Về các thuật ngữ phát minh, phát hiện, sáng chế
Chúng ta thường gặp những cách viết khác nhau về các khái niệm phát minh, phát hiện, sáng chế. Chẳng hạn: “Mỗi năm trôi qua, giới khoa học trên thế giới đều bội thu với những phát minh độc đáo, mang lại tiện ích thực sự cho cuộc sống con người, ví dụ như bàn chải đánh răng biết hát, máy giặt truyền động bằng xe đạp…” [1].
Ngay một thuật ngữ invention dịch ra tiếng Việt cũng không nhất quán, khi thì phát minh, khi thì sáng chế. Hầu hết các từ điển Anh – Việt đều dịch invention theo cả hai nghĩa “phát minh và sáng chế”, thậm chí có người còn dịch cả patent và license là phát minh hoặc bằng phát minh (!).Vậy nên hiểu và viết thế nào để nhất quán về bản
chất khoa học và phù hợp với những quy định về bảo hộ pháp luật đối với
các đối tượng được bảo hộ theo Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) của Việt Nam?
Việc hiểu đúng các thuật ngữ phát minh, phát hiện và
sáng chế không những có tác dụng trong việc phân loại các sản phẩm của
nghiên cứu, mà còn có ý nghĩa trong việc xác định giá trị thương mại,
giải quyết hợp lý khi có tranh chấp xảy ra.
Khái niệm phát minh, phát hiện và sáng chế
Phát minh (tiếng Anh là Discovery, tiếng Pháp là Découverte, tiếng Nga là Otkrưtije)
Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Phát
minh: Sự phát hiện một sự vật, một hiện tượng hoặc một quy luật tồn tại
khách quan của tự nhiên mà con người chưa từng biết tới. Phát minh làm
thay đổi, nâng cao trình độ nhận thức của con người đối với tự nhiên và
tạo cơ sở để con người lợi dụng, chế ngự tự nhiên. Phát minh khoa học
là yếu tố quyết định đối với tiến bộ khoa học – kỹ thuật. Phát minh
thường gắn liền với những nghiên cứu cơ bản trong khoa học lý thuyết và
khoa học ứng dụng. Phát minh phản ánh các mối quan hệ hiện thực khách
quan cơ bản và những tính chất của các hiện tượng trong thế giới hiện
thực”[2]
Theo tác giả Vũ Cao Đàm thì phát minh là sự khám
phá ra những quy luật, những tính chất hoặc những hiện tượng của thế
giới vật chất tồn tại một cách khách quan mà trước đó chưa ai biết, nhờ
đó làm thay đổi cơ bản nhận thức của con người [3].
Một số ví dụ về phát minh như: Archimède phát minh
định luật sức nâng của nước, Newton phát minh định luật vạn vật hấp
dẫn, Nguyễn Văn Hiệu phát minh định luật bất biến tiết diện của các quá
trình sinh hạt…
Phát minh có các tiêu chí sau: Chỉ có trong lĩnh vực
khoa học tự nhiên, đã tồn tại khách quan (không có tính mới), có khả
năng áp dụng để giải thích thế giới, nhưng chưa thể áp dụng trực tiếp
vào sản xuất hoặc đời sống mà phải thông qua các giải pháp kỹ thuật, nó
không có giá trị thương mại.
Phát hiện (tiếng Anh cũng là Discovery, tiếng Pháp là Découverte):
Là việc khám phá ra những vật thể, những quy luật xã hội đang tồn tại
một cách khách quan. Ví dụ: Kock phát hiện vi trùng lao, Marie Curie
phát hiện nguyên tố phóng xạ radium, Colomb phát hiện châu Mỹ, Adam
Smith phát hiện quy luật “bàn tay vô hình” của kinh tế thị trường [4].
Tương tự như phát minh, phát hiện cũng không có tính
mới, nó chỉ khám phá ra các vật thể hoặc các quy luật xã hội, làm thay
đổi nhận thức, chưa thể áp dụng trực tiếp vào đời sống, nó không có giá
trị thương mại. Bởi vậy người ta không mua, bán, chuyển quyền sử dụng
các phát minh, phát hiện.
Sáng chế (tiếng Anh và tiếng Pháp là Invention, tiếng Nga là Izobretenije)
Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Sáng chế:
Giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có trình
độ sáng tạo, có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội.
Sáng chế là một trong những đối tượng sở hữu công nghiệp được pháp luật
bảo hộ 5.
Luật SHTT của Việt Nam định nghĩa: “Sáng chế là
giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết
một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên”.
Ví dụ: James Watt sáng chế máy hơi nước, Nobel sáng chế công thức thuốc nổ TNT…
Giải pháp kỹ thuật có thể tồn tại dưới các hình thức sau: Là dạng vật thể, ví dụ: Máy móc, dụng cụ, thiết bị, linh
kiện…; là dạng chất thể, ví dụ: Thực phẩm, dược phẩm, vật liệu…; là
dạng quy trình, ví dụ: Quy trình xử lý nước thải, quy trình công nghệ
sản xuất xi măng…
Sáng chế có khả năng áp dụng trực tiếp vào sản xuất
và đời sống, nó có ý nghĩa thương mại, trong thực tế người ta có thể
mua, bán sáng chế (chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế) hoặc license
sáng chế (chuyển quyền sử dụng sáng chế).
Có 3 tiêu chí bắt buộc để một giải pháp kỹ thuật
được cấp Bằng độc quyền sáng chế (Patent), đó là: Có tính mới (so với
thế giới); có trình độ sáng tạo; có khả năng áp dụng công nghiệp.
