Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách
Bài viết tập trung phân tích nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, vai trò của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp và một số vấn đề đặt ra trong việc thực thi trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ở Việt Nam.
Theo tác
giả, việc các doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội không chỉ giúp bản
thân doanh nghiệp phát triển bền vững, mà còn góp phần vào sự phát triển bền
vững của xã hội. Trên cơ sở làm rõ những lợi ích to lớn từ việc thực hiện trách
nhiệm xã hội của các doanh nghiệp và đánh giá khái quát tình hình thực thi
trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, tác giả đã đề xuất
một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp.
Cùng với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, sự thành công trong việc đẩy
nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế đang đặt ra cho đất nước nhiều vấn đề về môi
trường và xã hội bức xúc. Chính những vấn đề đó đang đòi hỏi các chủ thể kinh
tế, trong đó có cả các doanh nghiệp, phải có trách nhiệm để góp phần giải
quyết, nếu không bản thân sự phát triển kinh tế sẽ không bền vững và sẽ phải
trả giả quá đắt về môi trường và những vấn đề xã hội.
Trên thực tế, không phải đến bây giờ, vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp mới được đặt ra; mà trái lại, ngay trong thời bao cấp, người ta cũng đã
nói nhiều về trách nhiệm xã hội của các xí nghiệp đối với nhà nước và người lao
động, cũng như đối với cộng đồng nói chung. Nhưng, trong những năm gần đây,
trách nhiệm xã hội được hiểu một cách rộng rãi hơn, không chỉ từ phương diện
đạo đức, mà cả từ phương diện pháp lý. Những tác hại về môi trường do một số
doanh nghiệp gây ra trong thời gian qua không những bị dư luận lên án về phương
diện đạo đức, mà quan trọng hơn là cần phải được xử lý nghiêm khắc về phương
diện pháp lý. Do đó, không phải ngẫu nhiên, trong những năm gần đây, trên sách
báo và nhiều diễn đàn ở Việt Nam,
thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệpđã và đang được sử dụng
ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp vẫn là vấn đề còn khá mới mẻ và được hiểu theo nhiều cách khác
nhau. Trong bài viết này, chúng tôi muốn tập trung làm rõ nội dung trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp, vai trò của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp và một số vấn đề thực tiễn đang được đặt ra ở Việt Nam hiện nay.
1. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: một số vấn đề lý luận
Thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp mới chính thức xuất
hiện cách đây hơn 50 năm, khi H.R.Bowen công bố cuốn sách của mình với nhan đề
“Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” (Social Responsibilities of the
Businessmen) (1953) nhằm mục đích tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản
không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ
thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các doanh nghiệp làm tổn hại cho xã hội.
Tuy nhiên, từ đó đến nay, thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đang
được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Một số người xác định “trách nhiệm xã hội
hàm ý nâng hành vi của doanh nghiệp lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá
trị và kỳ vọng xã hội đang phổ biến” (Prakash, Sethi, 1975: 58 – 64). Một số
người khác hiểu “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm sự mong đợi của xã
hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện đối với các tổ chức tại một
thời điểm nhất định” (Archie. B Carroll, 1979), v.v..
Hiện đang tồn tại hai quan điểm đối lập nhau về trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp. Những người ủng hộ quan điểm thứ nhất cho rằng, doanh nghiệp không có
trách nhiệm gì đối với xã hội mà chỉ có trách nhiệm với cổ đông và người lao
động của doanh nghiệp, còn nhà nước phải có trách nhiệm với xã hội; doanh
nghiệp đã có trách nhiệm thông qua việc nộp thuế cho nhà nước. Trái lại, những
người khác lại có quan điểm cho rằng, với tư cách là một trong những chủ thể
của nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp đã sử dụng các nguồn lực của xã
hội, khai thác các nguồn lực tự nhiên và trong quá trình đó, họ gây ra những tổn
hại không tốt đối với môi trường tự nhiên. Vì vậy, ngoài việc đóng thuế, doanh
nghiệp còn có trách nhiệm xã hội đối với môi trường, cộng đồng, người lao động,
v.v..
Còn ở Việt Nam,
trong những năm gần đây, người ta thường sử dụng định nghĩa của Nhóm phát
triển kinh tế tư nhân của Ngân hàng thế giới về trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp. Theo đó, “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social
Responsibility – CSR) là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát
triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời
sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã
hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội”(1).
