Tư vấn đăng ký bảo hộ bản quyền phần mềm máy tính: 1C:QUẢN LÝ THƯƠNG MẠI
Giới thiệu về phần mềm 1C:QUẢN LÝ THƯƠNG MẠI - CÔNG TY CỔ PHẦN HỆ THỐNG 1-V
Quản lý thương mại
"1С:Quản lý thương mại" — đây là công cụ hiện đại
nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thương mại.
Giải pháp này cho phép kết hợp tự động hóa các nhiệm vụ của
kế toán nghiệp vụ và kế toán quản lý, nhiệm vụ phân tích và lập kế hoạch các
giao dịch thương mại, đồng thời đảm bảo quản lý hiệu quả doanh nghiệp thương mại
hiện đại nhất.
Lĩnh vực cụ thể được tự động hóa bằng giải pháp ứng dụng
''1C:Quản lý thương mại '', được trình bày dưới dạng sơ đồ sau.
...
Giải pháp ứng dụng này tự động hóa mảng kinh doanh:
·
Quản lý quan hệ khách hàng
·
Quản lý nguyên tắc bán hàng, chương trình
marketing
·
Quản lý bán hàng
·
Quản lý đại diện bán hàng
·
Tiền mặt
·
Quản lý hàng tồn kho
·
Quản lý mua hàng
·
Kế toán tài chính
Trong cơ sở thông tin của giải pháp ứng dụng ghi nhận các
giao dịch kinh tế đã thực hiện, cũng như dự tính thực hiện các giao dịch đó.
''1C:Quản lý thương mại '' tự động lập đúng tất cả các chứng từ gốc của kế toán
bán hàng và kế toán kho, cũng như chứng từ luân chuyển tiền mặt.
Giải pháp ứng dụng được thiết kế cho dạng giao dịch bất kỳ.
Trong giải pháp có thực thi tính năng kế toán từ quản lý danh mục và nhập chứng
từ gốc đến nhận các báo cáo phân tích khác nhau.
Giải pháp cho phép tiến hành kế toán quản trị doanh nghiệp
thương mại một cách toàn diện. Đối với doanh nghiệp có cơ cấu tập đoàn, chứng từ
có thể được lập thay cho nhiều doanh nghiệp thuộc tập đoàn.
''1C”Quản lý thương mại'' – đây là giải pháp đóng gói, mà cơ sở của giải pháp
này là nền tảng công nghệ mạnh mẽ ''1C:DOANH NGHIỆP 8''. Trong bộ cài đặt sản
phẩm, ngoài nền tảng còn có cấu hình ''1C:Quản lý thương mại''.
''1C:Quản lý thương mại'' đảm bảo chọn tự động dữ liệu cần để
tiến hành kế toán doanh nghiệp, cũng như chuyển dữ liệu này sang chương trình "1С:KẾ
TOÁN 8".
Đối với người lãnh đạo của doanh nghiệp, điều quan trọng là
hệ thống tự động hoá cần phải mang lại lợi ích thực tế. ''1C:Quản lý thương mại''
nâng cao hiệu quả làm việc của doanh nghiệp nhờ việc tự động hóa các nghiệp vụ
hàng ngày, nhờ việc tiến hành kế toán theo quy mô thời gian thực tế và nhờ việc
chuẩn bị thông tin thuận tiện, nhanh chóng để đưa ra các giải pháp ở các mức độ
khác nhau. Ưu điểm lớn của ''1C:Quản lý thương mại '' là hệ thống khởi động
nhanh và mang lại hiệu suất cao. Khi thay đổi quy mô, mô hình quản lý hoặc tổ
chức công việc tại doanh nghiệp, thì việc xây dựng lại hệ thống không mất nhiều
chi phí. Điều này có thể đạt được bằng cách xây dựng giải pháp kinh doanh trên
nền tảng công nghệ mạnh mẽ, hiện đại. Một ưu điểm quan trọng của hệ thống
''1C:DOANH NGHIỆP'' đó là tính phổ thông rộng rãi của việc xây dựng lại hệ thống:
hơn 3000 công ty chuyên nghiệp và nhiều chuyên gia được cấp chứng chỉ sẵn sàng
hỗ trợ doanh nghiệp của Bạn trong việc cài đặt, sử dụng và hoàn thiện tự động
hóa hệ thống sau này.
Giải pháp ứng dụng này không chỉ hướng đến việc tự động hóa
kế toán, mà còn để thực sự hỗ trợ nhà quản lý các cấp, từ giám đốc. Nhiều nhà
lãnh đạo đánh giá cao các công cụ mới khi phân tích tình huống một cách trực
tác hoặc khi nhận được diễn giải chi tiết các chỉ tiêu quan tâm.
Trong giải pháp mới, các chuyên gia quan tâm tập trung tối
đa đến việc đảm bảo tính hiệu quả làm việc hàng ngày của Bạn. Mở rộng tính năng
lập tất cả các văn bản cần thiết, quản lý việc luân chuyển hàng hóa và đặt giá,
tiếp nhận đơn đặt hàng và kiểm soát việc thực hiện chúng, tối ưu hóa việc dự trữ
hàng hoá theo kho, phân tích hàng hoá phát sinh, lập kế hoạch mua hàng và lấy
việc cung cấp các tính năng này làm công cụ trợ giúp đáng tin cậy của Bạn – về
một mảng hoạt động và bộ phận nào đó mà Bạn không chịu trách nhiệm. ''1C:Quản
lý thương mại'' cho phép thiết lập không gian thông tin thống nhất trong công
ty của Bạn, tổ chức hỗ trợ lẫn nhau giữa các bộ phận, giúp nhân viên làm việc theo
một nhóm thống nhất.
Các chương trình thuộc hệ thống ''1C:DOANH NGHIỆP'' trở
thành tiêu chuẩn công nghiệp của các giải pháp kế toán. Hệ thống ''1C:Quản lý
thương mại'' tiếp thu tất cả những gì tốt nhất trong nhiều năm phát triển của
các phiên bản trước. Trên thực tế, chức năng của hệ thống tự động hóa kế toán thương
mại kho tỏ ra là chức năng được ứng dụng đại trà nhiều nhất và hơn nữa hệ thống
được bổ sung một loạt tính năng mới. Khi sử dụng công cụ mới, mà công cụ này
giúp Bạn thoát khỏi công việc thủ công và làm cho công tác kế toán đến gần với
các yêu cầu của hoạt động kinh doanh thực tế. Khi đó việc hỗ trợ công nghệ-thông
tin thường xuyên của công ty 1VS cho phép tiến hành kế toán phù hợp với luật
pháp hiện hành. Dĩ nhiên là, ''1C:Quản lý thương mại'' cho phép chuyển các dữ
liệu kế toán cần thiết sang hệ thống kế toán doanh nghiệp.
''1C:DOANH NGHIỆP 8'' cung cấp cho Bạn bộ công cụ và công
nghệ phù hợp với tiêu chuẩn hiện đại nhất để tạo dựng, thay đổi, quản trị và bảo
trì hệ thống thông tin của doanh nghiệp (tập đoàn). Tất cả các công cụ nằm
trong bộ cài đặt sản phẩm ''1C:DOANH NGHIỆP 8'' do hãng 1C phát hành, Bạn sẽ
không phải trả chi phí bổ sung nào mà Bạn sẽ nhận được chính xác các công cụ đang
được người lập trình hãng ''1C'' sử dụng. Do đó, hệ thống đã cài đặt tại doanh
nghiệp sẽ không là ''hộp đen'' đối với các Bạn. Kinh nghiệm cho thấy, phần lớn những
người quản trị hệ thống và chuyên gia về tự động hóa chỉ cần một vài ngày là có
thể nắm vững các nguyên tắc xây dựng giải pháp ''1C:DOANH NGHIỆP'', sau đó họ có
thể hỗ trợ, đồng thời tuỳ ứng hệ thống phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp
mình. Điều không kém phần quan trọng là, Bạn có thể trở thành thành viên hội
chuyên gia có trình độ nghiệp vụ về''1C:DOANH NGHIỆP'', nhận được sự hỗ trợ khi
khai thác hệ thống, tận dụng khả năng tiếp xúc đa phương và trao đổi kinh nghiệp
với nhiều đồng nghiệp. Tính mở thực tế của hệ thống và việc dễ dàng tuỳ ứng hệ
thống, khả năng mở rộng quy mô và tích hợp, sự đơn giản và thuận tiện của việc
quản trị và hỗ trợ – tất cả điều đó cho phép Bạn tốn ít công sức khi giải quyết
các vấn đề công nghệ ở ''mức độ thấp'' và tập trung vào nhiệm vụ tự động hóa quy
trình nghiệp vụ của doanh nghiệp có tính sáng tạo và nội dung phong phú hơn.
Thời gian ngắn và triển khai hiệu quả, giá cả hợp lý và
chính sách cấp phép linh hoạt, bộ giải pháp mẫu và giải pháp chuyên ngành được ứng
dụng đại trà, công cụ tích hợp phát triển – đó chỉ là một phần các điểm mạnh
làm cho ''1C:DOANH NGHIỆP'' trở thành ''vật liệu xây dựng'' tốt nhất để xây hệ
thống thông tin đa dạng nhất. Nhiều công ty tư vấn và tích hợp hệ thống nhận xét:
việc áp dụng ''1C:DOANH NGHIỆP'' và hợp tác với hãng ''1C'' đã trở thành nhân tố
quan trọng để thành công trong các dự án của họ. Giảm rủi ro cho các dự án, có
thể cung cấp cho người đặt hàng dự án có khả năng cạnh tranh và thực hiện dự án
đó đã được sắp đặt theo thời hạn và dự trù, những điều này cho phép nâng cao uy
tín doanh nghiệp và lợi nhuận kinh doanh của Bạn, mở rộng khách hàng và đặt ra
công việc với khách hàng trên cơ sở công nghiệp.
Trong chương trình thực thi
việc quản lý quá trình bán hàng: quy định các bước của quy trình,
kiểm soát thực hiện quá trình và phân tích, áp dụng cơ chế quy trình
nghiệp vụ của hệ thống "1С:DOANH NGHIỆP", tự động theo các
giai đoạn của quy trình và lập nhiệm vụ cho người thực hiện.

Ngoài ra, có thực thi chế độ
quy trình bán hàng đơn giản với việc chuyển đổi giữa các giai đoạn một cách
"thủ công". Chương trình cho phép thiết lập nhiều dạng quy trình khác
nhau với các thành phần giai đoạn khác nhau. Đối với các dạng quy trình đều có
khả năng lưu lại tài liệu hỗ trợ như: quy định, hướng dẫn, khuôn mẫu chứng từ
và các tài liệu khác cần thiết khi hoàn thiện quy trình.
Hệ thống thu thập số liệu
và thực hiện việc thống kê các quy trình đang thực thi, đồng thời cho phép tính
toán xác suất đưa ra doanh số bán hàng tiềm năng cho đến khi có kết quả thành
công (phễu bán hàng) và phân tích "điểm trọng yếu" của
quy trình.(H.V báo cáo phễu bán hàng)
Tất cả chứng từ bán hàng (hợp
đồng) đều được ghi nhận trong hệ thống, kết hợp thành một tổng thể thống nhất.
Trong đó bao gồm tất cả các thông tin tích lũy trong hệ thống trong quá trình
chuẩn bị và thực hiện bán hàng như: E-mail, thông tin cuộc gọi, cuộc gặp, các
đơn hàng đã đặt, hóa đơn, phiếu giao hàng, các tệp bổ sung... Điều này giúp thuận
lợi nhất để tổ chức công việc cho người quản lý bán hàng.
Hệ thống cho phép ghi nhận
và phân tích môi trường giao dịch: đối thủ cạnh tranh, nhà thầu,
người có ảnh hưởng và các mối quan hệ. Dựa vào thống kê về các hợp đồng (giao dịch),
có thể đánh giá xác suất ký kết thành công các hợp đồng đó. Như vậy, hệ thống tự
động và hỗ trợ các giai đoạn bán hàng, cũng như việc chuẩn
bị bán hàng. Ngoài ra, hệ thống cho phép phân tích các giao dịch thất bại.
Việc này cần thiết để hoàn thiện công việc của bộ phận bán hàng.
