lại (Pháp, Hy Lạp, Ý); thủ tục công nhận trên
cơ sở không có đi có lại (Mêhicô, Panama và Côlômbia) và việc công nhận
chỉ giới hạn trong việc thu hồi tài sản (Hà Lan, Thuỵ Điển).
b. Sửa đổi quy định về tạm đình chỉ và đình chỉ
thi hành án dân sự hoặc giải quyết vụ án (Điều 27 và Điều 57 Luật Phá
sản năm 2004)
- Việc quy định cần phải tạm đình chỉ thi hành tất cả
các bản án đã có hiệu lực pháp luật từ ngày Toà án thụ lý đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản là cứng nhắc, không bảo đảm lợi ích chính đáng của
một số chủ nợ có liên quan đến việc giải quyết phá sản.
Theo khoản 1 Điều 27 thì kể từ thời điểm Toà án thụ
lý đơn yêu cầu giải quyết phá sản, tất cả các bản án mà theo đó doanh
nghiệp mắc nợ có nghĩa vụ thi hành đều bị tạm đình chỉ. Quy định như
vậy, về cơ bản là đúng nhưng còn cứng nhắc, không hợp lý trong một số
trường hợp, không phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam cũng như
thông lệ của pháp luật nhiều nước trên thế giới.
Xuất phát từ địa vị pháp lý, khả năng kinh tế cũng
như nhu cầu phải có sự ứng xử một cách đặc biệt đối với một số chủ nợ
nên Luật Phá sản năm 2004 của nhiều nước đều có quy định, theo đó, đối
với một số bản án, nhất là các bản án mà người được thi hành là các cá
nhân bị doanh nghiệp mắc nợ gây thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng, danh
dự; các bản án Toà án yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ phải trả
lại tài sản cho người khác do tài sản này đã bị doanh nghiệp mắc nợ
chiếm hữu một cách bất hợp pháp… đều được thi hành mà không bị tạm đình
chỉ. Quy định này cũng rất phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam, vì vậy,
rất đáng được xem xét, tiếp thu. Trong tương lai, để phù hợp với tình
hình thực tế có thể xảy ra cũng như để bảo vệ lợi ích chính đáng của một
số chủ thể có tình trạng pháp lý đặc biệt, nên sửa lại khoản 1 Điều 27
Luật Phá sản năm 2004 như sau:
“Kể từ ngày Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản, việc giải quyết các yêu cầu sau đây đòi doanh nghiệp, Hợp tác
xã lâm vào tình trạng phá sản thực hiện nghĩa vụ về tài sản phải tạm
đình chỉ:
1. Thi hành án dân sự về tài sản mà doanh nghiệp,
hợp tác xã là người phải thi hành, trừ các bản án mà người được thi hành
là cá nhân đã bị doanh nghiệp mắc nợ gây thiệt hại về tính mạng, sức
khoẻ, danh dự và các bản án mà theo đó, doanh nghiệp mắc nợ có nghĩa vụ
phải trả lại tài sản do mình đã chiếm hữu của người khác một cách bất
hợp pháp.
2. …”.
c. Kiến nghị bổ sung quy định về giải quyết tranh
chấp có liên quan đến nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản
Theo quy định tại khoản 2 Điều 57 của Luật Phá sản
năm 2004 thì kể từ ngày Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản, việc
giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ tài sản mà doanh nghiệp, hợp
tác xã là một bên đương sự trong vụ án đó phải bị đình chỉ. Toà án ra
quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án phải chuyển hồ sơ vụ án đó cho
Toà án đang tiến hành thủ tục phá sản để giải quyết. Như vậy, Toà án
đang giải quyết vụ phá sản phải giải quyết cả các tranh chấp có liên
quan đến nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác xã để xác định nghĩa vụ về
tài sản của doanh nghiệp hợp tác xã theo quy định tại Điều 33 Luật Phá
sản năm 2004 trước khi tiến hành thủ tục thanh lý tài sản. Quy định như
vậy vô hình trung đã tạo thêm nghĩa vụ giải quyết vụ tranh chấp cho Thẩm
phán đang phụ trách giải quyết vụ phá sản. Tuy nhiên, các quy định về
các vấn đề liên quan đến vụ tranh chấp cũng như hậu quả pháp lý của việc
giải quyết của Thẩm phán tiến hành giải quyết vụ tranh chấp lại không
được quy định cụ thể trong Luật Phá sản năm 2004. Thiết nghĩ trong thời
gian tới, khi tiến hành sửa đổi, bổ sung Luật Phá sản năm 2004 cần
nghiên cứu để bổ sung các quy định về trường hợp này để đảm bảo giá trị
pháp lý của việc giải quyết của Thẩm phán.