Nói cách khác, doanh nghiệp muốn phát triển bền vững luôn phải tuân theo những
chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi
lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên và phát triển
cộng đồng. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được thể hiện một cách cụ thể
trên các yếu tố, các mặt, như: 1. Bảo vệ môi trường; 2. Đóng góp cho cộng đồng
xã hội; 3. Thực hiện tốt trách nhiệm với nhà cung cấp; 4. Bảo đảm lợi ích và an
toàn cho người tiêu dùng; 5. Quan hệ tốt với người lao động; và 6. Đảm bảo lợi
ích cho cổ đông và người lao đông trong doanh nghiệp. Trong đó, bốn yếu tố đầu
tiên thể hiện trách nhiệm bên ngoài của doanh nghiệp, còn hai yếu tố cuối thể
hiện trách nhiệm bên trong, nội tại của doanh nghiệp. Tất nhiên, sự phân chia
thành trách nhiệm bên ngoài và trách nhiệm bên trong chỉ có ý nghĩa tương đối
và không thể nói trách nhiệm nào quan trọng hơn trách nhiệm nào.
Với những nội dung cụ thể như vậy về trách nhiệm xã hội thì việc thực hiện
trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không chỉ làm cho doanh nghiệp phát triển
bền vững, mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội nói chung.
Như chúng ta đều biết, ở Việt Nam,
phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu chiến lược và được đề ra từ những năm
80 của thế kỷ XX. Cùng với thời gian, khái niệm phát triển bền vững đã có sự
thay đổi về nội hàm và ngày càng được bổ sung thêm những nội dung mới.
Xét về nguồn gốc, thuật ngữ phát triển bền vững ra đời từ những năm 70
của thế kỷ XX và bắt đầu thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu về môi trường
và phát triển quốc tế nhờ sự ra đời của công trình Chiến lược bảo tồn thế
giới(1980)(2). Sau đó, tư tưởng về phát triển bền vững được trình bày trong
một loạt công trình, như Tương lai chung của chúng ta (1987), Chăm
lo cho trái đất (1991)(3)… Khi nói về sự phát triển bền vững, người ta
thường sử dụng hai định nghĩa đã được nêu ra trong các cuốn sách nói trên.
Trong cuốn Tương lai chung của chúng ta, phát triển bền vững được
hiểu là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến
khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai; còn trong cuốn Chăm lo
cho trái đất, phát triển bền vững được xác định là việc nâng cao chất lượng
đời sống con người khi đang tồn tại trong khuôn khổ bảo đảm các hệ sinh thái.
Nhìn chung, cả hai định nghĩa đó đều quy phát triển bền vững về việc sử dụng
một cách hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi truờng sao cho thế hệ hôm
nay vẫn phát triển được mà không làm ảnh hưởng đến tương lai của các thế hệ sau.
Như vậy, nếu xét theo nguồn gốc của thuật ngữ, phát triển bền vững là một sự
phát triển bảo đảm tăng trưởng kinh tế trên cơ sở sử dụng một cách hợp lý tài
nguyên thiên nhiên và bảo vệ được môi trường tự nhiên nhằm vừa có thể thỏa mãn
được nhu cầu của thế hệ hôm nay, vừa không làm ảnh hưởng đến điều kiện thỏa mãn
nhu cầu và môi trường sống của các thế hệ mai sau. Thực chất của sự phát triển
bền vững là giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi
trường tự nhiên, bảo đảm sự công bằng giữa các thế hệ trong việc sử dụng tài
nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, ở Việt Nam,
ngoài nội dung trên đây, khái niệm phát triển bền vững còn được bổ sung thêm
nhiều nội dung mới. Việt Nam
đang chủ trương xây dựng chiến lược phát triển bền vững phù hợp với điều kiện,
hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Nội dung cơ bản của chiến lược phát triển bền
vững của Việt Nam
bao gồm:
Một là
, phát triển nhanh phải đi đôi với tính bền vững. Điều đó phải
được kết hợp ở cả tầm vĩ mô lẫn vi mô, ở cả tầm ngắn hạn lẫn dài hạn.
Hai là
, tăng trưởng về số lượng phải đi liền với nâng cao chất lượng,
hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Ba là
, trong khi khai thác các yếu tố phát triển theo chiều rộng, phải
đặc biệt coi trọng các yếu tố phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri
thức.