Chương trình cho phép bạn
đánh giá cơ sở khách hàng một cách toàn diện bằng cách sử dụng công cụ phân loại
khách hàng theo ABC/XYZ. Để phân loại khách hàng АВС/XYZ, có sử dụng nhiệm vụ
thường kỳ, có thể được thực hiện phù hợp với lịch biểu do người sử dụng quy định.
Trong chương trình lưu lịch sử phân nhóm khách hàng. Dựa trên cơ sở phân nhóm
đó, có thể tiến hành phân tích toàn diện cơ sở khách hàng (BCG) theo một trong
những tham số phân loại: doanh thu, lợi nhuận (lãi gộp) hoặc số lượng hàng
bán.
Trong phiên bản mới, danh
sách đối tác được phân loại theo khái niệm kế toán pháp quy (cá nhân và pháp
nhân) và đối tượng phối hợp kinh doanh (khách hàng, nhà cung cấp, đối thủ cạnh
tranh và đối tác…). Điều đó cho phép tiến hành kế toán bán hàng và
ghi nhận lịch sử liên hệ với các đối tác "chính thức", cũng như ghi
nhận lịch sử liên hệ về các công ty – nhóm liên hệ, về bộ phận làm việc độc lập
của đối tác... Trong chương trình hỗ trợ quản lý thông tin về người
liên hệ của công ty, đối tác và mối liên kết giữa các
đối tác.
Trong cơ chế giá, đã có
thêm thuật toán tính giá dưới dạng truy vấn tùy ý đến cơ sở thông tin (ví dụ,
"nhận được giá mua trung bình trong tháng trước…") và dưới dạng công
thức tùy ý ("Giá_bán_lẻ = Giá_bán_buôn x 1.2"). Khả năng tính giá dựa
trên dữ liệu của cơ sở thông tin và việc ghi nhận dữ liệu về đơn giá của đối thủ
cạnh tranh, điều này cho phép theo dõi dữ liệu về đơn giá cao nhất tại thị trường
và giá mua thấp nhất có thể. Về sau những dữ liệu này được sử dụng để kiểm soát
giá bán và giá mua khi lập chứng từ bán hàng hoặc mua hàng.
Công thức tính giá có thể
được chi tiết hóa đến đơn giá cho nhóm hàng. Đối với mỗi đơn giá cho nhóm hàng,
có thể đưa ra công thức riêng để tính. Khi tạo công thức tính có thể sử dụng bộ
dựng cấu hình công thức.
Khi đặt giá, chương trình
cho biết: đơn giá nào là đơn giá phụ thuộc và đơn giá nào ảnh hưởng đến đơn giá
khác.
Như vâỵ, người sử dụng biết
trước xem họ cần thay đổi đơn giá nào sau khi thay đổi giá gốc. Việc tính giá
phụ thuộc vào việc thực hiện ở chế độ tự động sau khi thay đổi giá gốc. Ngoài
ra trong chương trình có các công cụ bổ sung điền và tính giá.
Trong chương trình có thực
thi cơ chế tính chiết khấu (phụ thu) tự động cho phép tùy chỉnh dạng chiết khấu
khi đáp ứng các điều kiện khác, cũng như các quy tắc áp dụng đồng thời nhiều loại
chiết khấu. Chiết khấu có thể được quy định cho ngành hàng cụ thể bằng biểu thức
phần trăm cũng như biểu thức số tiền. Phần trăm và số tiền chiết khấu có thể được
tính theo nhóm đơn giá.
Chiết khấu có thể được xác
định trong phạm vi tiến hành các chương trình Marketing.
Chiết khấu có thể được xác
định cho khách hàng cụ thể hay cho nhóm khách hàng (phân nhóm đối tác) trong
khuôn khổ hợp đồng thương mại đã lập với họ. Khái niệm hợp đồng thương mại với
khách hàng bao gồm giá, điều kiện thanh toán và điều kiện bán hàng
khác. Hệ thống tự động kiểm soát việc tuân thủ các điều kiện và phong tỏa thao
tác người sử dụng vi phạm. Hợp đồng có thể là hợp đồng riêng lẻ, cũng như hợp đồng
mẫu mô tả các điều kiện bán hàng giống nhau cho mỗi phân nhóm đối tác. Hợp đồng
thương mại là sự phát triển khái niệm “hợp đồng” được sử dụng trong phiên bản
trước của cấu hình.
Cơ chế phân nhóm cho
phép xác định nhóm khách hàng ổn định (ví dụ: "đại lý", "nhà
phân phối", "phải thu khó đòi"). Cụ thể, các nhóm được sử dụng để
hạn chế hiệu lực các hợp đồng thương mại (sau này dự tính mở rộng sử dụng phân nhóm
khách hàng như bộ lọc phân tích). Trong chương trình có hỗ trợ phương pháp lập phân nhóm một cách tự động hoặc thủ
công (theo yêu cầu bất kỳ).
Ví dụ, khi lập phân nhóm
khách hàng có thể tiến hành phân tích dữ liệu bán hàng của họ trong kỳ trước và
dựa vào kết quả phân tích này thay đổi phân nhóm có khách hàng đó. Khi thay đổi
phân nhóm cho khách hàng, chương trình sẽ tự động thay đổi điều kiện bán hàng
phù hợp với hợp đồng mẫu mà vẫn còn có hiệu lực với phân nhóm đối tác (khách
hàng) này. Việc chuyển khách hàng từ phân nhóm này sang phân nhóm có thể được
thực hiện tự động bằng nhiệm vụ thường kỳ hoặc theo lịch biểu thực hiện nhiệm vụ
do người sử dụng tùy chỉnh.
Bằng cách tương tự, chúng
ta thực hiện đối với cả ngành hàng.
Trong hệ thống thực hiện
ghi nhận nguồn phát sinh lợi nhuận của khách hàng (đối với
khách hàng mới, cũng như đối với các hợp đồng thứ hai) và phân tích nguồn phát
sinh đó. Điều đó cho phép tối ưu hóa ảnh hưởng của phương pháp quảng cáo đến
các khách hàng tiềm năng.
Trong chương trình theo dõi
toàn bộ quá trình bán hàng. Khi đó có thể thực hiện việc bán hàng theo một chu
trình bán hàng đầy đủ (bắt đầu từ khi chấp thuận đề xuất thương mại dựa trên dữ
liệu về lợi ích chính của khách hàng trong hợp đồng đã lập với họ), và không có
các đề xuất thương mại, đơn hàng lập từ trước, mà chúng được gọi là "sơ đồ
giản lược". Có thể có sơ đồ luân chuyển chứng từ bán hàng như hình vẽ sau
Đề xuất thương mại cho phép ghi nhận lịch sử việc đàm phán với
khách hàng để xác định thành phần và điều kiện bán hàng. Người quản lý lập đ��
xuất thương mại và có thể in nó dưới dạng .DOC (Microsoft Word) và .ODT
(OpenOffice.Org). Tiếp theo, người quản lý gửi đề xuất thương mại cho khách
hàng. Khách hàng gửi lại trả lời mà được xác định dựa theo cơ sở đề xuất thương
mại gốc (ban đầu). Theo kết quả thoả thuận, người quản lý đánh dấu các điều khoản
mà khách hàng đã đồng ý.
Theo dữ liệu thoả thuận,
chương trình lập ra đơn hàng của khách. Trong cấu hình "Quản lý Thương mại",
đơn hàng là "Trung tâm điều khiển" tất cả mọi tác động tiếp theo về
việc xử lý đơn hàng. Trong chương trình có sử dụng trạng thái đơn hàng (Chưa
chấp thuận, Đã chấp thuận, Chờ đảm bảo, Chờ giao, Đã đóng) để mô tả các
giai đoạn thực hiện đơn hàng. Dựa vào trạng thái, thông tin thanh toán và giao
hàng, chương trình tự động tính toán trạng thái sẵn sàng hiện tại của đơn hàng
(Chờ ứng trước, Sẵn sàng giao hàng…).
Vào thời điểm bất kỳ, người
quản lý có thể nhận được thông tin chi tiết về trạng thái đơn hàng: đơn hàng của
khách cần được thanh toán như thế nào tương ứng với các giai đoạn thanh toán đã
ghi nhận trong đơn hàng, đơn hàng đang ở trạng thái thanh toán nào, đã thực hiện
hoặc chưa thực hiện giao hàng.
Hệ thống tự động kiểm soát
sự phù hợp của đơn hàng với các điều kiện của thỏa thuận thương mại mà người sử
dụng không có quyền tương ứng không được phép vi phạm các điều khoản này. Để chấp
thuận việc sai lệch so với điều kiện thoả thuận, người sử dụng trên có thể khởi
động quy trình nghiệp vụ thỏa thuận đơn hàng. Khi đó hệ thống tự động
gửi nhiệm vụ chấp thuận đơn hàng cho người được ủy quyền và duyệt đơn hàng khi
người được ủy quyền đồng ý.
Cấu hình cung cấp tính năng
chỉ ra lịch biểu thanh toán đơn hàng của khách (như là một phần
thanh toán tạm ứng, cũng như thanh toán giảm trừ công nợ phải thu). Biểu đồ có
thể được lập bằng việc tính toán theo lịch biểu đã chọn.
Điều đó cho phép bạn
ghi nhận doanh thu theo ngày, kiểm tra việc tuân thủ thời hạn thanh
toán đã thoả thuận của khách hàng, tách ra công nợ phải thu quá hạn. Công nợ
quá hạn có thể được phân tích theo từng giai đoạn thanh toán được ghi nhận
trong đơn hàng của khách. Ngoài ra trong chương trình có chỉ ra ngày thanh toán
khi thực hiện bán hàng trả sau mà chưa lập đơn hàng từ trước đó. Công nợ này sẽ
được tính vào "Thanh toán sau khi giao
hàng".
Hệ thống cho phép phân loại
công nợ quá hạn theo các khoảng trễ thanh toán.
Ở các giai đoạn khác nhau,
đơn hàng có thể được coi là lệnh đảm bảo, hoặc để giao hàng và lập
chứng từ. Khi xuất trình lệnh giao hàng, chương trình tự động kiểm soát dữ kiện
thực hiện trách nhiệm của khách hàng về việc thanh toán theo từng giai đoạn đã
chỉ ra trong đơn hàng. Ví dụ, lệnh đảm bảo hàng hóa theo đơn hàng của khách
không thể được lập cho đến khi khách hàng chưa trả tiền thanh toán.
Thông tin về các lệnh, mà
theo đó có thể lập chứng từ giao hàng (xuất hàng) được tự động ghi nhận dưới dạng
danh sách lệnh. Hơn nữa, khi đó chương trình tính ngày giao hàng được chỉ ra
cho hàng hóa trong đơn hàng của khách.
Việc kiểm soát thực hiện lệnh
được tiến hành có tính đến từng mục riêng biệt của đơn hàng. Hệ thống ngăn chặn
việc "thực hiện quá hạn mức" của lệnh. Để kiểm soát thực hiện lệnh
giao hàng và lệnh lập chứng từ, có sử dụng các báo cáo tương ứng.
Trong chương trình tiến
hành kế toán công nợ dự tính và công nợ thực tế theo từng đơn hàng, thời hạn
thanh toán và chứng từ hạch toán. Do đó công việc của người sử dụng rất đơn giản:
phân bổ thủ công việc thanh toán chỉ theo các đơn hàng, việc phân bổ từng phần
(mặt cắt) còn lại được tự động thực hiện ở chế độ nền.
Trong chương
trình thực thi tính năng quản lý đại diện thương mại: gắn kết đại
lý với khách hàng, đặt lịch biểu ghé thăm, lập kế họach đi thăm khách hàng, lập
các nhiệm vụ chi tiết thu thập đơn hàng và giải quyết các vấn đề khác.
Theo kết quả xử
lý các nhiệm vụ trong cơ sở thông tin, có thể tự động tạo đơn hàng của khách.
Ngoài ra còn ghi nhận thông tin về chi phí của đại diện thương mại (báo cáo
hoàn ứng) và thông tin bổ sung về khách hàng.