Theo quy định tại Điều 77 của Luật Phá sản năm 2004,
việc ra quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt dộng kinh doanh dẫn
đến một hậu qủa pháp lý rất quan trọng là doanh nghiệp đó được coi không
còn lâm vào tình trạng phá sản. Sau khi doanh nghiệp thoát khỏi lâm vào
tình trạng phá sản, nếu việc thi hành án dân sự chưa được thi hành thì
doanh nghiệp sẽ tiếp tục phải thực hiện những nghĩa vụ thi hành án dân
sự bị đình chỉ do áp dụng thủ tục phục hồi. Mặt khác, việc giải quyết
những vụ án bị đình chỉ theo Điều 57 của Luật Phá sản năm 2004 mà chưa
được giải quyết thì ngay sau khi ra quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc giải quyết vụ án lại được
tiếp tục và doanh nghiệp lại tiếp tục là đương sự của vụ án đó.
Tại tiểu mục 11.3 Mục 11 Phần II Nghị quyết số
02/2006/NQ-HĐTP ngày 12-5-2006 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân
tối cao hướng dẫn: “Trường hợp quyết định đình chỉ vụ án quy định tại
điểm g khoản 1 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 77
của Luật Phá sản năm 2004, nếu sau đó Toà án ra quyết định đình chỉ thủ
tục phục hồi hoạt động kinh doanh gửi trả lại hồ sơ vụ án cho Toà án có
thẩm quyền, thì Toà án đó tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung”.
Thực tế tại các Toà án địa phương, do nhận thức vấn
đề này không giống nhau nên đã thực hiện quy định này chưa có sự thống
nhất. Cụ thể là:
Có địa phương cho rằng, phải thực hiện đúng câu chữ
của hướng dẫn trên, nghĩa là sau khi được trả lại hồ sơ vụ án cùng với
quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của Toà án
giải quyết phá sản, Toà án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
theo điểm g khoản 1 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự đương nhiên phải
khôi phục lại vụ án và tiếp tục giải quyết vụ án mà không cần làm lại
thủ tục thụ lý vụ án. Nguyên đơn không phải làm lại thủ tục khởi kiện và
cũng không phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm.
Một số địa phương khác cho rằng, sau khi đã có quyết
định đình chỉ giải quyết vụ án, muốn được Toà án giải quyết lại vụ án đó
thì nguyên đơn phải làm đơn khởi kiện lại theo quy định tại khoản 1
Điều 193 của Bộ luật tố tụng dân sự và phải làm lại thủ tục thụ lý vụ án
như một vụ án mới, trong đó có việc phải nộp lại tiền tạm ứng án phí sơ
thẩm (tạm ứng án phí sơ thẩm lần trước đã bị nộp vào công quỹ Nhà nước
theo quy định tại khoản 2 Điều 193 của Bộ luật tố tụng dân sự).
III. HỘI NGHỊ CHỦ NỢ
1. Triệu tập Hội nghị chủ nợ
Hội nghị chủ nợ được thành lập theo quy định tại Điều
61 của Luật Phá sản năm 2004. Trường hợp việc kiểm kê tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản kết thúc trước ngày lập
xong danh sách chủ nợ thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày lập
xong danh sách chủ nợ, Thẩm phán phải triệu tập Hội nghị chủ nợ; nếu
việc kiểm kê tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã kết thúc sau ngày lập
xong danh sách chủ nợ thì thời hạn này tính từ ngày kiểm kê xong tài sản
của doanh nghiệp, hợp tác xã.
