Tranh chấp lao động khó ngồi lại để thương lượng
Tại hội nghị triển khai công tác năm 2009 của ngành, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, nhận định: “Quan hệ lao động còn diễn biến phức tạp, số vụ tranh chấp lao động và đình công năm sau cao hơn năm trước”. Thực tế, số vụ đình công năm 2007 tăng 41% so với năm 2006; năm 2008 tăng 30% so với năm 2007…
Soi vào… đình công
Trong số hơn 600 vụ đình công trên cả nước trong năm
2008, có đến 80% tập trung ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; 81,3% rơi
vào doanh nghiệp FDI; và 71,3% thuộc các ngành sản xuất gia công, sử
dụng nhiều lao động.
Đáng chú ý, theo một chuyên viên của Sở Lao động –
Thương binh và Xã hội TPHCM, tất cả các vụ đình công xảy ra đều không có
sự tham gia lãnh đạo của Công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động
cử ra theo luật định.
Đa phần các tranh chấp không được giải quyết bước đầu
bằng thương lượng và hòa giải. Khi phát sinh tranh chấp, cả người sử
dụng lao động và người lao động đều trông chờ hoàn toàn vào sự can thiệp
của các cơ quan nhà nước. Trong khi, theo Sở Lao động – Thương binh và
Xã hội TPHCM, những trường hợp như thế, cần có sự thương lượng trước đó
giữa hai bên.
Một cán bộ Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội
quận Thủ Đức cho rằng, chính sách thu hút đầu tư bằng lao động rẻ (trước
đây) đã gieo vào giới đầu tư quan điểm khai thác triệt để lao động giá
rẻ. Vì thế, nhiều doanh nghiệp đã bỏ qua việc trao đổi, thông tin cũng
như chăm lo đời sống người lao động. “Và, khi không thể trao đổi, thông
tin, thương lượng được thì việc bỏ qua các trình tự, thủ tục đình công –
theo luật – của người lao động là điều dễ hiểu”, cán bộ này nói.
Thật vậy, khi người lao động nhận định rằng đề
nghị của mình sẽ không được người sử dụng lao động tiếp nhận, xem xét và
trao đổi thì họ sẽ nghĩ đến biện pháp đình công – dùng áp lực ngừng
việc tập thể để buộc chủ doanh nghiệp ngồi vào bàn đàm phán.
Và khi người lao động đã có quan điểm như vậy mà
người sử dụng lao động có xu hướng từ chối thương lượng thì người lao
động sẽ tìm cách dùng áp lực tập thể mạnh hơn, thậm chí kết hợp với việc
sử dụng bạo lực, gây rối trật tự công cộng để buộc cơ quan nhà nước
phải tham gia hỗ trợ họ giải quyết tranh chấp. Nhiều cuộc đình công
trong năm 2008 tại TPHCM diễn ra theo kịch bản như thế!
Tuy nhiên, nguyên nhân dẫn đến đình công trong thời
gian qua còn xuất phát từ hành vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp.
Tại TPHCM đã có một số vụ đình công vì doanh nghiệp (đa số là doanh
nghiệp Hàn Quốc) nợ bảo hiểm xã hội kéo dài và nợ tiền lương của người
lao động như trường hợp của Công ty TNHH Giày Anjin (Bình Tân), Công ty
TNHH Vana Haeng Woon Industries (quận 8), Công ty TNHH Quang Sung Vina
(Gò Vấp), Công ty TNHH Đại Sáng Vina (quận 12)…
Điều đáng nói là, việc xử lý đối với các hành vi vi
phạm như nợ bảo hiểm xã hội chỉ dừng ở việc xử phạt mà chưa hướng đến
việc phòng ngừa thông qua việc áp dụng các chế tài pháp lý khiến cho
người lao động bức xúc. “Mức phạt đối với hành vi vi phạm thấp, khiến
cho tiền phạt áp dụng đối với hành vi vi phạm trở thành một loại chi phí
trong quá trình sản xuất, và trong một số trường hợp doanh nghiệp sẵn
sàng vi phạm để được lợi nhuận cao hơn”, Ủy ban Nhân dân TPHCM nhận định
trong báo cáo đánh giá 13 năm thực hiện Bộ luật Lao động.
Tự thỏa thuận và quan tòa
Thực tế từ các vụ đình công cho thấy, hợp đồng lao
động vẫn còn những nội dung chưa phù hợp với kinh tế thị trường và hội
nhập quốc tế; việc ký kết thỏa ước lao động trong các doanh nghiệp còn
hình thức; mức lương tối thiểu còn thấp và phân biệt theo loại hình
doanh nghiệp; giới hạn loại hợp đồng lao động giao kết, quyền đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động… còn nhiều điểm bất cập.