Ngoài ra trong chương trình còn có tính năng làm việc độc lập
với các đại diện thương mại mà không cần lập nhiệm vụ từ trước. Có nghĩa
là, thông tin về hàng hóa và khách hàng của doanh nghiệp thương mại được chuyển
cho đại lý bán hàng. Sau khi làm việc với khách hàng, đại lý xác định đơn hàng
đã lập, ghi rõ thông tin về khách hàng hoặc nhập dữ liệu về khách hàng mới, ghi
nhận số liệu chi phí.
Việc phân tích hoạt động của đại lý được thực hiện bằng các
báo cáo khác nhau, mà nhờ đó có thể so sánh hoạt động của các đại lý theo hiệu
quả làm việc của họ, cũng như tiến hành phân tích hoạt động dự tính
và thực tế của đại lý.
Dựa trên cơ sở "Cấu phần mở rộng cho các máy tính bỏ
túi" có thực thi ứng dụng tự động công việc của đại lý trên máy
tính bỏ túi. Ứng dụng thực hiện trao đổi dữ liệu với cơ sở thông tin của cấu
hình "Quản lý thương mại" và cho phép xem các nhiệm vụ nhận được trên
máy tính con, đánh dấu nhiệm vụ được xử lý, xem số dư hàng hóa, tiếp nhận đơn
hàng của khách, điền báo cáo tạm ứng.
Chỉ có thể trao đổi với máy tính con trong trường hợp có sử
dụng cấu phần trao đổi dữ liệu mới (không sử dụng Server của các ứng dụng cơ động,
chi tiết xem tại đây).
Trong chương trình thực thi tính năng giấy đề nghị thanh toán,
hỗ trợ các giai đoạn lập và phê duyệt giấy đề nghị, kiểm soát việc thanh toán
theo giấy đề nghị. Căn cứ vào giấy đề nghị, cũng như lịch trình thanh toán theo
đơn hàng của khách và đơn hàng đặt nhà cung cấp, hệ thống sẽ lập ra lịch biểu
thanh toán, nhờ đó bạn có thể dự tính chi tiết về biến động và số dư tiền mặt,
phân bổ ủy nhiệm chi, phát hiện chênh lệch về tiền và sử dụng các biện pháp khắc
phục các chênh lệch đó.
Trong kế toán tiền gửi có tách rời việc ghi nhận thông tin về
ủy nhiệm chi và ủy nhiệm thu (theo chứng từ thanh toán gốc) và việc ghi nhận bản
sao kê (được thực hiện bằng từng chứng từ riêng biệt). Điều này cho phép nâng
cao tính linh động của kế toán (cụ thể là động khi hạch toán),
khi đó tránh sai lệch trong kế toán tiền gửi ngân hàng, cho phép đơn giản hóa xử
lý việc ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi và bản sao kê, đồng thời cho phép kiểm soát
đầy đủ vốn bằng tiền trong quá trình thu, chi hoặc chuyển tiền.
Trong chương trình có thực thi hạch toán với ngân hàng theo
các giao dịch thẻ thanh toán. Ngoài việc ghi nhận giao dịch thanh toán
và trả lại theo thẻ thanh toán, bổ sung giai đoạn ghi nhận báo
cáo từ ngân hàng theo ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, ghi giảm các khoản
trả lại, giữ lại khoản ký gửi, điều đó cho phép theo dõi giao dịch này từ khi
thực hiện thanh toán đến khi tiền vào tài khoản ngân hàng.
Trong chương trình thực thi sơ đồ kế toán kho theo hai pha.
Sơ đồ này có thể được sử dụng đối với giao dịch giao hàng và tiếp nhận một cách
độc lập. Kế toán kho theo hai pha được ghi chép cẩn thận dựa trên chứng từ – lệnh,
đơn hàng hoặc phiếu xuất kho được coi là chứng từ. Trong chương trình có tiến
hành kế toán các lệnh đã nhập, nhưng chưa được thực hiện; công nghệ làm việc của
kho có thể được xây dựng hoàn toàn "theo các lệnh điện tử".
Trong chương trình thực thi lưu địa chỉ hàng hóa, có nghĩa
là tiến hành lưu kho hàng hóa theo từng "nơi cất giữ" (đơn vị, kệ,
giá) và gói hàng. Hệ thống cho phép quản lý việc sắp xếp hàng hóa theo từng nơi
cất giữ khi tiếp nhận hàng, quản lý việc đóng gói (lắp ghép) từ nơi cất giữ
hàng khi giao nhận, cũng như quản lý việc điều chuyển và bốc dỡ gói hàng. Thuật
toán được đưa vào hệ thống, tự động chọn nơi cất giữ tối ưu khi sắp xếp và đóng
gói hàng hóa, theo dõi việc không xảy ra xung đột khi cường độ giao dịch liên
quan đến kho lớn.
Lưu địa chỉ của hàng hóa có thể được sử dụng theo tùy chọn.
Ngoài việc lưu như vậy trong chương trình có hỗ trợ gắn kèm danh mục kho cất giữ
hàng hóa.
Vào bất cứ thời điểm nào cũng có thể kiểm soát quá trình
đóng bộ hàng hóa tại kho phù hợp với các lệnh "điện tử" đưa ra hoặc
quá trình bố trí hàng hóa tiếp nhận.
Trong chương trình có thực thi quá trình kiểm kê hàng hóa
nhiều bước, bao gồm lập quyết định kiểm kê, lệnh kiểm soát lại số dư tại các
kho, phản ánh hàng hóa thừa, thiếu vào kế toán doanh nghiệp và kế toán tài
chính.
Đáng nói tới là trong chương trình phát triển cơ chế
dự trữ hàng hóa. Hệ thống cho phép lập kế họach giao hàng từ kho (theo
các đơn hàng xuất) có tính đến việc tiếp nhận hàng hóa vào kho sau này (theo các
đơn hàng nhập), đồng thời kiểm soát các đơn hàng, để dựa vào biểu đồ số
dư hàng hóa kết quả nhận được không nằm trong khoảng âm.
Khi lập đơn hàng của khách, người quản lý bán hàng chỉ ra
ngày muốn giao hàng, hệ thống kiểm soát việc sẵn có hàng hóa vào ngày đó và nếu
thiếu hàng thì đề xuất ngày giao hàng gần nhất có thể. Khác với phiên bản 10.3
trước đây, không cần phân chia "chặt chẽ" đơn hàng mua và đơn hàng
bán. Việc so sánh được thực hiện chỉ theo ngày dự tính nhận hàng và giao hàng,
nhờ đó đơn giản đáng kể công việc của người sử dụng. Hỗ trợ quản lý trượt thủ
công, cũng như quản lý trượt tự động có giới hạn, mà trước giới hạn này thực hiện
kiểm soát lịch biểu số dư hàng hóa. Để kiểm soát ngày cung cấp hàng hóa, có sử
dụng "Lịch biểu hàng hóa", từ đó có thể được lập vào ngày bất kỳ,
trong đó có thể dự báo số liệu hàng giao và hàng nhận vào ngày trong tương
lai.
Điều quan trọng cần lưu ý là việc kiểm soát lịch biểu được
thực hiện khi nhập nghiệp vụ đơn hàng của khách, cũng như khi soạn và kết chuyển
"hồi tố", nhờ đó loại bỏ khả năng sai sót trong những tình huống này.
Bên cạnh đó, việc kiểm soát có thể bị ngắt hoàn toàn hoặc được
thực hiện lại theo chế độ, khi mà việc giao hàng được đảm bảo chỉ từ hàng hóa
dư (không tính đến dự tính nhập hàng).
Giải pháp cho phép tự động tính nhu cầu dự trữ hàng và nhập
đơn mua hàng (từ nhà cung cấp hoặc từ kho khác). Việc tính toán nhu cầu dự trữ
đó được thực hiện dựa vào dự tính đối với hàng hóa có giới hạn vận chuyển và giới
hạn hàng hóa (phương pháp bổ sung dự trữ hàng hóa tại kho).
Trong chương trình hỗ trợ nhiều chiến lược bổ sung dự trữ
hàng: lập kế họach theo lịch – khối lượng dựa vào dự đoán nhu
cầu, "đơn hàng theo điểm bán có đặt hàng bổ sung" (có khối lượng
xác định hoặc có khoảng thời gian giao hàng thường xuyên), "đơn hàng nối
tiếp đơn hàng". Chiến lược khác nhau nhằm bổ sung hàng hóa có thể được
xác định riêng biệt cho mỗi mặt hàng tại mỗi kho. Chiến lược bổ sung hàng tồn
kho có thể được tính toán một cách tự động dựa vào bảng phân loại hàng
tồn kho ABC/XYZ. Ngoài ra trong chương trình có khả năng thay đổi thủ
công chiến lược quản lý hàng tồn kho.
Ví dụ. Tương ứng với bảng phân loại hàng tồn kho ABC/XYZ đã
tạo ra, hàng trong nhóm A.X là hàng hóa bán ra đều đặn, bán chạy, có nghĩa là
mang lại doanh thu lớn cho doanh nghiệp thương mại). Đối với hàng hóa như vậy
thiết lập phương pháp "Lập kế họach theo lịch biểu – khối lượng".
Phương pháp "Đơn hàng nối tiếp đơn hàng" được thiết lập
cho hàng hóa thuộc nhóm A.Z. Tại kho không lưu kho các hàng hóa như vậy, hàng hóa
đặt nhà cung cấp chỉ khi khách hàng có nhu cầu mua (lập đơn hàng của khách).
Một bức tranh hoàn thiện về phương pháp cần bổ sung hàng dự
trữ tại kho được hiển thị trong bộ xử lý Quản lý hàng tồn kho.
Đối với hàng hóa, phụ thuộc vào phương pháp quản lý dự trữ
hàng đã chọn, có thể chỉ ra dữ liệu giúp hạch toán đúng số lượng hàng hóa cần đảm
bảo. Ví dụ, trong trường hợp lập kế họach theo lịch biểu khối lượng, tham số được
chỉ ra là thông tin về số lượng hàng hóa, mà dự tính giao theo đơn hàng hoặc cần
nhận từ nhà cung cấp hoặc từ kho khác, cũng như thông tin về hàng tồn định mức,
hàng tồn tối thiểu và nhu cầu dự tính. Khi hạch toán số lượng nhu cầu lựa chọn
chỉ tiêu tối đa trong số các chỉ tiêu đã định.
Tương ứng với dữ liệu được trình bày trong bộ xử lý, chương
trình tự động tạo đề xuất mua hàng của nhà cung cấp hoặc đề xuất điều chuyển
hàng hóa từ kho khác. Dựa trên cơ sở những đề xuất này, có thể tự động lập đơn
hàng, lệnh điều chuyển và lệnh đóng bộ (lắp rắp) hàng hóa.
Trong chương trình có khả năng ghi nhận giá của nhà cung c���p
(bảng giá của nhà cung cấp). Khi ghi nhận giá của nhà cung cấp có thể xác định
các điều kiện bán khác nhau (khối lượng giao tối thiểu và thời hạn giao
hàng).
Để so sánh điều kiện do các nhà cung cấp khác nhau đưa ra và
chọn nhà cung cấp tốt nhất có thể sử dụng báo cáo "Điều kiện thỏa thuận
mua hàng".
Việc thanh toán cho nhà cung cấp có thể được thực hiện theo
từng giai đoạn phù hợp với các giai đoạn thanh toán đã chỉ ra trong đơn hàng đặt
nhà cung cấp.
Trong danh sách đơn hàng đặt nhà cung cấp, có thể đặt phễu lọc
đưa ra các thông tin phù hợp với từng trạng thái.
Bằng báo cáo "Phân tích công nợ với nhà cung cấp"
có thể kiểm soát trạng thái công nợ với nhà cung cấp theo từng khoảng thời gian
của công nợ.
Trong chương trình hỗ trợ sơ đồ làm việc, khi đó hàng hóa được
mua vào một doanh nghiệp của công ty, và bán ra từ các doanh nghiệp khác
("công ty liên kết").
Khi đó, tương ứng với các nguyên tắc đưa ra, trong chương
trình tự động chọn doanh nghiệp – chủ sở hữu hàng hóa được bán, lập chứng từ
bán lại hàng hóa giữa các doanh nghiệp trong cùng một công ty.
Kế toán giá thành trong chương trình được thực hiện
theo từng doanh nghiệp, nhờ đó cho phép nâng cao tính so sánh với kế
toán doanh nghiệp.