Các Hội nghị chủ nợ tiếp theo có thể được Thẩm phán
triệu tập vào bất kỳ ngày làm việc nào trong quá trình tiến hành thủ tục
phá sản theo đề nghị của Tổ quản lý, thanh lý tài sản hoặc của các chủ
nợ đại diện cho ít nhất một phần ba tổng số nợ không có bảo đảm.
Giấy triệu tập Hội nghị chủ nợ phải được gửi cho
người có quyền tham gia Hội nghị chủ nợ và người có nghĩa vụ tham gia
Hội nghị chủ nợ quy định tại Điều 62 và Điều 63 của Luật Phá sản năm
2004, chậm nhất là mười lăm ngày trước ngày khai mạc Hội nghị. Kèm theo
giấy triệu tập Hội nghị phải có chương trình, nội dung của Hội nghị và
các tài liệu khác, nếu có.
Hội nghị chủ nợ do Thẩm phán phụ trách tiến hành thủ tục phá sản chủ trì.
2. Quyền và nghĩa vụ tham gia hội nghị chủ nợ
Điều 62 của Luật Phá sản năm 2004 quy định về quyền
tham gia hội nghị chủ nợ. Quy định này có thể được hiểu là nếu những
người có quyền tham gia hội nghị chủ nợ quy định tại Điều 62 của Luật
Phá sản năm 2004 mà không tham gia hội nghị chủ nợ thì mất quyền của chủ
nợ và sẽ chịu hậu quả là mất quyền được thanh toán những nghĩa vụ về
tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ phải thực hiện. Theo quy
định tại Điều 62 của Luật Phá sản năm 2004 thì những người sau đây có
quyền tham gia Hội nghị chủ nợ:
- Các chủ nợ có tên trong danh sách chủ nợ. Chủ nợ có
thể uỷ quyền bằng văn bản cho người khác tham gia Hội nghị chủ nợ và
người được uỷ quyền có quyền, nghĩa vụ như chủ nợ;
- Đại diện cho người lao động, đại diện công đoàn
được người lao động uỷ quyền. Trong trường hợp này đại diện cho người
lao động, đại diện công đoàn có quyền, nghĩa vụ như chủ nợ;
- Người bảo lãnh sau khi đã trả nợ thay cho doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Trong trường hợp này họ
trở thành chủ nợ không có bảo đảm.
Điều 63 của Luật Phá sản năm 2004 quy định về nghĩa
vụ tham gia Hội nghị chủ nợ, theo đó người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản quy định tại các điều 15, 16, 17 và 18 của Luật Phá sản năm 2004
có nghĩa vụ tham gia Hội nghị chủ nợ; trường hợp không tham gia được
thì phải uỷ quyền bằng văn bản cho người khác tham gia Hội nghị chủ nợ.
Người được uỷ quyền có quyền, nghĩa vụ như người uỷ quyền nếu họ tham
gia Hội nghị chủ nợ; đối với doanh nghiệp tư nhân mà chủ doanh nghiệp tư
nhân đã chết thì người thừa kế hợp pháp của chủ doanh nghiệp đó tham
gia Hội nghị chủ nợ.
Trường hợp không có người đại diện cho doanh nghiệp,
hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản quy định tại khoản 1 Điều này tham
gia Hội nghị chủ nợ thì Thẩm phán phụ trách tiến hành thủ tục phá sản
chỉ định người đại diện cho doanh nghiệp, hợp tác xã đó tham gia Hội
nghị chủ nợ.