Bốn là
, phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển
toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều
việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói
giảm nghèo.
Năm là
, phải coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng
bước phát triển.
Sáu là
, phát triển kinh tế phải đi đôi với việc bảo đảm ổn định chính
trị – xã hội, coi đây là tiền đề, điều kiện để phát triển nhanh và bền vững(4).
Có thể nói, đây là những nội dung cơ bản trong chiến lược phát triển bền vững
của Việt Nam.
Chiến lược đó đã thể hiện khá rõ sự kết hợp giữa quan điểm truyền thống, kinh
điển và quan điểm mới, riêng của Việt Nam.
Trong chiến lược phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam, chúng ta
có thể nhận thấy rằng:
Thứ nhất
, yếu tố ổn định chính trị – xã hội được xem là tiền đề, điều
kiện để phát triển nhanh và bền vững.
Thứ hai
, chiến lược phát triển nhanh, bền vững tập trung nâng cao chất
lượng phát triển, kết hợp giữa phát triển kinh tế với việc phát triển toàn diện
con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm,
cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm
nghèo, với việc coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước
phát triển.
Thứ ba
, chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam đã đề cập một cách
khá toàn diện các khía cạnh khác nhau của sự phát triển, trong đó nổi lên việc
giải quyết hài hòa các mối quan hệ, như hài hòa giữa phát triển nhanh và
bền vững, giữa tăng trưởng về số lượng và nâng cao chất lượng, giữa phát triển
theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu; hài hòa giữa phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề
xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ và cải thiện môi trường, v.v.. Hài
hòa là một trong những nội dung quan trọng của chiến lược phát triển bền vững.
Thứ tư
, vấn đề trọng tâm, mục tiêu cơ bản của chiến lược phát triển bền
vững chính là vấn đề dân sinh. Điều đó được thể hiện trong nội dung của chiến
lược mà chúng tôi vừa trình bày. Chiến lược phát triển nhanh và bền vững đã chú
trọng đến chất lượng của sự tăng trưởng kinh tế, những mục tiêu của sự tăng
trưởng hướng tới sự phát triển toàn diện của con người, thực hiện dân chủ, tiến
bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích
làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo, với việc coi trọng bảo vệ và
cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển. Rõ ràng, mục tiêu của sự
tăng trưởng như vậy là nhằm giải quyết ngày càng tốt hơn vấn đề dân sinh, bảo
đảm cho mọi người dân có cuộc sống ấm no và hạnh phúc. Trên thực tế, chiến lược
phát triển nhanh, bền vững là phương thức hữu hiệu bảo đảm cho sự phát triển
đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Rõ ràng là, với mục tiêu của phát triển bền vững như vậy, việc thực hiện trách
nhiệm của doanh nghiệp góp phần quan trọng vào chiến lược phát triển bền vững
của Việt Nam.
Mặt khác, khi tiếp cận trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, chúng ta cần tiếp
cận cả trên phương diện đạo đứclẫn phương diện pháp lý. Chúng ta
không nên chỉ hiểu trách nhiệm của doanh nghiệp ở khía cạnh đạo đức của chủ
doanh nghiệp, ở công tác từ thiện của doanh nghiệp, mà cần hiểu cả ở khía cạnh
pháp lý, tức thực thi trách nhiệm xã hội là một yêu cầu bắt buộc đối với các
doanh nghiệp. Việc kết hợp cả hai phương diện đạo đức và pháp lý là cơ sở quan
trọng để đề xuất các giải pháp nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
2. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: một số vấn đề thực tiễn của Việt
Nam
Trên thế giới, đối với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, trách
nhiệm xã hội không còn là vấn đề xa lạ. Các doanh nghiệp nếu thực hiện tốt
trách nhiệm xã hội của mình sẽ đạt được một chứng chỉ quốc tế hoặc áp dụng
những bộ Qui tắc ứng xử (Code of Conduct hay gọi tắt là CoC). Trong bối cảnh
toàn cầu hóa hiện nay, những người tiêu dùng, nhà đầu tư, nhà hoạch định chính
sách và các tổ chức phi chính phủ trên toàn cầu ngày càng quan tâm hơn tới ảnh
hưởng của việc toàn cầu hoá đối với quyền của người lao động, môi trường và
phúc lợi cộng đồng. Những doanh nghiệp không thực hiện trách nhiệm xã hội có
thể sẽ không còn cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế.