Tính toán kết quả hoạt động kinh doanh (lãi, lỗ) được thực
hiện theo từng mảng hoạt động của doanh nghiệp. Thành phần của
mảng hoạt động có thể được xác định rất linh hoạt, ví dụ, mảng hoạt động có thể
tương ứng với các điểm bán hàng (đối với doanh nghiệp bán lẻ), với mặt hàng (đối
với sản phẩm đóng gói), với dự án...
Trong chương trình hỗ trợ việc mô tả các quy tắc
phân bổ bất kỳ đối với giá thành và doanh thu từ hoạt động bán hàng dựa
vào việc phân tích bán hàng.
Điều này cho phép phân tích chi tiết hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp và phát triển kinh doanh, đồng thời tối ưu hóa thành phần định hướng
phát triển trong hoạt động kinh doanh.
Việc ghi nhận và tính toán chi phí khác được
thực hiện theo từng dạng chi phí và đối tượng phân tích bổ sung mà
được xác định bởi dạng chi phí. Việc tùy chỉnh đối tượng bổ sung có thể được thực
hiện theo chế độ 1C:DOANH NGHIỆP. Ví dụ, chi phí bổ sung mua hàng hoặc bán hàng
có thể được tính vào đơn hàng tương ứng, chi phí lưu kho – tính vào kho… Điều
này, một mặt cho phép phân tích chi tiết cấu trúc chi phí, mặt khác, cho phép
so sánh chi phí với doanh thu theo các đối tượng phân tích.
Chi phí khác khi phân bổ có thể được tính vào giá thành hàng
tồn kho hoặc theo các nguyên tắc đã tùy chỉnh, mà chi phí này được ghi giảm trực
tiếp vào hoạt động kinh doanh.
Kế toán thu nhập khác được thực hiện tương tự như kế toán
chi phí khác.
Cấu hình "Quản lý
thương mại" được phát triển ở chế độ "Ứng dụng được điều khiển"
trên nền tảng "1С:DOANH NGHỆP 8.2" và sử dụng các tính năng mới của ứng
dụng này. Ngoài ra, trong cấu hình còn thực thi một loạt đổi mới của công nghệ
khác.
Trong cấu hình đã hoàn toàn
sửa lại cơ chế kết chuyển chứng từ. Kiểm soát linh hoạt kết quả kết chuyển được
thực hiện chỉ sau khi lập các bản ghi, khác với phiên bản 10.3 (việc kiểm tra được
thực hiện trước khi kết chuyển). Giải pháp này cho phép tách riêng thuật toán kết
chuyển và thuật toán kiểm tra bằng cách đơn giản hóa triệt để mã nguồn tương ứng
trong chương trình, và như vậy, quan trọng là nhằm đơn giản hóa việc chỉnh sửa
cấu hình, giảm số lượng lỗi có thể xảy ra, tăng hiệu suất của hệ thống.
Khi cần, việc kiểm tra được
thực hiện ngay khi kết chuyển lại có "hồi tố" và cả khi hủy kết chuyển
chứng từ. Ví dụ, hệ thống không cho phép hủy lệnh giao hàng, khi mà một phần
hàng hóa trong lệnh đó đã thực hiện.
Trong cấu hình có thực thi
chức năng cơ bản trong việc tự động hóa quy trình nghiệp vụ: cơ chế đa năng để
tùy chỉnh các quy trình, kiểm tra và phân tích việc thực hiện các quy trình, hỗ
trợ các quy trình nghiệp vụ hệ thống trong giải pháp mẫu và cho phép phát triển
thành phần của quy trình khi triển khai cụ thể với chi phí thấp nhất.
Trong cấu hình thực thi một
loạt phân hệ, cơ chế và công nghệ coi như là giải pháp ứng dụng chuẩn được tạo
dựng ở chế độ "Ứng dụng được điều khiển", cụ thể:
·
kết nối thiết bị ngoại vi (thiết bị bán
hàng...),
·
in,
·
lập chứng từ dưới định dạng .DOC (Microsoft
Word) và .ODT (OpenOffice.Org),
·
làm việc với các tệp,
·
quản lý phiên bản của chứng từ…
1. Có thể xem ví
dụ triển khai giải pháp "1C:Quản lý thương mại" ở đâu?
Đối tác của hãng
1C thực hiện việc triển khai giải pháp. Các ví dụ triển khai được đăng tải
trong danh mục "Thông tin triển khai" trên website www.1c.ru.
Thông tin này được cung cấp tự nguyện bởi đối tác và được sự cho phép của khách
hàng nên ở đây chỉ cung cấp một phần nhỏ ứng dụng thành công "1C:Quản lý
thương mại". Chúng tôi hi vọng rằng, sau khi triển khai thành công
giải pháp này tại doanh nghiệp của bạn, thông tin doanh nghiệp của bạn sẽ có
trong danh mục "Thông tin triển khai".
2. Toàn bộ đối
tác của hãng "1C" có thể tham gia bán hàng và triển khai giải pháp
"1C:Quản lý thương mại"?
Quyền bán hàng và
triển khai giải pháp ứng dụng dựa trên nền tảng "1C:DOANH NGHIỆP 8"
được xác định bằng hợp đồng Franchise giữa hãng 1C và đối tác của hãng 1C. Để
nhận được quyền này cần thực hiện các điều kiện, trong đó có điều kiện về đào tạo
và cấp chứng chỉ chuyên gia đối tác của hãng. Khi thực hiện các điều kiện này
các đối tác sẽ nằm trong danh sách đối tác được đề xuất triển khai
giải pháp ứng dụng trên cơ sở "1C:DOANH NGHIỆP 8".
3. Có thể ứng
dụng giải pháp "1C:Quản lý thương mại" ở cửa hàng nhỏ không?
Có, cấu hình
"Quản lý thương mại" do hãng 1C phát hành được thiết kế cho các doanh
nghiệp thương mại có quy mô khác nhau. Và đối với các cửa hàng nhỏ vẫn đảm bảo
các tính năng tự động đúng như dành cho “cửa hàng lớn”, lúc này doanh nghiệp có
thể sử dụng chính xác một phần chức năng của chương trình mà họ cần. Ví dụ, nếu
doanh nghiệp không cần lập kế họach bán hàng hoặc không cần phân loại mặt hàng
theo danh mục đặc tính mà không bắt buộc. Bạn không nên lo lắng về các tính
năng mở rộng – đối với công việc thực tế, doanh nghiệp không bắt buộc phải thực
hiện toàn bộ các phần trong chương trình như là điều này thường có trong
"các hệ thống dành cho doanh nghiệp nhỏ", mà được chuyển đổi từ hệ thống
"lớn".
4. Chương trình
"1C:Quản lý thương mại" có phù hợp đối với doanh nghiệp thương mại
vừa có 15 chỗ làm việc hay không?
Có, cấu hình mẫu
"Quản lý thương mại" được xây dựng để tự động hóa việc quản lý của
doanh nghiệp thương mại từ lãnh đạo đến nhân viên trong hệ thống.
5. Xin hãy nói
qua về hiệu suất hoạt động của hệ thống 1C:DOANH NGHIỆP 8?
Các khía cạnh
khác nhau về quy mô hiệu suất của hệ thống 1C:DOANH NGHIỆP 8 được xem xét trong
sách chuyên ngành và được mô tả trên website
www.1vs.vn. Nếu nói một
cách ngắn gọn là, chúng ta hiểu hiệu suất của hệ thống phụ thuộc ít vào phụ tải
do tăng quy mô hiệu suất.
6. Có thể là hệ
thống 1C:DOANH NGHIỆP 8 được áp dụng cho tập đoàn, nhưng hệ thống sẽ không phù
hợp với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Điều này có phù hợp với thực tế hay không?
Không, việc khẳng
định này là không phù hợp với thực tế. Việc tăng quy mô hiệu suất và khả năng làm
việc với phụ tải lớn không có nghĩa là định hướng giải pháp ứng dụng chỉ dành
cho tập đoàn.
7. Được biết,
làm việc với giải pháp ứng dụng trên nền tảng mới có nghĩa là, khi đó số lượng
máy tính phải lớn hơn 50. Điều này có đúng và phù hợp hay không?
Không, điều đó
không đúng. Khả năng làm việc của 1C:DOANH NGHIỆP 8 với số lượng lớn phiên làm
việc không có nghĩa là, nền tảng này và tất cả các giải pháp ứng dụng được định
hướng chỉ dành cho nơi làm việc có số lượng lớn. Trong số người sử dụng giải
pháp "Quản lý thương mại" có đủ cả các doanh nghiệp nhỏ với số lượng
nơi làm việc từ 1 đến 20 máy.
8. Giám đốc
doanh nghiệp có thể nhận được thông tin về các chỉ tiêu cơ bản công việc của
họ, mà không cần tải chương trình và cũng không được đào tạo để làm việc chương
trình?
Có, trong cấu
hình mẫu "Quản lý thương mại" xem xét cơ chế "Báo cáo dành cho
lãnh đạo", mà cơ chế này cho phép thường xuyên gửi cho giám đốc thông tin
về chỉ tiêu bất kỳ hiện có về công việc của doanh nghiệp dưới dạng văn bản, bảng
hoặc đồ thị. Thông tin có thể được gửi qua E-mail và người quản lý có thể xem
thông tin này ở bất kỳ nơi nào trên thế giới.
9. Chương trình
có cho phép đánh giá thời hạn trung bình lưu kho hàng hóa tại các kho hoặc ở
người nhận bán ký gửi?
Có, hệ thống hệ
thống của báo cáo phân tích trong cấu hình mẫu "Quản lý thương mại"
cho phép phân tích vòng quay hàng hóa. Để thực hiện điều này cần sử dụng báo
cáo "Phân tích vòng quay hàng hóa".
10. Bằng chương
trình có thể đánh giá hàng hóa hoặc nhóm hàng hóa đang "ứ đọng"?
Có, chương trình
có thể tiến hành đánh giá điều đó, khi sử dụng báo cáo "Phân tích vòng
quay hàng hóa" sau khi phân tích hoặc lọc hàng hóa theo thời hạn trung
bình lưu kho dài.
11. Có thể so
sánh khối lượng hàng bán và lợi nhuận có được khi bán hàng hóa do những người
quản lý khác nhau của doanh nghiệp thực hiện hay không?
Có, để
phân tích công việc của những người quản lý bán hàng theo các chỉ tiêu khác nhau, chúng tôi đề xuất sử dụng báo cáo
"Chỉ tiêu công việc của người sử dụng". Bằng báo cáo "Báo cáo dành
cho lãnh đạo" có thể nhận được thông tin để đánh giá người quản lý.
12. Giám đốc có
thể đánh giá hiệu quả của việc thực hiện các chương trình Marketing hay không?
Có, để đánh giá
chương trình marketing sử dụng báo cáo "Phân tích các tiếp xúc và nguồn thông
tin của khách hàng". Có thể xem xét tổng kết nguồn thông tin trong báo cáo
"Báo cáo dành cho lãnh đạo".
13. Giám đốc
thương mại (kinh doanh) có thể nhận được thông tin biểu đồ, ví dụ, về lợi nhuận
từ việc bán các loại hàng hóa khác nhau hay không?
Có, để nhận được
thông tin như vậy, Bạn có thể sử dụng báo cáo "Bán hàng" sau khi chọn
loạt mặt hàng và lập biểu đồ tròn.
14. Người quản
lý khu vực có thể nhận được biểu đồ so sánh khối lượng hàng bán ở các vùng khác
hay không?
Có, để nhận được
thông tin như vậy Bạn có thể sử dụng báo cáo "Bán hàng" (dạng biểu đồ).
Thông tin về vùng được ghi nhận trên thẻ Khách hàng mới. Việc tùy chỉnh báo cáo
cho phép so sánh thông tin bán hàng ở các vùng khác nhau.
15. Trong chương
trình có báo cáo quản lý chuẩn về hàng bán, ví dụ, những loại mặt hàng nào được
bán chạy nhất ở các vùng khác nhau hay không?
Có, để nhận thông
tin như vậy có thể sử dụng báo cáo "Bán hàng".