Cần phân biệt là đối với những người quy định tại
Điều 62 của Luật Phá sản năm 2004 thì việc tham gia Hội nghị chủ nợ là
quyền của họ, còn đối với những người quy định tại Điều 63 của Luật Phá
sản năm 2004 thì việc tham gia Hội nghị chủ nợ là nghĩa vụ của họ. Việc
phân biệt này để xác định điều kiện hợp lệ của Hội nghị chủ nợ, hoãn Hội
nghị chủ nợ và đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản quy định tại các điều
65, 66 và 67 của Luật Phá sản năm 2004.
Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản không có người đại diện quy định tại khoản 1 Điều 63
của Luật Phá sản năm 2004 tham gia Hội nghị chủ nợ, thì Thẩm phán phụ
trách tiến hành thủ tục phá sản chỉ định người đại diện cho doanh
nghiệp, hợp tác xã tham gia Hội nghị chủ nợ. Khi chỉ định người đại diện
cho doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia Hội nghị chủ nợ, Thẩm phán cần
lựa chọn người am hiểu công việc, hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã
bị lâm vào tình trạng phá sản và về nguyên tắc chung cần chỉ định theo
thứ tự chức vụ từ người có chức vụ ngay sau người đại diện hợp pháp của
doanh nghiệp, hợp tác xã trở xuống. Đối với doanh nghiệp tư nhân mà chủ
doanh nghiệp tư nhân đã chết và cũng không có người thừa kế hợp pháp của
chủ doanh nghiệp, thì cần chỉ định người thân thích của chủ doanh
nghiệp đó.
3. Nội dung Hội nghị chủ nợ
Nội dung của Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất bao gồm những nội dung sau đây:
- Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản thông báo
cho Hội nghị chủ nợ về tình hình kinh doanh, thực trạng tài chính của
doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản; kết quả kiểm kê tài
sản, danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ và các nội dung khác nếu
xét thấy cần thiết;
- Chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện hợp pháp của
doanh nghiệp, hợp tác xã trình bày ý kiến về các nội dung do Tổ trưởng
Tổ quản lý, thanh lý tài sản đã thông báo cho Hội nghị, đề xuất phương
án, giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, khả năng và thời hạn
thanh toán nợ;
- Hội nghị chủ nợ thảo luận về các nội dung do Tổ
trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản đã thông báo và các ý kiến của chủ
doanh nghiệp, đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã;
- Hội nghị chủ nợ thông qua Nghị quyết. Nghị quyết
được lập thành văn bản và phải được quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm
có mặt tại Hội nghị đại diện cho từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo
đảm trở lên thông qua. Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ có hiệu lực ràng
buộc đối với tất cả các chủ nợ;
- Trường hợp Hội nghị chủ nợ xét thấy phải thay người
đại diện cho các chủ nợ trong thành phần Tổ quản lý, thanh lý tài sản
thì Hội nghị bầu người thay thế;
- Đề nghị Thẩm phán ra quyết định cử người quản lý và
điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản.
Trường hợp cần phải tổ chức Hội nghị chủ nợ tiếp theo
thì chương trình, nội dung của Hội nghị tiếp theo do Thẩm phán phụ
trách tiến hành thủ tục phá sản quyết định theo đề nghị của Tổ quản lý,
thanh lý tài sản hoặc của các chủ nợ đại diện cho ít nhất một phần ba
tổng số nợ không có bảo đảm.
4. Điều kiện hợp lệ của Hội nghị chủ nợ, hoãn Hội nghị chủ nợ
Hội nghị chủ nợ chỉ hợp lệ khi đáp ứng đầy đủ các
điều kiện quy định tại Điều 65 Luật Phá sản năm 2004, cụ thể Hội nghị
chủ nợ chỉ hợp lệ khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:
- Quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên tham gia;
- Có sự tham gia của người có nghĩa vụ tham gia Hội nghị chủ nợ quy định tại Điều 63 của Luật này.
Thủ tục hoãn Hội nghị chủ nợ lần đầu tiên được quy
định tại Điều 66 Luật Phá sản năm 2004. Hội nghị chủ nợ có thể được hoãn
một lần nếu có một trong các trường hợp sau đây:
- Không đủ quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên tham gia;
- Quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm có mặt tại Hội nghị chủ nợ biểu quyết đề nghị hoãn Hội nghị chủ nợ;
- Người có nghĩa vụ tham gia Hội nghị chủ nợ quy định tại Điều 63 của Luật Phá sản năm 2004 vắng mặt có lý do chính đáng.
