Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam
Nước ta có Bộ luật Lao động, Luật Bảo vệ môi trường và những nghị định hướng dẫn thi hành nhưng doanh nghiệp Việt Nam chưa thể hiện một cách rõ ràng việc thực hành những văn bản pháp quy đó bằng những tiêu chuẩn kiểm định và công bố hiệu quả thực hiện. Ở các nước khác, mối quan tâm của lãnh đạo doanh nghiệp về lao động và môi trường được gom chung vào một khái niệm gọi là trách nhiệm xã hội doanh nghiệp.
Trong bài này, người viết xin trình bày trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, lợi
ích của nó cùng một số tiêu chuẩn và văn bản hướng dẫn thực hành.
Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là gì?
Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là phương pháp tiến hành tự nguyện có tầm
nhìn về phát triển bền vững, kết hợp xã hội và khả năng cạnh tranh. Khái niệm
này bao gồm những tác động liên quan đến xã hội, môi trường và kinh tế.
Thực ra những tổ chức quốc gia và quốc tế cũng như những tổ chức phi chính
phủ chưa đồng thuận về nội dung của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Các nước
Anglo Saxon biểu hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp với khái niệm PPP bao gồm
ba lĩnh vực: con người (people), hành tinh (planet) và lợi nhuận (profit). Một
số tổ chức lại còn thêm lĩnh vực quản trị (governance). Nhưng ý kiến này bị đả
phá vì quản trị doanh nghiệp không có tính cách tự nguyện.
Trong quy chế và tiêu chí xét thưởng của Giải thưởng trách nhiệm xã hội doanh
nghiệp năm 2009, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) giới hạn trách
nhiệm xã hội doanh nghiệp ở hai lĩnh vực lao động và môi trường nhưng cũng đặt
thêm tiêu chí “hoạt động kinh doanh có hiệu quả kinh tế”. Nói một cách khác,
VCCI cũng dùng khái niệm PPP như đa số các tổ chức và doanh nghiệp quốc tế.
Lợi ích của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
Vào thập niên 90 thế kỷ trước, một bà ký giả nước ngoài khám phá một nhà máy
ở Việt Nam sản xuất giày gia công cho Nike, công nhân phải làm việc trong một
môi trường không khí nguy hại đến sức khỏe. Độc giả tờ báo của bà ngay tức khắc
phổ biến tin này và kêu gọi tẩy chay không mua giày của Nike nữa. Dĩ nhiên,
Nike kiện tờ báo và đã thua kiện.
Trước doanh số xuống dốc, Nike đành phải công bố một chính sách trách nhiệm
xã hội đối với những nhà cung cấp của họ: những nhà cung cấp phải tuân thủ
nh���ng điều lệ của Nike về trách nhiệm xã hội. Sau một thời hạn ân hạn, những
đối tác nào không tuân theo tiêu chuẩn Nike sẽ bị cắt hợp đồng. Một đoàn kiểm
định được thành lập để kiểm định có định kỳ những cơ sở sản xuất. Những cá nhân
hay tổ chức nào khám phá một cơ sở sản xuất gia công cho Nike không theo tiêu
chuẩn đó thì có thể gửi thư tố cáo đến địa chỉ nikeresponsibility@nike.com.
Để chứng minh chính sách này được thực hành thông thoáng, Nike đăng trên
trang web www.nike.com những tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội doanh nghiệp của họ
cùng với danh sách 700 nhà máy gia công cho họ ở 51 nước, trong đó có 35 nhà
máy ở Việt Nam.
Cũng như Nike, nhiều tập đoàn quốc tế cũng có chính sách tương tự. Đặc biệt
những tập đoàn bán lẻ như Wal-Mart, Cora, Carrefour… thường xuyên cử người đi
kiểm định các nhà cung cấp của họ ở Việt Nam. Nói chung, những tập đoàn đa
quốc gia thường tránh kinh doanh với những nước không có pháp quy về trách
nhiệm xã hội doanh nghiệp vì sợ bị mang tiếng.
Một số ngân hàng lớn, đặc biệt là Ngân hàng Thế giới, thực thi những nguyên
tắc Equator (Equator Principles). Nguyên tắc Equator là những cam kết tự nguyện
của các cơ quan tài chính nghiên cứu những dự án họ tài trợ trên cơ sở tác động
xã hội và môi trường: bên mượn tiền phải định giá tác động của dự án đến xã hội
và môi trường.
Xem ra trách nhiệm xã hội có vẻ như đang làm các doanh nghiệp phải tốn thêm
tiền: nếu không có chính sách trách nhiệm xã hội thì mất khách, mất hợp đồng
hay không thể vay tiền để kinh doanh. Sự thật không phải là như vậy. Người ta
nhận thấy rằng những doanh nghiệp chú trọng nhiều đến trách nhiệm xã hội cũng
là những doanh nghiệp có mức lợi nhuận cao hơn trung bình. Sau khi nghiên cứu
một số doanh nghiệp, một số nhà nghiên cứu của trường Đại học Sidney, Đại học
Iowa đã nhận thấy rằng kết quả tài chính một doanh nghiệp tỷ lệ thuận với thành
tựu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đó (*).