16. Không cần
người lập trình, từ cấu hình mẫu có thể đưa ra biểu đồ so sánh biến động hàng
bán của một số loại hàng cụ thể và xác định, vào thời gian (kỳ) nào hàng hóa
này bán chạy nhất hay không?
Có, có thể, để thực
hiện điều này Bạn sử dụng báo cáo "Bán hàng (dạng biểu đồ)". Có thể
hiển thị báo cáo dưới dạng biểu đồ vào kỳ nào đó có gom nhóm theo ngày, tuần,
tháng. Trong báo cáo "Báo cáo dành cho lãnh đạo" có thể so sánh khối
lượng hàng bán với kỳ trước của năm hiện tại hoặc với kỳ tương tự của năm trước.
17. Trong chương
trình có lập ra bảng kê hóa đơn, chứng từ hàng hóa, dịch vụ mua vào và bán ra
hay không?
Có. Trong chương
trình có thể lập bảng kê hóa đơn, chứng từ hàng hóa, dịch v��� mua vào và bán ra,
cũng có thê đánh giá số tiền thuế GTGT theo các giao dịch thương mại đã thực hiện trong
chương trình. Về sau, dữ liệu từ hệ thống bán hàng có thể được kết xuất vào
chương trình kế toán và dựa trên các dữ liệu này và dữ liệu của chương trình kế
toán có thể tính toán đầy đủ thuế GTGT theo tất cả các giao dịch.
18. Có thể kết
xuất dữ liệu theo kế toán thuế và kế toán doanh nghiệp sang chương trình
"1C:KẾ TOÁN 8"?
Có. Việc kết xuất
chứng từ bán hàng liên quan đến kế toán pháp quy từ cấu hình "Quản lý
thương mại" sang chương trình kế toán được xem xét. Khi đó việc kết xuất
được thực hiện vào chương trình kế toán – "1C:KẾ TOÁN 8".
19. Có thể thực
hiện tùy chỉnh sơ đồ các bút toán và có thể nhập thay đổi vào sơ đồ các bút
toán đó được không?
Khi trao đổi dữ
liệu từ cấu hình "Quản lý thương mại" sang chương trình kế toán, thực
hiện kết xuất các chứng từ của kế toán pháp quy. Các bút toán theo các chứng từ
này được lập trong chương trình kế toán. Phương pháp này làm cho công việc
trong chương trình bán hàng không phụ thuộc vào thay đổi của luật pháp, hệ thống
tài khoản và sơ đồ các bút toán.
20. Doanh nghiệp
sản xuất có thể áp dụng chương trình "1C:Quản lý thương mại" và lập
các giao dịch tiếp nhận và giao nguyên vật liệu và thành phẩm hay không?
Chúng tôi khuyến
cáo áp dụng chương trình này để tự động hóa hoạt động quản lý và kế toán của
doanh nghiệp thương mại. Hiện nay, chúng tôi chưa thấy trở ngại nào khi áp dụng chương trình cho
doanh nghiệp sản xuất để tự động hóa kế toán kho và kế toán bán hàng. Để tự động
hóa kế toán sản xuất, tốt nhất, bạn nên áp dụng giải pháp chuyên ngành.
21. Có thực hiện
kế toán các giao dịch nhập khẩu hàng hóa trong chương trình hay không?
Có, trong cấu
hình mẫu hỗ trợ kế toán hàng hóa nhập khẩu, nước xuất xứ và số tờ khai hải
quan.
22. Chương trình
có hỗ trợ làm việc với các tờ khai hải quan, đi kèm với hàng hóa nhập khẩu hay
không?
Có, trong cấu
hình mẫu "Quản lý thương mại" hỗ trợ kế toán tờ khai hải quan.
23. Có thể phản
ánh trong chương trình mức thuế quan và lệ phí phải nộp khi mua hàng hóa nhập
khẩu?
Có, trong cấu
hình mẫu có thể phản ánh chi phí bổ sung liên quan đến việc cung cấp và giao
hàng, mà trong đó còn có thể việc thanh toán thuế quan.
24. Có thể lập
giao dịch hàng đổi hàng trong chương trình hay không?
Có, để thực hiện
điều này trong cấu hình mẫu có chứng từ "Điều chỉnh công nợ".
25. Có khả năng
lập chứng từ chi tiền tạm ứng cá nhân và báo cáo ứng trước trong chương trình
hay không?
Có, trong cấu
hình mẫu "Quản lý thương mại" có thể lập phiếu chi tiền tạm ứng cá
nhân và báo cáo tạm ứng của cá nhân.
26. Người quản
lý mua hàng có thể lập chứng từ chi công tác, chi đi lại, chi xăng dầu… hay
không?
Có, thông tin về
chi phí công tác và chi phí khác của cá nhân được phản ánh trong báo cáo tạm ứng.
27. Trong chương
trình có thể lập chứng từ tiếp nhận tài sản cố định (TSCĐ) hữu hình và các tiếp
nhận khác không liên quan đến hoạt động bán hàng hay không?
Khi tạo dựng cấu
hình "Quản lý thương mại" giả định rằng, kế toán thuế và kế toán
doanh nghiệp có đầy đủ giá trị của TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình được thực hiện
trong chương trình kế toán. Để phản ánh tương tự trong kế toán quản trị chi phí
mua TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình, cũng như các tiếp nhận khác không liên quan
đến hoạt động bán hàng, có thể sử dụng chứng từ thanh toán "Phiếu
chi" và "Ủy nhiệm chi" với dạng giao dịch “Chi khác” và có thể
phân tích chi tiền theo các dạng lưu chuyển tiền tệ.
28. Có thể lập
trong chương trình chứng từ nhận tín dụng từ ngân hàng, cũng như các thu tiền
khác vào tài khoản ngân hàng của doanh nghiệp, mà không liên quan đến giao dịch
thương mại?
Đặc biệt là để lập
các giao dịch như vậy, Bạn cần nhập dạng giao dịch bổ sung cho các chứng từ
thanh toán "Chi (thu) khác tiền mặt". Hơn nữa, việc thu và chi tiền
có thể được phân loại theo các dạng lưu chuyển tiền tệ. Để thực hiện điều này
trong chương trình có danh mục đặc biệt. Trong "Báo cáo lưu chuyển tiền tệ"
có thểm xem xét phân bố tiền mặt theo từng dạng lưu chuyển tiền tệ và phân loại,
ví dụ, có bao nhiêu tiền đã dùng thanh toán cho nhà cung cấp, vay ngân hàng bao
nhiêu tiền và bao nhiêu tiền trả lương nhân viên. Trong báo cáo "Báo cáo
dành cho lãnh đạo" thông tin này được trình bày dưới dạng biểu đồ hình
tròn.
29. Có thể sử
dụng nhiều pháp nhân của một tập đoàn trong chương trình và theo dõi công nợ
với một chủ sở hữu duy nhất?
Có. Trong chương
trình có thể lập các chứng từ thay cho nhiều doanh nghiệp có pháp nhân khác
nhau. Công nợ với đối tác được thực hiện với một chủ sở hữu duy nhất – tập đoàn
hợp nhất tất cả các doanh nghiệp. Đồng thời có khả năng kiểm soát số dư hàng
hóa theo từng doanh nghiệp.
30. Có thể tự
động tính lại đơn giá hàng hóa khi thay đổi tỷ giá đô la không?
Có, có thể. Để thực
hiện điều này cần đặt giá hàng hóa bằng đô la và mỗi ngày cần cập nhật thông
tin về tỷ giá đô la trong danh mục tiền tệ. Khi lập chứng từ, đơn giá tính bằng
đồng sẽ được tự động tính lại theo tỷ giá đô la đã thiết lập trong danh mục tiền
tệ vào ngày chứng từ.
31. Có thể tự
động quy định giá cho nhóm khách hàng không?
Để phân loại người
mua nên chia họ thành các nhóm trong danh mục "Đối tác". Trong chương
trình còn có khả năng phân loại thay thế người mua phù hợp với các thuộc tính
gán cho họ (ví dụ, người mua buôn, cửa hàng, …). Dạng giá dành cho người mua được
đưa ra trong hợp đồng đã lập với người mua. Có thể có nhiều hợp đồng với người
mua, nhưng một trong số đó được chọn làm hợp đồng chính. Bằng việc xử lý gom
nhóm có thể đặt chỉ một dạng giá trong các hợp đồng chính của nhóm người mua hoặc
của danh sách người mua tùy ý.
32. Có khả năng
tiến hành công việc theo các đơn hàng từ trước của người mua hay không?
Có. Trong cấu
hình cho phép dự phòng hàng hóa từ số dư hiện tại trong kho, cũng như dự phòng
cho hàng hóa trong các hóa đơn bán hàng sắp giao (chờ hàng hóa, "hàng hóa
đi đường"). Khi lập đơn hàng của khách có thể kiểm tra phần trăm thanh
toán trả trước theo đơn hàng của khách và giao hàng, ví dụ, chỉ với điều kiện
thanh toán trả trước 100%.
33. Có tính năng
khi sao chép hóa đơn bán hàng và cần biết xem: hàng hóa nào đã có trong kho và
cần đặt hàng hóa nào?
Có, trong chương
trình đã có tính năng này. Trong đó có thuật toán đặt dự phòng tự động hàng hóa
tại kho, mà dự phòng hàng hóa phù hợp với việc sẵn có hàng hóa ở kho có tính
trước đến việc người mua khác đặt hàng. Ngoài ra, khi chọn hàng hóa vào chứng từ
hãy chỉ ra số dư của hàng hóa tự do (có tính trước đến việc người mua đặt
hàng).
34. Người mua có
thể đặt hàng trực tiếp với nhà cung cấp, nếu như hàng hóa đó không còn trong
kho?
Có, trong chương
trình có tính năng đặt hàng tự động với nhà cung cấp dựa vào hàng hóa có tại
kho, dựa vào việc người mua đặt trước hàng và các đơn hàng đã lập cho nhà cung
cấp.
35. Trong chương
trình có khả năng theo dõi dự phòng tối thiểu tại kho và đặt hàng nhà cung cấp
theo mức cần không?
Có thể đặt mức dự
phòng bắt buộc hàng hóa tại kho bằng chứng từ "Đặt hàng nội bộ". Dựa
vào đơn hàng nội bộ đã lập từ trước theo mỗi kho, sau đó có thể tự động lập đơn
hàng đặt nhà cung cấp. Lúc này phân tích số dư hàng hóa hiện có tại kho và đơn
hàng nội bộ từ mỗi kho. Ngoài ra, trong chương trình có tính năng nhập số dư dự
tính theo mỗi hàng hóa và lập đơn hàng đặt nhà cung cấp theo số dư dự tính đã
nhập.
36. Chương trình
có cho phép làm việc với điểm bán lẻ ở xa không?
Có, cho phép.
Trong chương trình có lập các giao dịch như vậy, như điều chuyển hàng hóa đến
điểm bán lẻ, thu tiền bán hàng, tiến hành kiểm kê tại điểm bán ở xa. Để kiểm
soát số dư tại điểm bán lẻ và kiểm tra công nợ sử dụng các báo cáo chuyên biệt.
37. Có thể kiểm
tra tính kịp thời thanh toán hàng hóa bán trả sau không?
Có. Có thể kiểm
tra tính kịp thời thanh toán hàng hóa bán trả sau, nếu việc bán hàng trả sau được
thực hiện trong phạm vi đơn hàng cụ thể của người mua. Trong đơn hàng của khách
có thể thiết lập ngày dự trù thanh toán. Trong báo cáo "Phân tích đơn hàng
của khách" có thể đưa ra danh sách các hóa đơn bán hàng này (đơn hàng của
khách), mà theo đó hàng hóa đã bán đi, nhưng chưa thanh toán và ở các hóa đơn
này có dự tính ngày thanh toán bằng hoặc sau ngày hiện tại. Ngoài ra trong
chương trình có báo cáo "Công nợ phải thu theo khoảng thời gian" có
thể phân tích thông tin theo thời hạn công nợ và xác định những người mua nào
thường xuyên quá hạn thanh toán.
38. Doanh nghiệp
chúng tôi có làm việc với các cửa hàng bán lẻ, mà có giao hàng hóa cho họ.
Người quản lý chịu trách nhiệm công việc tại các cửa hàng này có thể đánh giá,
trong cửa hàng nào bán chạy nhất loại hàng hóa nào?