Trường hợp Thẩm phán ra quyết định hoãn Hội nghị chủ
nợ thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn Hội
nghị chủ nợ, Thẩm phán phải triệu tập lại Hội nghị chủ nợ. Trường hợp
Thẩm phán triệu tập lại Hội nghị chủ nợ nhưng vẫn không đủ điều kiện hợp
lệ của Hội nghị chủ nợ quy định tại Điều 65 Luật Phá sản năm 2004 thì
Thẩm phán sẽ tiến hành đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản theo quy định
tại Điều 67 Luật Phá sản năm 2004.
5. Đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản khi có người tham gia Hội nghị chủ nợ vắng mặt
Thẩm phán ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục
phá sản khi có người tham gia Hội nghị chủ nợ vắng mặt trong những
trường hợp sau đây:
- Sau khi Hội nghị chủ nợ đã được hoãn một lần, nếu
người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là chủ nợ và người lao động
không tham gia Hội nghị chủ nợ được triệu tập lại;
- Trường hợp chỉ có doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ sở
hữu doanh nghiệp nhà nước, cổ đông công ty cổ phần, thành viên hợp danh
nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà người có nghĩa vụ tham gia Hội
nghị chủ nợ là doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ sở hữu doanh nghiệp nhà
nước, cổ đông công ty cổ phần, thành viên hợp danh không đến tham gia
Hội nghị chủ nợ mà không có lý do chính đáng;
- Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản rút lại
đơn yêu cầu; nếu chủ nợ, người lao động, doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ
sở hữu doanh nghiệp nhà nước, cổ đông công ty cổ phần, thành viên hợp
danh nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà chỉ có một hoặc một số người
rút lại đơn yêu cầu thì Toà án vẫn tiến hành thủ tục phá sản.
6. Một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định về Hội nghị chủ nợ
a. Về triệu tập Hội nghị chủ nợ
Luật Phá sản năm 2004 có quy định cơ chế chủ nợ tham
gia giải quyết phá sản thông qua một thiết chế là Hội nghị chủ nợ. Hội
nghị chủ nợ là cơ quan quyền lực cao nhất của các chủ nợ, bao gồm các
chủ nợ có tên trong danh sách chủ nợ, đại diện cho người lao động hoặc
đại diện công đoàn được người lao động uỷ quyền; có quyền quyết định
những vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ nợ.
Tuy nhiên, theo tinh thần quy định tại Luật Phá sản
năm 2004 thì Hội nghị chủ nợ lại do Thẩm phán triệu tập và chỉ có các
chủ nợ đại diện cho ít nhất một phần ba tổng số nợ không có bảo đảm mới
có quyền yêu cầu Thẩm phán triệu tập Hội nghị chủ nợ để quyết định các
vấn đề liên quan đến chủ nợ, doanh nghiệp mắc nợ. Quy định như vậy đã
không tạo điều kiện cho Hội nghị chủ nợ hoạt động một cách thường xuyên,
kịp thời để giải quyết các vấn đề liên quan đến các quyền, lợi chính
đáng của mình. Thực tế cho thấy, do không tổ chức được một cách kịp thời
Hội nghị chủ nợ nên Thẩm phán đã không có căn cứ để ra các quyết định,
trong đó, có quyết định về thanh lý tài sản, một thủ tục rất quan trọng
của thủ tục phá sản và thi hành án dân sự. Vì vậy, cần phải có thêm có
chế mới để tháo gỡ khó khăn này.
b. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định về tổ chức Hội nghị chủ nợ và quyết định mở thủ tục thanh lý
Hội nghị chủ nợ có vai trò hết sức quan trọng trong
việc giúp doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản có thể
phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh. Hội nghị chủ nợ thảo luận, xem
xét, thông qua phương án, giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh,
khả năng và thời hạn thanh toán nợ trong doanh nghiệp, hợp tác xã lâm
vào tình trạng phá sản. Điều 64 Luật Phá sản năm 2004 quy định cụ thể
nội dung của Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất. Tại điểm d khoản 1 Điều 64
Luật Phá sản năm 2004 quy định: “Hội nghị chủ nợ thông qua Nghị
quyết. Nghị quyết được lập thành văn bản và phải được quá nửa số chủ nợ
không có bảo đảm có mặt tại Hội nghị đại diện cho từ hai phần ba tổng số
nợ không có bảo đảm trở lên thông qua. Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ
có hiệu lực ràng buộc đối với tất cả các chủ nợ”. Ngoài ra, các
trường hợp thanh lý tài sản được Luật Phá sản năm 2004 quy định tại các
điều: Điều 78 (trường hợp đặc biệt), Điều 79 (Hội nghị chủ nợ không
thành) và Điều 80 (Sau khi có Nghị quyết Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất
thông qua các giải pháp dự kiến tổ chức lại, kế hoạch thanh toán nợ)
nhưng doanh nghiệp không xây dựng được kế hoạch chính thức.
Tuy nhiên, thực tế xuất hiện trường hợp tại Hội nghị
chủ nợ lần thứ nhất mà doanh nghiệp, Hợp tác xã lâm vào tình trạng phá
sản không lập (do không có chủ trương lập) phương án, giải pháp tổ chức
lại hoạt động kinh doanh để trình Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất. Vậy
trong trường hợp này Thẩm phán có ra quyết định thanh lý tài sản không?
Nếu ra quyết định thanh lý tài sản thì căn cứ điều nào trong Luật Phá
sản năm 2004 để ra quyết định? Phải chăng Luật đã không quy định điều
kiện để ra quyết định thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
trong trường hợp nêu trên? Về vấn đề này hiện có hai quan điểm:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, theo điểm d khoản
1 Điều 64 Luật Phá sản năm 2004 thì nếu tại Hội nghị chủ nợ lần thứ
nhất, doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản không có dự
kiến, không lập phương án, giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh để
trình Hội nghị chủ nợ thì Hội nghị chủ nợ vẫn ra Nghị quyết về việc
thanh lý tài sản. Thẩm phán căn cứ vào Nghị quyết này ra quyết định
thanh lý tài sản.
Quan điểm thứ hai cho rằng, vì thủ tục thanh
lý tài sản quy định tại các Điều 78, 79 và 80 của Luật Phá sản năm 2004
không quy định điều kiện để ra quyết định thanh lý tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp nêu trên, nên Thẩm phán cần tổ chức
lại Hội nghị chủ nợ lần thứ hai và tiếp tục yêu cầu doanh nghiệp, hợp
tác xã lâm vào tình trạng phá sản phải có dự kiến, lập phương án, đề ra
giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh để trình Hội nghị chủ nợ lần
thứ hai. Tại Hội nghị chủ nợ lần thứ hai, nếu doanh nghiệp, hợp tác xã
lâm vào tình trạng phá sản không lập phương án, giải pháp tổ chức lại
hoạt động kinh doanh hoặc có phương án, giải pháp tổ chức lại hoạt động
kinh doanh để trình nhưng Hội nghị chủ nợ lần thứ hai không thông qua
thì mới ra quyết định thanh lý tài sản.