Thực tế trên thế giới đã chỉ ra rằng, doanh nghiệp nào thực hiện tốt trách
nhiệm xã hội thì lợi ích của họ không những không giảm đi mà còn tăng thêm.
Những lợi ích mà doanh nghiệp thu được khi thực hiện trách nhiệm xã hội bao gồm
giảm chi phí, tăng doanh thu, tăng giá trị thương hiệu, giảm tỷ lệ nhân viên
thôi việc, tăng năng suất và thêm cơ hội tiếp cận những thị trường mới. Chúng
ta có thể dẫn ra đây một số ví dụ về lợi ích của việc thực hiện trách nhiệm xã
hội của doanh nghiệp.
Thứ nhất
, thực hiện trách nhiệm xã hội góp phần giảm chi phí và tăng
năng suất. Một doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí sản xuất nhờ đầu tư,
lắp đặt các thiết bị mới. Chẳng hạn, một doanh nghiệp sản xuất bao bì lớn của
Ba Lan đã tiết kiệm được 12 triệu đô la Mỹ trong vòng 5 năm nhờ việc lắp đặt
thiết bị mới, nhờ đó làm giảm 7% lượng nước sử dụng, 70% lượng chất thải nước
và 87% chất thải khí(5).
Chi phí sản xuất và năng suất lao động phụ thuộc chặt chẽ vào hệ thống quản lý
nhân sự. Một hệ thống quản lý nhân sự hiệu quả cũng giúp doanh nghiệp cắt giảm
chi phí và tăng năng suất lao động đáng kể. Chế độ lương, thưởng hợp lý, môi
trường lao động sạch sẽ và an toàn, các cơ hội đào tạo và chế độ bảo hiểm y tế
và giáo dục đều góp phần giảm tỷ lệ nhân viên nghỉ, bỏ việc, do đó giảm chi phí
tuyển dụng và đào tạo nhân viên mới. Tất cả cái đó góp phần giảm chi phí sản
xuất, tăng năng suất lao động.
Thứ hai
, thực hiện trách nhiệm xã hội góp phần tăng doanh thu. Mỗi doanh
nghiệp đều đứng trên địa bàn nhất định. Do đó, việc đầu tư hỗ trợ phát triển
kinh tế địa phương có thể tạo ra một nguồn lao động tốt hơn, nguồn cung ứng rẻ
và đáng tin cậy hơn và nhờ đó tăng doanh thu. Chẳng hạn, Công ty Hindustan
Lever, một chi nhánh của tập đoàn Unilever tại Ấn Độ, vào đầu những năm 70 chỉ
hoạt động được với 50% công suất do thiếu nguồn cung ứng sữa bò từ địa phương
và do vậy, đã bị lỗ trầm trọng. Để giải quyết vấn đề này, công ty đã thiết lập
một chương trình tổng thể giúp nông dân tăng sản lượng sữa bò. Chương trình này
bao gồm đào tạo nông dân cách chăn nuôi, cải thiện cơ sở hạ tầng cơ bản và
thành lập một ủy ban điều phối những nhà cung cấp địa phương. Nhờ đó, số lượng
làng cung cấp sữa bò đã tăng từ 6 tới hơn 400, giúp cho công ty hoạt động hết
công suất và đã trở thành một trong những chi nhánh kinh doanh lãi nhất tập
đoàn(6).
Thứ ba
, thực hiện trách nhiệm xã hội góp phần nâng cao giá trị thương
hiệu và uy tín của công ty. Trách nhiệm xã hội có thể giúp doanh nghiệp tăng
giá trị thương hiệu và uy tín đáng kể. Đến lượt nó, uy tín giúp doanh nghiệp
tăng doanh thu, hấp dẫn các đối tác, nhà đầu tư và người lao động. Trên thế
giới, những công ty khổng lồ đang chi một khoản tiền rất lớn để trở thành hình
mẫu kinh doanh lý tưởng. Chẳng hạn, hãng điện tử dân dụng Best Buy đã có chương
trình tái chế sản phẩm; hãng cà phê nổi tiếng Starbucks đã và đang bắt tay vào
các hoạt động cộng đồng; hãng nước khoáng nổi tiếng của Pháp Evian phân phối
sản phẩm của mình trong những chai nước thân thiện với môi trường. Những tập
đoàn đa quốc gia như The Body Shop (tập đoàn của Anh chuyên sản xuất các sản
phẩm dưỡng da và tóc) và IKEA (tập đoàn kinh doanh đồ dùng nội thất của Thụy
Điển) là những ví dụ điển hình. Cả hai công ty này đều nổi tiếng không chỉ vì
các sản phẩm có chất lượng và giá cả hợp lý của mình, mà còn nổi tiếng là các
doanh nghiệp có trách nhiệm đối với môi trường và xã hội(7).