Có, có thể. Phân
chia theo loại hàng hóa có thể được thực hiện bằng cơ chế thuộc tính có sẵn
trong chương trình. Có thể phân tích bán hàng theo cửa hàng bằng báo cáo "Bán hàng" sau khi thiết lập trình tự
gom nhóm tương ứng. Có thể tiến hành đánh giá hiệu quả theo các chỉ tiêu khác
nhau, ví dụ theo số tiền doanh thu hoặc theo lợi nhuận có được khi bán một số
loại mặt hàng cụ thể trong cửa hàng. Có thể thiết lập trình tự sắp xếp làm sao,
để cửa hàng có chỉ tiêu bán hàng tốt nhất về loại hàng hóa này hoặc loại hàng
hóa khác, sẽ được hiển thị trong phần đầu danh sách được lập bằng báo cáo đó.
39. Có thể tiến
hành phân tích công việc của các đại diện thương mại (đại lý) không?
Có, để phân tích
như vậy trong cấu hình mẫu có báo cáo "Hạch toán công nợ với người nhận ký
gửi".
40. Chúng tôi
làm việc với nhiều nhà cung cấp. Có thể phân tích so sánh doanh số bán hàng tại
các cửa hàng, mà có giao hàng hóa cho họ hay không?
Có thể phân tích
hiệu quả hoạt động bán hàng tại các cửa hàng bằng báo cáo "Bán hàng"
bằng cách lọc trong báo cáo theo danh sách cửa hàng mà cần phân tích việc bán
hàng tại đó và bằng cách đặt trình tự tương ứng gom nhóm và sắp xếp dữ liệu. Để
nhìn rõ báo cáo này có thể được hiển thị dưới dạng biểu đồ tròn, mà bằng báo
cáo này có thể phân tích nhanh chóng hiệu quản bán hàng tại các cửa hàng đó.
41. Khi làm việc
với nhiều cửa hàng – nhà cung cấp, có thể nhận được danh sách các cửa hàng còn
nợ mà họ chưa trả tiền hàng hóa đã mua?
Có, để thực hiện
điều này sử dụng báo cáo "Bảng kê theo người nhận ký gửi" có thể lọc
theo người nhận ký gửi, mà họ đã quá hạn thanh toán đã thiết lập trong chứng từ.
42. Chúng tôi
bán hàng ký gửi. Có thể nhận được thông tin về tất cả số dư hàng ký gửi đã bán?
Có, có thể nhận
được thông tin như vậy bằng báo cáo "Bảng kê theo lô hàng" bằng cách
lọc chỉ những hàng hóa đã bán ở những người đặt ký gửi. Báo cáo có thể được lập
theo từng người đặt ký gửi và theo các chứng từ ban đầu đã được lập khi nhận
hàng hóa ký gửi.
43. Khi bán hàng
hóa ký gửi, bằng chương trình có thể phân tích, nhận hàng hóa để bán của người
đặt ký gửi nào có lợi hơn?
Có. Bằng báo cáo
"Phân tích đơn giá" có thể so sánh giá bán của những người đặt ký gửi
khác nhau, còn bằng báo cáo
"Bán hàng" có thể phân tích tổng doanh thu và lợi nhuận từ việc bán
hàng hóa của những người đặt ký gửi đó.
44. Chúng tôi
kinh doanh thiết bị gia dụng. Có thể phân tích hàng bán theo các thuộc
tính khác nhau – màu sắc, dạng nguyên vật liệu, nơi sản xuất?
Có, điều này là
có thể. Trong chương trình có tiến hành kế toán hàng hóa theo các đặc tính hàng
hóa khác nhau. Hơn nữa, đối với mỗi hàng hóa (hoặc nhóm hàng) có thể đưa ra bộ
đặc tính của nó, mà sau đó có thể phân tích theo từng đặc tính đó. Ví dụ, đối với
mặt hàng quần áo đó có thể là màu sắc, kích cỡ, loại da, đối với tủ lạnh có thể
là kích thước, kích cỡ ngăn lạnh.
45. Chúng tôi
cung cấp dịch vụ vận chuyển, nhằm vào trọng lượng và thể tích đơn hàng. Trong
chương trình có thể đưa ra thông tin về trọng lượng và thể tích đơn hàng hay
không?
Có thể trong trường
hợp này, nếu trọng lượng và thể tích hàng hóa được đưa ra dưới dạng các đặc
tính khác nhau của hàng hóa.
46. Có thể sử
dụng nhiều dạng giá cho một hàng hóa?
Đối với mỗi hàng
hóa có thể sử dụng số lượng không giới hạn về dạng giá. Các dạng giá được quy định
cho hàng hóa và được lưu trong danh mục "Dạng giá hàng" mà chính người
sử dụng có thể bổ sung và thay đổi danh mục đó. Đối với mỗi hàng hóa có thể quy
định bao nhiêu dạng giá, thì có bấy nhiêu dạng giá được nhập vào danh mục tương
ứng.
47. Trong chương
trình có thể tiến hành kế toán riêng biệt tại các kho bán buôn và kho bán lẻ?
Có, có thể. Trong
chương trình tiến hành kế toán riêng biệt tại các kho bán buôn và bán lẻ. Khi
giao hàng hóa từ kho bán lẻ chương trình kiểm soát đơn giá mà bán lẻ hàng hóa.
48. Trong doanh nghiệp
có nhiều kho. Cần đánh giá lợi nhuận khi bán hàng hóa từ kho cụ thể. Có thể
tiến hành kế toán hàng hóa trong chương trình theo từng kho hay không?
Trong chương
trình có tiến hành kế toán hàng hóa theo lô theo từng kho cụ thể của doanh nghiệp.
Bằng các tùy chỉnh của chương trình người sử dụng có thể chọn phương pháp tiến
hành kế toán theo lô – trong toàn doanh nghiệp nói chung hoặc theo từng kho cụ
thể.
49. Chương trình
cho phép nhập thông tin về hàng hóa, nếu hàng hóa được tiếp nhận theo gói và
bán ra từng chiếc?
Có, cho phép. Đối
với mỗi hàng hóa có quy định số lượng gói bất kỳ. Việc tiếp nhận và giao hàng
có thể được thực hiện theo các gói khác nhau.
50. Chương trình
cho phép tính toán chi phí bổ sung (vận chuyển, lưu hàng hóa) khi tiếp nhận
hàng hóa để phân tích lợi nhuận của các hợp đồng?
Có, cho phép. Thậm
chí, các chi phí bổ sung này có thể coi như chi phí nội bộ (bên trong), cũng
như chi phí ngoài (các dịch vụ của doanh nghiệp khác). Các chi phí bổ sung có
thể được tính vào giá thành hàng hóa và được phân bổ phù hợp với trọng lượng,
khối lượng và tổng số hàng hóa. Các chi phí bổ sung có thể được lập từ thời điểm
tiếp nhận hàng hóa.
51. Trong chương
trình có thể nhìn thấy thông tin về trạng thái hạch toán đối trừ với nhà cung
cấp?
Có. Có thể chi tiết
hóa việc hạch toán đối trừ với nhà cung cấp đến từng hợp đồng và chứng từ ban đầu
đã lập với họ. Như vậy, có thể xác định, theo hợp đồng nào với nhà cung cấp có
công nợ. Nếu việc hạch toán đối trừ được tiến hành theo từng chứng từ hạch
toán, có thể phân tích công nợ theo mỗi chứng từ cụ thể của nhà cung cấp.
52. Có thể đặt
giá bán dựa trên giá nhập hàng hóa và mức lãi bán hàng đưa ra hay không?
Có, để thực hiện
điều này trong chương trình có tính năng tính toán lại đơn giá bằng bộ xử lý
"Tạo giá".
53. Có thể đưa
ra mức lãi bán hàng khác nhau cho nhóm hàng hóa khác nhau?
Có, có thể. Các mức
lãi bán hàng cho các nhóm hàng hóa khác nhau được đưa ra trong chứng từ "Đặt
bảng giá".
54. Người quản
lý bán hàng có thể thiết lập các mức chiết khấu tùy ý cho người mua khi bán
hàng hóa hay không?
Có, có thể. Danh
sách các chiết khấu được lưu trong danh mục "Chiết khấu và phụ thu"
mà người sử dụng có thể bổ sung loại chiết khấu vào danh mục này bất kỳ khi
nào. Lúc này có thể quy định chiết khấu chỉ cho một số hàng hóa nào đó. Khi quy
định chiết khấu có thể xác ��ịnh các điều kiện bổ sung, số tiền chứng từ, thời
gian hiệu lực của chiết khấu, chiết khấu theo thẻ giảm giá… Người quản lý có thể
quy định mức chiết khấu, phụ thu cho đối tác từ trước hoặc vào thời điểm lập chứng
từ.
55. Trong chương
trình có thể đưa ra "Các chương trình Marketing" khác nhau khi làm
việc với các cửa hàng?
Có, có thể.
Chương trình cho phép xác định chiết khấu này hoặc chiết khấu khác cho hàng hóa
cụ thể khi thực hiện các điều kiện đã quy định. Các điều kiện này được đưa ra
trong chứng từ "Đặt chiết khấu cho hàng hóa". Lúc này “các chương
trình Marketing” có thể được đưa ra vào thời gian nào đó, ví dụ dịp năm mới.
Người quản lý có thể hủy chiết khấu này hoặc chiết khấu khác vào thời điểm bất
kỳ. Để thực hiện điều đó có sử dụng chứng từ "Hủy bỏ chiết khấu mặt
hàng".
56. Có thể cấm
người sử dụng lập chứng từ, chỉnh sửa giá không?
Có, có thể cấm soạn
giá và chiết khấu trong chứng từ. Ngoài ra có thể cấm bán hàng hóa dưới mức giá
quy định, khi đó người sử dụng sẽ có khả năng chỉnh sửa giá và chiết khấu, tuy
nhiên người sử dụng không thể thiết lập giá cuối cùng trong chứng từ thấp hơn mức
cụ thể, ví dụ do người quản lý cấp trên quy định.
57. Chương trình
hỗ trợ dự phòng hàng hóa từ số dư hiện tại trong kho hay không?
Có, có hỗ trợ.
Hơn nữa, bằng một tài khoản có thể dự phòng hàng hóa tại nhiều kho.
58. Những phương
pháp ghi giảm nào được sử dụng khi giao hàng?
Khi giao hàng hóa
áp dụng các phương pháp FIFO, LIFO và "Bình quân gia quyền". Có thể
tiến hành kế toán theo lô cho toàn doanh nghiệp, cũng như theo từng kho cụ thể.
59. Trong chương
trình có tính năng lập chứng từ "Nhận hàng bán bị trả lại" không?
Có, đương nhiên
là có. Hơn nữa, trong chứng từ Nhận hàng bán bị trả lại có thể chỉ ra lô hàng,
mà cần tính hàng hóa bị trả lại vào lô hàng này.
60. Có thể lập
chứng từ bán lẻ, nếu doanh nghiệp nộp thuế khoán một phần là hàng hóa bán lẻ?
Có, có thể. Trong
cấu hình "Quản lý thương mại" có thể tiến hành kế toán riêng biệt chứng
từ bán lẻ với kế toán thuế khoán.
61. Có thể phản
ánh việc cung cấp dịch vụ khi bán lẻ hàng hóa?
Có, điều này là
có thể. Trong các chứng từ phản ánh hàng hóa bán lẻ có khả năng điền thông tin
về dịch vụ.
62. Chương trình
có cho phép lập chứng từ kiểm kê hàng hóa tại kho không?
Có, cho phép.
Trong chứng từ "Kiểm kê hàng hóa tại kho", dựa trên cơ sở dữ liệu của
cơ sở thông tin phân tán tự động điền thông tin về số dư hàng hóa. Sau đó người
sử dụng nhập số dư hàng hóa thực tế tại kho. Theo kết quả kiểm kê đã thực hiện,
chương trình tự động lập chứng từ ghi giảm phù hợp (trong trường thiếu hàng) hoặc
chứng từ ghi tăng (trong trường hợp phát hiện thừa hàng).
63. Trong chương
trình có thể lập chứng từ nhận hàng ký gửi để bán không?