Chúng tôi tán thành quan điểm thứ hai, vì quan điểm
này vừa tạo thêm cơ hội, thời gian cho doanh nghiệp xây dựng phương án
và giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh nhằm khắc phục tình trạng
khó khăn của mình đồng thời cũng là việc áp dụng tương tự với quy định
của Điều 79 Luật Phá sản năm 2004 về trường hợp Hội nghị chủ nợ không
thành do doanh nghiệp không có mặt tại Hội nghị chủ nợ mà không có lý do
chính đáng.
c. Về sửa đổi, bổ sung Điều 67 Luật Phá sản năm
2004 quy định về việc đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản khi có người
vắng mặt tại Hội nghị chủ nợ và hậu quả của việc đình chỉ thủ tục phục
hồi và đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản
- Kể từ khi thụ lý đơn và quyết định mở thủ tục phá
sản doanh nghiệp đến khi triệu tập Hội nghị chủ nợ thì việc phá sản đã
được tiến hành gần như hoàn tất để có thể xác định doanh nghiệp có bị
phá sản hay không tức là có ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản
hay không. Việc đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản chỉ nên xem xét trong
trường hợp người nộp đơn xin mở thủ tục phá sản doanh nghiệp rút đơn
(mà không có người nào khác nộp đơn xin mở thủ tục phá sản nữa) trước
khi Hội nghị chủ nợ được triệu tập. Những trường hợp khác Toà án yêu cầu
họ cử đại diện, hoặc Toà án chỉ định người tham gia, nếu đến Hội nghị
chủ nợ họ vắng mặt thì quyền quyết định đình chỉ hay mở thủ tục thanh lý
tài sản không do Hội nghị chủ nợ quyết định. Như vậy đỡ lãng phí thời
gian, công sức và tiền bạc của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản.
- Về hậu quả của việc đình chỉ tiến hành thủ tục phá
sản theo Điều 67 Luật Phá sản năm 2004, chúng tôi cho rằng, khác với
việc đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đó
là khi doanh nghiệp về cơ bản đã khắc phục được tình trạng mất khả năng
thanh toán nợ đến hạn và hoạt động kinh doanh trở lại bình thường. Do
vậy, việc xác định hậu quả như quy định tại Điều 57 và Điều 77 Luật Phá
sản năm 2004 là hoàn toàn phù hợp. Trong khi đó, việc đình chỉ tiến hành
thủ tục phá sản theo quy định tại Điều 67 không đồng nghĩa với việc
doanh nghiệp đã khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến
hạn và trở lại hoạt động kinh doanh bình thường nên không thể áp dụng những quy
định tại Điều 57 và Điều 77 Luật Phá sản năm 2004. Vì vậy, cần phải bổ
sung vào sau Điều 67 một điều quy định về hậu quả pháp lý của việc đình
chỉ tiến hành thủ tục phá sản khi có người tham gia Hội nghị chủ nợ vắng
mặt, khi người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản rút đơn yêu cầu,
trong đó có quy định về việc tiếp tục giải quyết các vụ án đã bị đình
chỉ do mở thủ tục phá sản.
d. Về các trường hợp đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản
Điều 67 Luật Phá sản năm 2004 có quy định, Thẩm phán đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản trong trường hợp “Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản rút lại đơn yêu cầu”. Quy định này, theo chúng tôi là không hợp lý.
Thủ tục phá sản là phương thức đòi nợ đặc biệt của
các chủ nợ, việc Toà án mở thủ tục giải quyết phá sản trước hết là vì
lợi ích của các chủ nợ. Vì vậy, việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục giải
quyết phá sản doanh nghiệp là quyền chứ không phải là nghĩa vụ của các
chủ nợ. Đã là quyền thì sau khi nộp đơn, các chủ nợ hoàn toàn có quyền
rút đơn. Tuy nhiên, khác với việc đòi nợ theo thủ tục dân sự thông
thường, thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản sau khi đã được mở
thì việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp không còn chỉ
liên quan đến lợi ích của bản thân chủ nợ đã nộp đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản, mà liên quan đến lợi ích của toàn bộ các chủ nợ, người mắc nợ
của doanh nghiệp cũng như của bản thân doanh nghiệp. Chính vì lẽ đó,
quyền rút đơn của chủ nợ đã nộp đơn chỉ nên được thực hiện trước khi Toà
án ra quyết định mở thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp. Khi chủ nợ
nộp đơn mà r��t đơn thì các chủ nợ khác, doanh nghiệp… vẫn có quyền nộp
đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
Điều 67 Luật Phá sản năm 2004 quy định về các trường
hợp đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản. Tuy nhiên, Luật Phá sản năm 2004
lại không quy định về hậu quả của việc đình chỉ tiến hành thủ tục phá
sản, do vậy, vấn đề đặt ra là, sau khi Thẩm phán ra quyết định đình chỉ
thủ tục phá sản thì hậu quả pháp lý của việc ra quyết định đình chỉ tiến
hành theo thủ tục phá sản là như thế nào? Doanh nghiệp, hợp tác xã đó
được coi là không còn lâm vào tình trạng phá sản như Điều 77 Luật Phá
sản năm 2004 quy định hay không? Vấn đề thi hành án dân sự hoặc việc
giải quyết vụ án bị đình chỉ theo quy định tại Điều 57 của Luật Phá sản
năm 2004 chưa được thi hành hoặc chưa được giải quyết thì thủ tục giải
quyết ra sao?