Tính mới là một trong những tiêu chí hàng đầu của
sáng chế (phát minh và phát hiện không có tiêu chí này). Như vậy, một
sáng chế không sử dụng tình trạng kỹ thuật đã biết.
Trình độ sáng tạo của sáng chế được thể hiện trên 3
khía cạnh, đó là: Vấn đề cần giải quyết, giải pháp cho vấn đề đó và các
ưu điểm của sáng chế so với tình trạng kỹ thuật đã biết.
Khả năng áp dụng công nghiệp của một sáng chế là vệc
sản xuất, sử dụng sáng chế đó bằng những phương tiện kỹ thuật ở một quy
mô nhất định. Sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu
có thể thực hiện được việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp
dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế và thu được kết
quả ổn định.
Có bảo hộ quyền SHTT đối với phát minh, phát hiện và sáng chế không?
Luật SHTT đã chỉ rõ đối tượng quyền SHTT bao gồm:
Quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả; quyền sở hữu công
nghiệp; quyền đối với giống cây trồng.
Bảo hộ bản viết về phát minh và phát hiện
Bản viết về phát minh và phát hiện được coi là tác
phẩm khoa học, là một trong các đối tượng được bảo hộ quyền tác giả
theo Công ước Berne 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật
và theo Luật SHTT.
Cần phải nhấn mạnh rằng, Luật SHTT không bảo hộ bản
thân phát minh và phát hiện, mà chỉ bảo hộ bản viết về phát minh và
phát hiện. Tuy nhiên, việc bảo hộ bản viết về phát minh và phát hiện
không đồng nghĩa với việc bắt buộc phải cấp văn bằng bảo hộ chúng.
Quyền tác giả đối với bản viết về phát
minh và phát hiện tự động phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm viết về
chúng được định hình dưới một dạng vật chất nhất định, nhân đây cũng
cần nhắc lại là một số người đã quan niệm sai rằng để một tác phẩm được
bảo hộ quyền tác giả thì nhất thiết phải đăng ký bảo hộ nó. Luật SHTT
quy định: “… việc nộp đơn để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác
giả không phải là thủ tục bắt buộc để được hưởng quyền tác giả”. Không
một quốc gia nào trên thế giới lại cấp Patent cho phát minh, ngoại trừ
trước đây có Liên Xô (cũ) đã cấp Diplôm cho phát minh.
Bảo hộ sáng chế
Sáng chế là một trong các đối tượng được bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của Công ước Paris 1883 về bảo
hộ sở hữu công nghiệp và theo Luật SHTT. Căn cứ phát sinh quyền sở hữu
công nghiệp đối với sáng chế là Bằng độc quyền sáng chế (Patent), có
hiệu lực trên lãnh thổ quốc gia cấp bằng và kéo dài trong thời hạn 20
năm. Như vậy, để bảo hộ một sáng chế, bắt buộc nó phải được cấp Patent
(khác biệt cơ bản so với phát minh và phát hiện).
Cần lưu ý rằng, Luật SHTT coi bản thân phát minh
không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế. Như vậy, nói “bảo hộ phát
minh” là sai.
Sự khác nhau về việc bảo hộ bản viết về phát minh, phát hiện và bảo hộ sáng chế
Đặc trưng đáng chú ý nhất của việc bảo hộ bản viết
về phát minh và phát hiện theo cơ chế quyền tác giả, đó là pháp luật
không ngăn cấm người khác quyền sử dụng bản thân phát minh và phát
hiện, nhưng lại ngăn cấm hành vi của người khác sửa chữa, thay đổi,
xuyên tạc bản thân phát minh và phát hiện.
Đặc trưng đáng chú ý nhất của việc bảo hộ sáng chế
theo cơ chế quyền sở hữu công nghiệp, đó là pháp luật ngăn cấm người
khác quyền sử dụng sáng chế trong thời hạn và trên lãnh thổ được bảo hộ
nếu chưa được phép của chủ sở hữu sáng chế.
Quyền nhân thân không thể chuyển giao của tác giả
phát minh và phát hiện tồn tại vĩnh viễn, bao gồm: Quyền đặt tên cho
phát minh và phát hiện; quyền đứng tên đối với phát minh và phát hiện;
quyền bảo vệ sự toàn vẹn của phát minh và phát hiện. Trong khi đó,
quyền nhân thân của tác giả sáng chế chỉ bao gồm: Được ghi tên là tác
giả trong Bằng độc quyền sáng chế; quyền được nêu tên trong các tài
liệu công bố, giới thiệu về sáng chế.
Như vậy, trong trường hợp đã chuyển nhượng quyền sở
hữu sáng chế hoặc chuyển quyền sử dụng sáng chế, thì tác giả của sáng
chế không có quyền ngăn cấm chủ sở hữu mới hoặc người sử dụng mới quyền
cải tiến sáng chế mà mình là tác giả. Quy định này trái ngược hoàn toàn
với quyền bảo vệ sự toàn vẹn của phát minh và phát hiện đối với tác giả
của chúng.
Chú thích:
1. VnExpress (theo Báo Sài Gòn Giải phóng ngày 10.12.2006).
2 Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển
Bách khoa Việt Nam, Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB Từ điển Bách khoa,
Hà Nội, 2003.
3. Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa
học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2005 (xuất bản lần thứ mười, có
chỉnh lý và bổ sung), trang 25.
4. Vũ Cao Đàm, đã dẫn, trang 26.
5. Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, đã dẫn.
SOURCE: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC, BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------