Có, đương nhiên
là có. Khi đó chương trình tự động xác định số lượng hàng của người đặt ký gửi
đã bán va cho phép tự động tính số tiền hoa hồng ký gửi.
64. Có thể lập
chứng từ bán hàng ký gửi không?
Có, đương nhiên
là có thể. Khi đó trong chương trình có các phương pháp khác nhau tính hoa hồng
ký gửi: phần trăm từ lời nhuận, phần trăm từ số tiền bán hàng. Ngoài ra, đối với
mỗi hàng hóa phần trăm và số tiền hoa hồng ký gửi có thể được nhập bằng cách thủ
công.
65. Trong chương
trình có tiến hành kế toán giao dịch bao bì không?
Có, vẫn thực hiện.
Trong chương trình có thực hiện các giao dịch liên quan đến bao bì luân chuyển.
Đồng thời kiểm tra giới hạn bao bì luân chuyển, có thể lập các giao dịch ghi giảm
bao bì luân chuyển khác nhau. Bằng báo cáo này có thể thực hiện kiểm công nợ về
bao bì luân chuyển với cả người mua và người bán.
66. Chương trình
hỗ trợ làm việc với nhiều máy tính tiền không?
Chương trình hỗ
trợ làm việc với các máy tính tiền có mô hình khác nhau mà chúng làm việc ở chế
độ ON-LINE, OFF-LINE, máy ghi nhận tiền mặt. Hơn nữa, có thể kết nối nhiều mô
hình máy tính tiền có các chỉnh sửa khác nhau vào một nơi làm việc.
67. Có thể kết
nối máy quét mã vạch vào chương trình không?
Có. Bạn có thể kết
nối chuẩn bất kỳ máy quét mã vạch nào đã được kết nối vào cổng COM.
68. Có thể kết
nối cân điện tử vào chương trình hay không?
Có, trong chương
trình tự động đọc trọng lượng khi chọn hàng hóa từ cân điện tử. Ngoài ra có khả
năng in nhãn mác có chỉ ra trọng lượng và mã vạch hàng hóa theo cân.
69. Có thể thay
đổi tiền tệ của kế toán quản trị trong các báo cáo không?
Trong "Quản
lý thương mại" có sử dụng các khái niệm của kế toán quản trị, vì vậy tất cả
các báo cáo được lập bằng tiền tệ của kế toán quản trị, mà có thể đặt tiền tệ bất
kỳ (đồng, EURO…). Trong các báo cáo này mà có liên quan đến hạch toán công nợ với
đối tác thì cần bổ sung đưa ra thông tin tiền tệ hạch toán đã thiết lập trong hợp
đồng với đối tác.
70. Có thể đặt
định kỳ các chỉ tiêu trong các báo cáo không?
Có, trên thực tế
trong tất cả các báo cáo Bạn đều có khả năng gom nhóm: theo ngày, theo tháng, …
71. Lọc các
chứng từ theo dấu hiệu kết chuyển/ chưa kết chuyển như thế nào?
Điều này là có thể
bằng cách xử lý theo nhóm.
72. Trong cấu
hình mẫu có báo cáo mà hàng hóa trong đó được gom nhóm theo sê-ri không?
Có, có thể nhìn
thấy việc gom nhóm hàng hóa theo sê-ri trong báo cáo "Bảng kê theo sê-ri
hàng hóa".
73. Có thể gửi
trực tiếp E-mail cho khách hàng từ chương trình hay không?
Có, có thể gửi
E-mail cho khách hàng bằng chứng từ Liên hệ (dạng chứng từ E-mail đi). Khi đó
thư gửi đi sẽ được ghi nhận trong danh sách liên hệ thuộc phân hệ "Quản lý
quan hệ khách hàng".
74. Trong chương
trình có thể xem xét lịch sử tiếp xúc không?
Có, tất cả các lần
tiếp xúc và lịch sử của nó đều có thể xem được trong báo cáo "Báo cáo về
các cuộc tiếp xúc". Có thể xem xét các cuộc tiếp xúc đó với các mức độ gom
nhóm khác nhau, ví dụ, theo đối tác và theo mức độ quan trọng của các cuộc tiếp
xúc.
75. Trong chương
trình có thể lập kế họach bán hàng dựa trên hàng bán thực tế trong kỳ tương tự
trước đó?
Có, có tính năng
như vậy. Khi lập kế họach mới có thể chọn chiến lược tính toán số lượng
"Khối lượng bán hàng" và chỉ ra kỳ tương ứng trước đó. Ở đó có thể đặt
hệ số hiệu chỉnh.
76. Trong chương
trình có khả năng tính toán chi phí bán hàng, chi phí chung, chi phí quản lý và
chi phí khác hay không?
Có, hơn nữa có thể
tính các chi phí vào giá thành hàng hóa (chứng từ "Tiếp nhận chi phí bổ
sung") hoặc được tính như là chi phí khác (chứng từ "Chi phí
khác"). Thông tin về lợi nhuận theo các hợp đồng đã hoàn thành có tính đến
chi phí có thể xem được trong báo cáo "Thanh toán hàng bán trong kỳ".
77. Trong chương
trình có tự động điền thông tin về ngân hàng, đồng thời sử dụng bảng mã hiệu
ngân hàng ở Việt Nam?
Có, có tính năng
như vậy. Có thể kết nhập thông tin về ngân hàng từ đĩa Hỗ trợ Thông tin Công
nghệ (ITS) hoặc từ website 1VS (www.1vs.vn).
85. Trong chương
trình có thể tiến hành phân tích toàn bộ các loại hàng hóa khác nhau, không chi
tiết hóa dữ liệu đến mục mặt hàng riêng biệt?
Có, có thể. Để thực
hiện điều này trong chương trình sử dụng cơ chế thuộc tính. Đối với mỗi hàng
hóa có thể đưa ra nhiều thuộc tính khác nhau, ví dụ hàng hóa nhập khẩu, hàng
hóa trong nước, kẹo sô cô la, ca-ra-men… Theo tất cả các thuộc tính mặt hàng có
thể tiến hành lọc và gom nhóm dữ liệu trong báo cáo và dựa trên cơ sở này có thể
tiến hành phân tích so sánh dữ liệu trong báo cáo. Ví dụ, có thể nhận được
thông tin về, loại hàng hóa nào bán chạy nhất trong các cửa hàng khác nhau.
78. Có thể in
nhãn hiệu cho nhiều hàng hóa ngay từ chương trình hay không?
Có, có thể. Trong
chương trình có bộ xử lý danh mục theo nhóm mà cho phép tạo nhanh nhãn hiệu cho
nhóm hàng hoặc cho danh sách hàng hóa tùy ý.
79. Trong chương
trình có thể thực hiện bán hàng "theo mẫu" hay không?
Có, có thể. Để thực
hiện điều này, trong chương trình sử dụng khái niệm "Bộ". Chương
trình cho phép điền nhanh phần bảng chứng từ bằng các hàng hóa (thành phần chi
tiết) mà nằm trong thành phần bộ. Ví dụ, bộ có thể là bộ đồ gỗ hoặc bộ quà tặng
bao gồm các thành phần bánh kẹo khác nhau.
80. Một mặt hàng
cụ thể có thể có bao nhiêu giá?
Có thể quy định số
lượng giá bất kỳ cho hàng hóa. Trong danh mục "Dạng giá hàng" có lưu
tất cả các dạng giá được sử dụng trong chương trình. Theo mặc định trong danh mục
đưa ra các dạng giá sau: giá mua, giá bán buôn, giá bán lẻ. Danh mục này có thể
được bổ sung và chỉnh sửa.
81. Có thể làm
như thế nào để người quản lý doanh nghiệp chỉ nhìn thấy trong danh sách các
khách hàng mà đang làm việc với họ?
Có, có thể. Trong
chương trình có khả năng tùy chỉnh quyền truy cập của người sử dụng chương
trình. Có nghĩa là, có thể phân chia khách hàng trong chương trình thành các
nhóm và theo mỗi người quản lý bán hàng thiết lập quyền truy cập làm việc với
nhóm khách hàng cụ thể. Khi đó người quản lý sẽ nhìn thấy thông tin (chứng từ,
báo cáo) chỉ theo khách hàng của mình.
82. Có thể làm
như thế nào để chương trình tự động nhắc nhớ người quản lý về các cuộc tiếp xúc
quan trọng đã dự định với
khách hàng?
Có, để đạt được
điều đó sử dụng cơ chế "Nhiệm vụ kèm thông báo". Cơ chế này không chỉ
giúp cho người quản lý không quên các sự kiện quan trọng, mà còn cho phép chuyển
yêu cầu cho những người sử dụng khác của chương trình và kiểm tra tính kịp thời
thực hiện các nhiệm vụ đã giao cho họ.
83. Trong chương
trình có thể ghi nhận việc gửi E-mail cho khách hàng không?
Có, việc gửi
E-mail cho khách hàng được thực hiện bằng chứng từ "Sự kiện".
84. Trong chương
trình có thể tự động ghi nhận thông tin do khách hàng gửi lại bằng E-mail?
Có, có thể. Khi
nhận E-mail Bạn có thể đồng nhất khách hàng theo địa chỉ E-mail đã chỉ ra trong
thư hoặc tự động ghi nhận khách hàng mới.
85. Trong chương
trình có thể in thông tin về khách hàng cùng địa chỉ, số điện thọai và thông
tin về các cá nhân mà thực sự cần liên hệ tiếp xúc với họ?
Có, có thể. Có thể
nhận thông tin như vậy trong báo cáo "Báo cáo về thông tin liên hệ".
86. Giám đốc có
thể kiểm soát khối lượng công việc của những người quản lý không?
Điều kiện chính
mà theo đó giám đốc có thể kiểm soát khối lượng công việc của những người quản
lý của mình, đó là sự quản lý đúng đắn lịch biểu người sử dụng và cố định các
cuộc tiếp xúc với khách hàng do người quản lý thực hiện. Khi đó giám đốc có thể
kiểm soát khối lượng công việc của những người quản lý trong ngày làm việc bằng
cách xem lịch biểu của họ.
87. Trong chương
trình có thể phân tích và so sánh hiệu quả làm việc của người quản lý với khách
hàng?
Để phân tích hiệu
quả làm việc của người quản lý với khách hàng sử dụng báo cáo "Chỉ tiêu
làm việc của người quản lý". Trong chương trình có thể kết xuất dữ liệu
báo cáo vào cấu hình "1C:Quản trị Nhân sự và Tiền lương" để thống kê
kết quả làm việc của người quản lý khi tính toán tiền lương.
88. Các chỉ tiêu
nào về hiệu quả làm việc của người quản lý được sử dụng trong chương trình?
Để phân tích hiệu
quả làm việc của người quản lý sử dụng các chỉ tiêu sau: tổng tiền doanh thu
bán hàng, số tiền giá thành của hàng hóa đã bán, số tiền các chiết khấu thủ
công đã thực hiện, số lượng các hợp đồng, số lượng giao dịch, số lượng giao dịch
ban đầu, số lượng trung bình các giao dịch với khách hàng, doanh thu trung bình
từ mỗi giao dịch, điền thông tin liên hệ của người mua, điền thông tin liên hệ
của người tiếp xúc, điền thông tin liên hệ cá nhân của người tiếp xúc, số lượng
đơn hàng đưa ra, số tiền công nợ phải thu, số tiền công nợ phải thu quá hạn, số
tiền người mua có nợ quá hạn, số lượng ngày quá hạn trung bình, số lượng các sự
kiện đã hoàn thành, thời gian hoàn thành sự kiện (mức tối thiểu).
89. Chương trình
có thể nhắc nhở người quản lý cần phải chúc mừng những khách hàng quan trọng
nhân ngày sinh nhật không?
Hệ thống các nhắc
nhở được thực thi trong chương trình bằng cơ chế "Nhiệm vụ kèm thông
báo", cho phép không chỉ thông b��o cho người sử dụng về các cuộc tiếp xúc
dự tính quan trọng với khách hàng, mà còn có thể nhắc nhở người quản lý về ngày
sinh của các khách hàng quan trong để không quên chúc mừng họ.
90. Có thể lập
các đơn hàng đặt nhà cung cấp chỉ theo các đơn hàng của khách mà họ đã thực
hiện thanh toán?