Những tiêu chuẩn và công cụ quản lý trách nhiệm xã hội
Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người lao động và đối với môi trường
chẳng qua chỉ là những vấn đề chất lượng tương tự như chất lượng sản phẩm mà
các doanh nghiệp đã quen thuộc: chất lượng lao động và chất lượng đời sống.
Ở những nước châu Âu, người ta có khái niệm QSE (quality safety environment,
chất lượng – an toàn lao động – môi trường). Mục đích là mở rộng chính sách
quản lý doanh nghiệp vượt khỏi khái niệm chất lượng để bao hàm thêm trách nhiệm
xã hội, mở rộng sổ tay chất lượng (Quality Manual) thành sổ tay QSE (QSE
Manual) và chứng nhận doanh nghiệp cùng một lúc theo cả ba tiêu chuẩn chất
lượng, an toàn lao động và môi trường. Thực hiện đầy đủ cùng lúc ba chính sách
này sẽ có thêm hiệu ứng hỗ trợ và giảm chi phí so với thực hiện riêng lẻ mỗi
chính sách.
Các tiêu chuẩn và công cụ về chất lượng và môi trường thì ai cũng biết. ISO
(International Organization for Standardization, Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc
tế) đã công bố bộ tiêu chuẩn ISO 9000 về hệ thống quản lý chất lượng và ISO
14000 về hệ thống quản lý môi trường. Hai tiểu ban của ISO chuyên về các bộ
tiêu chuẩn này đã thống nhất những phương pháp thực hành tạo thuận lợi cho các
doanh nghiệp thiết lập một chính sách toàn bộ chung cho cả hai hệ thống quản lý
chất lượng và môi trường.
Còn về khía cạnh quản lý nhân lực, vấn đề này phức tạp vì không phải là một
vấn đề kỹ thuật. Mỗi quốc gia có quan niệm khác nhau: (a) an toàn lao động là
trách nhiệm cá nhân hay là trách nhiệm tập thể, (b) quyền lợi tối thiểu của
người lao động về nhân phẩm và tính dân chủ do phía thuê lao động tự nguyện ban
cho hay phải theo quy định của nhà nước và thương lượng tập thể.
Nhóm làm việc của ISO về trách nhiệm xã hội (WG SR) đã tham khảo rộng rãi
mọi đối tác. Chỉ riêng trong năm 2007 có 320 đại diện của 55 nước và 26 tổ chức
quốc tế tham gia hội nghị của WC SR. Nếu không có gì thay đổi thì tiêu chuẩn
hướng dẫn ISO 26000 sẽ được công bố vào năm 2010. Điều cần chú ý là tiêu chuẩn
ISO 26000 chỉ là một tiêu chuẩn hướng dẫn nên không thể dùng làm cơ sở để chứng
nhận một doanh nghiệp.
Dưới đây là những tiêu chuẩn có thể dùng làm cơ sở để chứng nhận một doanh
nghiệp: Các tiêu chuẩn của ILO (International Labor Organization, Tổ chức Lao
động quốc tế), ISO 9001 về hệ thống quản lý chất lượng, ISO 14001 về hệ thống
quản lý môi trường, OHSAS 8001 về an toàn lao động, và SA 8000 về quản lý nhân
sự.
Ngoài ra có một số tài liệu hướng dẫn cách trình bày một báo cáo về trách
nhiệm xã hội như là GRI (Global Reporting Initiative, khởi đầu báo cáo toàn
diện) hay AA 1000 Asurance Standard của ISEA (Institute of Social and Ethical
Accountability, Viện Trách nhiệm xã hội và đạo đức).
Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đã dịch sang tiếng Việt các bộ tiêu
chuẩn ISO 9000 và ISO 14000. Để hoàn tất, tổng cục còn phải tiếp tục dịch và
đưa ngay vào thực hành những tiêu chuẩn và văn bản hướng dẫn khác vừa nêu trên.
Hiện nay nhiều doanh nghiệp Việt Nam có xu hướng tránh né trách
nhiệm xã hội của mình. Trong khi đó quản lý chất lượng và trách nhiệm xã hội là
hai chính sách sẽ mau chóng đưa nước ta sớm lên hàng một quốc gia công nghệ
hiện đại. Hy vọng giải thưởng “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp năm 2009” của
VCCI sẽ tạo được tiếng vang và thu hút được nhiều doanh nghiệp Việt Nam tham dự.
——————–
(*) Orlitzky, Marc; Frank L. Schmidt, Sara L. Rynes (2003). “Corporate
Social and Financial Performance: A Meta-analysis”. Organization Studies (London: SAGE
Publications) 24 (3): 403-441.Bài này cũng có đăng ở địa-chỉ
Internethttp://www.global100.org/Corporate%20Social%20&%20Environmental%20Performance.pdf
SOURCE: THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN - ĐẶNG ĐÌNH CUNG
Trích dẫn từ:
http://www.thesaigontimes.vn/Home/doanhnghiep/quantri/22450/
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)