Về vấn đề này có hai quan điểm:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, khi Thẩm phán ra
quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản thì doanh nghiệp, hợp tác
xã đó được coi là không còn lâm vào tình trạng phá sản nữa. Vấn đề thi
hành án dân sự hoặc việc giải quyết vụ án bị đình chỉ theo quy định tại
Điều 57 Luật Phá sản năm 2004 nếu chưa được thi hành hoặc chưa được giải
quyết thì nay được giải quyết theo qui định của Điều 77 Luật Phá sản
năm 2004. Nghĩa là việc thi hành án dân sự hoặc giải quyết vụ án vẫn
được tiếp tục. Thẩm phán sau khi ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ
tục phá sản thì phải gửi trả lại hồ sơ cho Toà án có thẩm quyền để tiếp
tục giải quyết vụ án theo quy định chung của pháp luật.
Quan điểm thứ hai cho rằng, Thẩm phán ra quyết
định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản là do người nộp đơn yêu cầu mở
thủ tục phá sản không đến hoặc do họ rút đơn yêu cầu chứ bản thân doanh
nghiệp, hợp tác xã vẫn còn lâm vào tình trạng phá sản. Luật Phá sản năm
2004 không nêu hậu quả của việc ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục
phá sản. Do đó, không thể áp dụng những quy định của Điều 77 Luật Phá
sản năm 2004 để giải quyết hậu quả của vấn đề thi hành án dân sự hoặc
giải quyết vụ án bị đình chỉ theo quy định tại Điều 57 Luật Phá sản năm
2004 chưa đuợc thi hành hoặc chưa được giải quyết, nghĩa là, việc gửi
trả lại hồ sơ cho Toà án để tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định
chung của pháp luật cũng không thuộc thẩm quyền của Thẩm phán ra quyết
định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản. Chúng tôi cho rằng, quan điểm
thứ nhất là hợp lý.
Luật Phá sản đã trải qua năm năm thi hành, bên cạnh
những kết quả đã đạt được, Luật Phá sản cũng còn nhiều quy định chưa
thật phù hợp với thực tiễn giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản ở nước ta
hiện nay. Đặc biệt là những quy định của Luật Phá sản về tài sản, nghĩa
vụ về tài sản, bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản và tổ chức và hoạt động của Hội nghị chủ nợ. Thông
qua việc tổng kết sơ bộ những vướng mắc, bất cập qua thực tiễn áp dụng
các quy định của Luật Phá sản và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện một
số quy định của pháp luật phá sản, hy vọng những nội dung trong bài
viết này sẽ là một tài liệu tham khảo có giá trị trong quá trình xây
dựng và hoàn thiện pháp luật phá sản.
SOURCE: CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC XÉT XỬ: TÌM HIỂU
LUẬT PHÁ SẢN, TẬP 1, VIỆN KHOA HỌC XÉT XỬ, TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO. NXB.
TƯ PHÁP. 2010, TRANG 40 – 67
Tác giả: LÊ THẾ PHÚC – Tòa án nhân dân tối cao