Để lọc các đơn
hàng mà người mua đã thanh toán có thể sử dụng báo cáo "Phân tích đơn hàng
của khách". Trực tiếp từ báo cáo có thể lập ra các đơn hàng đặt nhà cung cấp.
91. Trong chương
trình có thể dự trữ tiền mặt tại quỹ để thanh toán cho nhà cung cấp không?
Việc dự phòng tiền
mặt được thực hiện bằng chứng từ "Giấy đề nghị thanh toán". Hơn nữa
trong chương trình có thể đảm bảo các điều kiện như vậy, để không lập các chứng
từ thanh toán mà chưa thực hiện giấy đề nghị thanh toán từ trước (có giám đốc
ký duyệt).
92. Trong chương
trình có thể lập kế họach thanh toán theo từng giai đoạn các đơn hàng không?
Có, có thể. Để lập
kế hoạch thanh toán từng giai đoạn các đơn hàng sử dụng chứng t�� "Hoạch định
dòng tiền". Có thể xem biểu đồ thanh toán đơn hàng trong báo cáo "Dự
tính thu tiền".
93. Tại doanh
nghiệp của chúng tôi, người quản lý bán hàng lập phiếu xuất hàng và hóa đơn
GTGT. Hơn nữa phiếu xuất kho tổng hợp được lập cho nhiều kho. Việc xuất hàng
hóa do các thủ kho trực tiếp thực hiện. Có thể tạo sơ đồ làm việc như vậy
không?
Để thực hiện điều
này sử dụng sơ đồ giao hàng hai pha. Người quản lý viết phiếu xuất kho tổng hợp
(chứng từ "Giao hàng và cung cấp dịch vụ"), mà trong đó các kho được
chỉ ra ở phần bảng, còn các thủ kho dựa trên chứng từ này lập nhiều chứng từ
"Phiếu xuất kho", mà mỗi chứng từ chuyển tới kho của mình. Chi tiết
hơn về sơ đồ này có thể đọc trong giáo trình "Hỏi đáp về giải pháp Quản lý
thương mại".
94. Trong chương
trình có thể lập kế họach giao hàng theo các đơn hàng của khách và kiểm soát
thực tế việc thực hiện đơn hàng này?
Kế hoạch giao
hàng dựa trên cơ sở đơn hàng của khách được lập bằng chứng từ "Kế hoạch
bán hàng". Ví dụ, bằng cách lọc Bạn có thể lập kế họach bán hàng dựa trên
các đơn hàng cho đối tác đã chọn bằng cách lọc phù hợp, cũng có thể lập kế họach
bán mặt hàng hoặc danh sách hàng hóa nào đó. Có thể kiểm soát thực tế việc thực
hiện kế họach giao hàng bằng báo cáo "Phân tích hàng bán theo kế họach và
thực tế".
95. Trong chương
trình có thể lập kế họach bán hàng tổng hợp theo các loại mặt hàng, sau đó dựa
trên kế họach đó lập các kế hoạch chi tiết?
Để lập các kế hoạch
đó, có sử dụng "Trợ giúp lập kế hoạch bán hàng" để tự động thực hiện
lập các kế hoạch. Lúc này có tính đến trọng lượng mỗi mặt hàng vào nhóm mặt
hàng và tính mùa vụ bán hàng.
96. Bằng chương
trình có thể lập kế hoạch mua hàng dựa trên dữ liệu bán hàng trong kỳ phân tích
không?
Có, có thể. Khi lập
kế hoạch mua hàng có thể tính toán không chỉ khối lượng bán hàng trong kỳ trước,
mà còn tính cả dự trữ hàng hiện tại trong các kho, cũng như đặt hàng cho nhà
cung cấp và đặt hàng của người mua. Khối lượng mua hàng có được có thể tăng hoặc
giảm phần trăm quy định.
97. Doanh nghiệp
chúng tôi làm việc với những người mua được gọi là "hệ thống", có
nghĩa là có hệ thống các cửa hàng có cùng một pháp nhân, nhưng địa chỉ giao
hàng khác nhau. Có thể tổ chức công việc với những người mua như vậy trong
chương trình không?
Chương trình cho
phép nhập nhiều địa chỉ khác nhau cho một đối tác (một pháp nhân). Khi giao
hàng cho cửa hàng như vậy thì địa chỉ của cửa hàng này sẽ được điền trực tiếp
trong phiếu xuất hàng. Để thực hiện điều này trong phiếu xuất hàng có mục tin đặc
biệt "Địa chỉ giao hàng".
Phối hợp với các
khách hàng như vậy phụ thuộc vào việc, bạn có cần hoặc không cần hạch toán công
nợ riêng biệt và xác định chính sách giá khác nhau cho họ hay không. Nếu có thì
khi đó có thể hạch toán công nợ với họ theo các hợp đồng khác nhau, còn pháp
nhân (đối tác) lúc này đối với
tất cả cửa hàng sẽ giống nhau.
98. Trong chương
trình có thể tổ chức thăm dò người sử dụng, ví dụ, để hỗ trợ và tự động phân
tích các kết quả nhận được?
Trong chương
trình có khả năng lập các phiếu câu hỏi mẫu, mà sẽ được tự động gửi đến người
mua theo danh sách gửi đi đã quy định. Chương trình tự động xử lý các câu trả lời
phản hồi lại bằng E-mail. Bằng báo cáo "Phân tích kết quả thăm dò ý kiến"
có thể phân tích các câu trả lời phản hồi lại.
99. Có thể đánh
giá ai là người mua hàng ổn định nhất dựa theo lợi nhuận nhận được từ họ?
Tất cả người mua
trong chương trình đều được chia thành các giai đoạn cụ thể: khách hàng tiềm
năng, khách hàng đơn lẻ, khách hàng thường xuyên, khách hàng ngừng mua (mất
khách hàng). Các khách hàng thường xuyên được chia bổ sung theo mức ổn định của
họ (phân tích khách hàng XYZ dựa vào hệ số biến động). Đưa người mua vào giai
đoạn này hoặc giai đoạn khác được thực hiện tự động dựa trên các chỉ tiêu cụ thể,
ví dụ số tiền lợi nhuận hoặc khối lượng hàng bán. Tất cả các thay đổi này được
xác nhận bằng văn bản và lịch sử phối hợp với khách hàng cũng được lưu lại.
100. Chúng tôi
làm việc với các nhà cung cấp có tên gọi và mã hàng khác với tên gọi và mã hàng
hiện đang áp dụng tại doanh nghiệp chúng tôi. Có thể đồng bộ hóa dữ liệu và gửi
đơn hàng đặt nhà cung cấp dưới dạng thuận tiện cho họ không?
Có, có thể. Để
lưu thông tin về nhà cung cấp trong chương trình có sử dụng biểu ghi thông tin
riêng biệt "Mặt hàng của các đối tác". Trong đó có thể lưu thông tin
về tên gọi, mã và nhãn hiệu hàng hóa của nhà cung cấp. Khi đặt hàng nhà cung cấp
có thể đặt chế độ làm việc như vậy, mà ở chế độ này sẽ nhìn thấy chỉ hàng hóa của
nhà cung cấp đó. Trong chương trình có biểu mẫu in, mà dữ liệu về hàng hóa sẽ
được hiển thị trên biểu mẫu đó dưới dạng quen thuộc cho nhà cung cấp.
101. Có thể tự
động ghi nhận đơn giá hàng hóa khi tiếp nhận từ nhà cung cấp không?
Có, có thể. Đơn
giá của nhà cung cấp được tự động ghi nhận khi kết chuyển chứng từ "Tiếp
nhận hàng hóa và dịch vụ", nếu như trong chứng từ có đặt dấu hộp kiểm
"Ghi nhận đơn giá nhà cung cấp". Hộp kiểm có thể được đặt theo mặc định
trong tất cả các chứng từ được lập lại, nếu đã tùy chỉnh tương ứng cho người quản
lý mua hàng.
102. Nhà cung
cấp xác định các điều kiện cụ thể giao hàng cho chúng tôi. Ví dụ, khi mua hàng
hóa của số tiền đã quy định trong vòng một tháng thì có quy định đơn giá cụ thể
cho hàng hóa đó. Có thể nhập các điều kiện này vào chương trình và kiểm soát
việc thực hiện chúng không?
Có, có thể. Trong chương trình để đạt được các mục đích này
sử dụng chứng từ "Các điều kiện giao hàng theo hợp đồng đối tác". Để
kiểm soát việc thực hiện các điều kiện giao hàng sử dụng báo cáo "Thực hiện
các điều kiện giao hàng theo hợp đồng đối tác".
103. Trong chương trình có thể kiểm soát hàng hóa đang đi
đường khi điều chuyển hàng hóa giữa các kho của doanh nghiệp không?
Có, có thể. Để thực hiện điều này trong chương trình áp dụng
làm việc theo sơ đồ hai pha. Vào thời điểm giao hàng từ kho này lập chứng từ
"Phiếu xuất hàng", còn khi tiếp nhận hàng hóa vào kho khác lập chứng
từ "Phiếu nhập hàng". Khi đó bằng báo cáo "Bảng kê hàng hóa nhập
xuất (chờ tiếp nhận)" có thể kiểm soát, hàng hóa nào "bị mất"
đang đi đường.
104. Trong chương trình có thể ghi nhận việc thu tiền từ
đối tác theo các hợp đồng và đơn hàng khác nhau bằng một ủy nhiệm chi hay
không?
Có, có thể. Trong các chứng từ thanh toán có khả năng diễn
giải thanh toán dưới dạng phần bảng chứng từ. Trong chứng từ có thể chỉ ra các
đơn hàng của khách, mà đã thực hiện thanh toán theo các đơn hàng đó thậm chí
trong trường hợp, nếu chúng được lập theo các hợp đồng khác nhau..
105. Trong chương trình có thể kiểm soát số dư tiền mặt
được phép sử dụng khi lập chứng từ ủy nhiệm chi?
Có, có thể. Trong chương trình có thể tùy chỉnh quyền sử dụng
sao cho, để khi lập chứng từ ủy nhiệm chi có kiểm soát chặt chẽ số dư bằng tiền.
106. Trong chương trình có thể dự phòng vốn bằng tiền tại
tài khoản ngân hàng, mà các khoản tiền đó dự tính nhận được từ người mua?
Có, có thể. Để thực hiện điều này trong chương trình có chứng
từ "Dự tính thu tiền".
107. Có thể thiết lập chế độ làm việc, sao cho các kế toán
viên không thể lập ủy nhiệm chi chưa có xác nhận của giám đốc và kế toán
trưởng?
Có, có thể. Để đạt được các mục đích như vậy trong chương
trình sử dụng chứng từ "Giấy đề nghị thanh toán". Lúc này có thể thiết
lập chế độ làm việc như thế mà ở chế độ này các kế toán viên không thể lập ủy
nhiệm chi chưa có xác nhận của giám đốc (kết chuyển chứng từ "Giấy đề nghị
thanh toán").
108. Có thể lập kế họach mua hàng chi tiết theo tháng dựa
trên kế họach mua hàng mở rộng theo nhóm mặt hàng có tính đến mùa vụ bán hàng?
Có, có thể. Việc chuyển từ các kế họach bán hàng mở rộng
thành các kế họach bán hàng chính xác hơn được thực hiện bằng "Trợ giúp lập
kế hoạch". Lúc này có tính đến tính mùa vụ bán hàng ("điền phân bổ
theo kỳ") và trọng lượng mỗi hàng hóa nằm trong nhóm hàng (có nghĩa là với
hệ số nào cần tính toán hàng hóa trong nhóm hàng này hoặc nhóm hàng khác).
109. Trong chương trình có thể so sánh kế hoạch mua hàng do
bộ phận mua hàng lập với kế hoạch bán hàng do phòng bán hàng lập hay không?
Có, có thể. Để thực hiện các mục đích này trong chương trình
sử dụng báo cáo "Phân tích hội tụ dữ liệu theo kế hoạch". Khi đó có
thể so sánh kế hoạch theo các kịch bản khác nhau, ví dụ kịch bản lạc quan và bi
quan trong các kỳ khác nhau. Việc chi tiết hóa trong báo cáo là có thể theo các
nhóm hàng, cũng như các mục mặt hàng riêng biệt.
Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!
SUNLAW FIRM biên tập