Do đó, dù pháp luật quy định việc giải quyết tranh
chấp phải diễn ra theo trình tự quy định, nhưng trong thực tế không vụ
tranh chấp tập thể nào diễn ra theo trình tự đó. Rất dễ nhận thấy điều
này khi mà phần lớn Hội đồng hòa giải lao động cơ sở tại các doanh
nghiệp được thành lập cho lấy có; và chưa có vụ tranh chấp nào được giải
quyết tại Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh.
Theo Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TPHCM, để
việc hòa giải có hiệu quả, pháp luật cần phải hoàn thiện hơn nữa. Hiện
các quy định về chuyện hòa giải chưa cụ thể, thiếu một cơ chế đảm bảo
thi hành trong trường hợp hòa giải thành.
Giả sử hòa giải thành mà tập thể lao động vẫn tiến
hành đình công thì khó giải quyết hậu quả pháp lý tiếp theo; hoặc biên
bản hòa giải thành không được một trong hai bên thực hiện thì giải quyết
ra sao? Cần quy định rõ, nếu các bên hòa giải thành trước hoặc trong
khi đình công thì tập thể lao động sẽ không có quyền đình công, hoặc nếu
đang đình công thì phải dừng cuộc đình công. Nếu tập thể lao động vẫn
đình công thì cuộc đình công sẽ bị coi là bất hợp pháp.
Nhưng điều quan trọng là pháp luật lao động cần xác
định các hình thức chế tài đối với người lao động thực hiện những hành
vi bị cấm trước và trong quá trình đình công (hiện gây bức xúc cho các
nhà đầu tư). Pháp luật hiện hành quy định, người lao động có hành vi
kích động, lôi kéo, ép buộc người lao động (khác) tham gia đình công
không đúng pháp luật… có thể bị xử phạt hành chính; truy cứu trách nhiệm
hình sự và bồi thường thiệt hại (nếu có).
Tuy nhiên, pháp luật lao động lại chưa quy định rõ
những người thực hiện hành vi này có thể bị xử lý kỷ luật lao động hay
không? Và trên thực tế, việc doanh nghiệp kiện người lao động để đòi bồi
thường vì thiệt hại do đình công không dễ. Đã có trường hợp tòa cho
rằng không thể xác định được đối tượng để khởi kiện.
Có luật sư tư vấn pháp luật về lao động cho rằng, để
hạn chế đình công bất hợp pháp gây thiệt hại cho người lao động cũng như
người sử dụng lao động, không nên cho phép tập thể lao động tiến hành
đình công đối với các tranh chấp lao động tập thể về quyền. Vì đối với
loại tranh chấp này, do cơ sở pháp lý rõ ràng nên hoàn toàn có thể giải
quyết tại tòa án theo thủ tục tố tụng – người lao động có thể khởi kiện
chủ doanh nghiệp tại tòa.
Nhiều ý kiến còn cho rằng, Bộ luật Lao động cần được
sửa đổi, bổ sung theo hướng tạo cơ chế cho tập thể người lao động (đại
diện là tổ chức công đoàn cơ sở) và người sử dụng lao động chủ động đối
thoại, đàm phán trong việc xác định thang lương, bảng lương và cơ chế
trả lương trả thưởng định kỳ, có thể hàng năm. Nhưng về cơ bản, luật
phải tạo điều kiện thông thoáng hơn nữa cho các bên thực hiện quyền tự
thỏa thuận, bảo đảm tính linh hoạt trong quá trình thực hiện hợp đồng
lao động theo nguyên tắc đồng thuận.
Nói chung, luật pháp điều chỉnh quan hệ lao động cần
phải tuân thủ nguyên tắc tự thỏa thuận giữa các bên và ưu tiên giải
quyết các tranh chấp phát sinh bằng con đường hòa giải, nếu không thành
thì tìm đến tòa án.

SOURCE: THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN ONLINE - ĐÁ BÀN
Trích dẫn từ: http://www.thesaigontimes.vn/Home/thoisu/sukien/16055/
--------------------------------------------------------------------------------
Thông tin chi tiết Quý khách hàng vui lòng liên hệ với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW
Địa chỉ: Số 47, Phố Chính Kinh, Phường Thanh Xuân Trung, Quận Thanh
Xuân, thành phố Hà Nội.
Tel: 04-39916057 Fax: 04-39916058
SỐ ĐIỆN THOẠI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ: 0986 11 66 05 & 043- 9916057
Email: contact@sunlaw.com.vn & guicauhoitructuyen@sunlaw.com.vn
Website: www.sunlaw.com.vn &
www.lawdata.com.vn
--------------------------------------------------------------------------------