Thứ tư
, thực hiện trách nhiệm xã hội góp phần thu hút nguồn lao động
giỏi. Nguồn lao động giỏi, có năng lực là yếu tố quyết định năng suất và chất
lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Có một thực tế là, ở các nước đang phát triển,
nguồn nhân lực được đào tạo có chất lượng cao không nhiều. Vấn đề đặt ra đối
với các doanh nghiệp là làm thế nào thu hút, giữ chân họ và phát huy hết khả
năng của họ trong hoạt động quản lý, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do
vậy, việc thu hút và giữ được nhân viên có chuyên môn tốt là một thách thức lớn
đối với các doanh nghiệp. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, những
doanh nghiệp trả lương thỏa đáng và công bằng, tạo cho nhân viên cơ hội đào
tạo, có chế độ bảo hiểm y tế và môi trường làm việc sạch sẽ có khả năng thu hút
và giữ được nguồn nhân lực có chất lượng cao.
Tất cả những điều nói trên là cơ sở để luận chứng cho sự cần thiết phải thực
hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nói chung, đồng thời là những kinh
nghiệm bổ ích, có giá trị tham khảo cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Trên thực tế, ở Việt Nam, vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp mặc dù là
vấn đề mới mẻ, nhưng bước đầu đã được một số bộ, ngành quan tâm, chú ý. Bằng
chứng là, từ năm 2005, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Bộ Lao động
Thương binh và Xã hội, Bộ Công thương cùng với các hiệp hội Da giày, Dệt may
trao giải thưởng “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hướng tới sự phát triển
bền vững” nhằm tôn vinh các doanh nghệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp lớn ở Việt
Nam đã nhận thấy rằng, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã trở thành một
trong những yêu cầu không thể thiếu được đối với doanh nghiệp, bởi lẽ, trong
bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nếu doanh nghiệp không tuân thủ
trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp sẽ không thể tiếp cận được với thị trường
thế giới. Nhiều doanh nghiệp khi thực hiện trách nhiệm xã hội đã mang lại những
hiệu quả thiết thực trong sản xuất kinh doanh. Kết quả khảo sát gần đây do Viện
Khoa học lao động và xã hội tiến hành trên 24 doanh nghiệp thuộc hai ngành Giầy
da và Dệt may cho thấy, nhờ thực hiện các chương trình trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp, doanh thu của các doanh nghiệp này đã tăng 25%, năng suất lao
động cũng tăng từ 34,2 triệu đồng lên 35,8 triệu đồng/1 lao động/năm; tỷ lệ
hàng xuất khẩu tăng từ 94% lên 97%. Bên cạnh hiệu quả kinh tế, các doanh nghiệp
còn củng cố được uy tín với khách hàng, tạo được sự gắn bó và hài lòng của
người lao động đối với doanh nghiệp, thu hút được lực lượng lao động có chuyên
môn cao(8).
Do nhận thức được tầm quan trọng và ích lợi của việc thực hiện trách nhiệm xã
hội trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, một số doanh nghiệp lớn
của Việt Nam, ngoài trách nhiệm đóng thuế cho nhà nước, đã đăng ký thực hiện
trách nhiệm xã hội dưới dạng các cam kết đối với xã hội trong việc bảo vệ môi
trường, với cộng đồng địa phương nơi doanh nghiệp đóng và với người lao động.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, phải thừa nhận rằng, trong thời gian qua ở Việt Nam, nhiều
doanh nghiệp đã không thực hiện một cách nghiêm túc trách nhiệm xã hội của
mình. Điều đó thể hiện ở các hành vi gian lận trong kinh doanh, báo cáo tài
chính, không bảo đảm an toàn lao động, sản xuất, kinh doanh hàng kém chất
lượng, cố ý gây ô nhiễm môi trường. Điển hình là các vụ xả nước thải không qua
xử lý gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cho các dòng sông và cộng đồng dân cư
của các Công ty Miwon, Công ty thuộc da Hào Dương, Công ty Giấy Việt Trì, công
ty Hyundai Vinashin (Khánh Hòa), các vụ sản xuất thực phẩm chứa chất có hại cho
sức khỏe con người, như nước tương có chứa chất 3-MCPD gây ung thư, bánh phở
chứa phormol, thực phẩm chứa hàn the, sữa có chứa melamine. Ngoài ra, nhiều
doanh nghiệp vi phạm các quy định pháp luật về lương bổng, chế độ bảo hiểm, vấn
đề an toàn lao động cho người lao động cũng không còn là hiện tượng hiếm thấy,
đã và đang gây bức xúc cho xã hội.
Vấn đề đặt ra hiện nay là, cần tìm nguyên nhân của các hiện tượng và những giải
pháp để khắc phục tình trạng đó.
Hiện đang có những ý kiến khác nhau về nguyên nhân dẫn đến việc không thực hiện
trách nhiệm xã hội của nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam. Một số người cho rằng, trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam chưa được luật hóa ở tất cả các
doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp lớn có thị trường xuất khẩu, do yêu cầu
của khách hàng nên buộc phải thực hiện trách nhiệm xã hội, còn đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ, do khó khăn về tài chính và thiếu ràng buộc về pháp lý nên
nhiều doanh nghiệp chỉ hiểu trách nhiệm xã hội là “các khoản đóng góp từ
thiện”. Một số người khác cho rằng, việc thực hiện trách nhiệm xã hội sẽ làm
tăng chi phí cho doanh nghiệp, làm giảm khả năng cạnh tranh ban đầu mà chưa
thấy ngay được lợi ích trước mắt, do đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ không muốn
thực hiện trách nhiệm xã hội. Nói tóm lại, việc
thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam còn tương đối khó khăn. Sở dĩ
như vậy trước hết là do sự hiểu biết chưa đầy đủ của doanh nghiệp về
trách nhiệm xã hội; trách nhiệm xã hội doanh nghiệp chỉ đơn thuần được hiểu là
các khoản đóng góp từ thiện. Thứ hai, việc thực hiện trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp cũng gây ra những khó khăn không nhỏ cho các doanh nghiệp do
thiếu nguồn vốn và kỹ thuật để thực hiện các chuẩn mực trách nhiệm xã hội. Điều
này đặc biệt khó khăn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong khi đó hầu hết các
doanh nghiệp ở Việt Nam
là những doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Nói một cách toàn diện hơn, theo nghiên cứu năm 2002 của Ngân hàng thế giới tại
Việt Nam, những rào cản và thách thức lớn nhất cho việc thực hiện trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp bao gồm:
1. Nhận thức về trách nhiệm xã hội trong và giữa các doanh nghiệp Việt Nam còn
có sự khác nhau khá lớn.
2. Năng suất lao động bị ảnh hưởng khi phải thực hiện đồng bộ nhiều bộ quy tắc
ứng xử (CoC).
3. Thiếu nguồn tài chính và kỹ thuật để thực hiện các chuẩn mực trách nhiệm xã
hội doanh nghiệp (đặc biệt là ��ối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ).
4. Sự khác biệt giữa Bộ luật lao động và bộ quy tắc ứng xử của khách đặt hàng
gây nhầm lẫn cho doanh nghiệp, chẳng hạn như vấn đề làm thêm hay hoạt động của
công đoàn.
5. Sự thiếu minh bạch trong việc áp dụng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trên thực
t�� đang cản trở lợi ích thị trường tiềm năng mang lại cho doanh nghiệp.
6. Mâu thuẫn trong các quy định của nhà nước khiến cho việc áp dụng bộ quy tắc
ứng xử không đem lại hiệu quả mong muốn, ví dụ như mức lương, phúc lợi và các
điều kiện tuyển dụng(9).
Những nguyên nhân được liệt kê ra trên đây có thể quy lại thành ba nguyên nhân
chính, đó là nguyên nhân về nhận thức,nguyên nhân kinh tế và nguyên
nhân pháp lý. Do đó, để nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp, cần bám sát
những nguyên nhân nói trên để đề ra những giải pháp phù hợp. Cụ thể là:
Thứ nhất
, cần tuyên truyền, giáo dục cho tất cả các doanh nghiệp, trước
hết là các chủ doanh nghiệp về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, phải làm
cho họ hiểu rằng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không phải chỉ bó gọn
trong công tác từ thiện. Công tác tuyên truyền, giáo dục rất quan trọng, bởi
tất cả những hành vi của con người đều thông qua ý thức của con người, đều do ý
thức của họ điều khiển. Do đó, vấn đề đặt ra là, phải làm sao cho việc thực
hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trở thành động cơ bên trong của các
chủ doanh nghiệp. Việc thực hiện trách nhiệm xã hội trước hết cần được xem là
một hành vi đạo đức và được điều khiển bằng động cơ đạo đức. Đây chính là giải
pháp bên trong đạo đức.
Thứ hai
, cần xây dựng một hành lang pháp lý bắt buộc các doanh nghiệp
phải thực thi trách nhiệm xã hội một cách đầy đủ và nghiêm túc. Điều này liên
quan đến trách nhiệm của nhà nước trong việc tạo môi trường và khung pháp lý
cho doanh nghiệp hoạt động. Khung pháp lý chính là biện pháp có hiệu lực nhất
đối với việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; đồng thời, là giải
pháp hỗ trợ đắc lực cho giải pháp về đạo đức, làm cho các động cơ đạo đức
thường xuyên được củng cố và ngày càng có hiệu lực trên thực tế. Cái khó khăn
cho Việt Nam
và các nước đang phát triển nói chung là trong bối cảnh cần phải thu hút đầu tư
nước ngoài, nếu đặt nặng các mục tiêu về môi trường và xã hội thì các doanh
nghiệp khó có thể thu hút đầu tư nước ngoài. Nhưng, nếu không đặt mạnh vấn đề
trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thì những hậu quả về môi trường và xã hội
sẽ không thể bù đắp được bằng các kết quả của sự tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu
phát triển bền vững, do vậy, cũng không thể thực hiện được.
Kết luận
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là vấn đề tương đối mới mẻ với Việt Nam. Song,
trong những năm gần đây, trước thảm họa về môi trường và những hậu quả tiêu cực
về xã hội do các doanh nghiệp gây ra, vấn đề trách nhiệm xã hội được đặt ra một
cách cấp bách. Ở Việt Nam,
việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hoàn toàn phù hợp với mục
tiêu của chiến lược phát triển bền vững. Để thực hiện trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp ở Việt Nam,
thì việc tuyên truyền, giáo dục trách nhiệm xã hội và việc hoàn thiện hành lang
pháp lý để thực hiện nó là việc làm cấp thiết.
Chú thích:
(1) Trích theo: ThS.Nguyễn Thị Thu Trang. Trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp.
Xem: http//www.
Doanhnhan360.com/PortletBlank.aspx/44D1988963164E.
(2) Xem: IUCN.
World conservation strategy: Living resource
conservation for sustainable development. IUCN, Gland, Switzeland, 1980.
(3) Xem: World Commission on Environment and Development. Our common future.
Oxford University
Press, Oxford and New York, 1987; IUCN/UNEP/WWF. Caring for
the earth: A strategy for sustainable living. IUCN, Gland, Switzeland,
1991.
4) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2006, tr.178 – 179.
(5) Xem:
http://www.kinhdoanh.com.vn/mtkd/So4/4-baiviet.htm.
(6) Xem: http://www.kinhdoanh.com.vn/mtkd/So4/4-baiviet.htm.
(7) Xem: http://www.kinhdoanh.com.vn/mtkd/So4/4-baiviet.htm
(8) Xem: http://www.kinhdoanh.com.vn/mtkd/So4/4-baiviet.htm.
(9) Xem:www.doanhnhan360.com/PortletBlank.aspx/44D1988963164E…
PGS. TS. PHẠM VĂN
ĐỨC – Tổng biên tập Tạp trí Triết học
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
Thông tin chi tiết Quý khách hàng vui lòng liên hệ với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW (SUN LAW FIRM)
Địa chỉ: Số 47, Phố Chính Kinh, Phường Thanh Xuân Trung, Quận Thanh
Xuân, thành phố Hà Nội.
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM
--------------------------------------------------------------------------------