Vị trí, vai trò và xu hướng phát triển của các thành phần kinh tế ở Việt Nam
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, để có thể cạnh tranh và đứng vững trên thị trường, Việt Nam đã và đang phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế, kết hợp nội lực với ngoại lực để phát triển nhanh hơn. Tuy nhiên, trong giới nghiên cứu và lý luận hiện vẫn còn nhiều tranh luận xung quanh vị trí, vai trò của từng thành phần trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.[1]
Bài viết này nhằm mục đích góp thêm tiếng nói vào diễn đàn tranh luận
đó. Bài viết được trình bày theo 4 phần, trong đó: phần 1 điểm lại những
chủ trương chính sách về phát triển các thành phần kinh tế của Nhà nước
ta; phần 2 phân tích và đánh giá vị trí vai trò của từng thành phần
kinh tế hiện nay; phần 3 dự báo xu hướng phát triển trong thời gian tới
và nêu lên một số định hướng chính sách; và phần cuối là kết luận.
Để đánh giá vai trò của các thành phần kinh tế, bài
viết sẽ xem xét từng thành phần trong việc huy động và sử dụng các nguồn
lực sản xuất (vốn, lao động, đất đai, khoa học công nghệ, v.v.), đóng
góp vào tăng trưởng kinh tế và thu ngân sách nhà nước và vai trò trong
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Việc dự báo xu hướng phát triển sẽ
căn cứ vào quá trình phát triển của các thành phần kinh tế trong thời
gian qua, bối cảnh và xu hướng phát triển đất nước trong thời gian tới.
Bài viết sử dụng những số liệu thống kê công bố chính thức và nhiều kết
quả nghiên cứu khác về các lĩnh vực liên quan. Tuy nhiên, hiện nay,
những số liệu thống kê theo cả 6 thành phần kinh rất hạn chế nên việc
đánh giá khó có thể đầy đủ và hoàn toàn chính xác. Trong các chỉ tiêu
đánh giá, chỉ có chỉ tiêu tỷ trọng của từng thành phần kinh tế trong
tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là được tính toán theo 6 thành phần kinh
tế, các chỉ tiêu khác chỉ tính theo 3 khu vực kinh tế là kinh tế nhà
nước, kinh tế ngoài quốc doanh và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Thậm
chí, khái niệm về từng thành phần kinh tế trong các chỉ tiêu không hoàn
toàn trùng nhau. Chính vì vậy, bài viết này không có tham vọng đánh giá
một cách chính xác tuyệt đối mức độ đóng góp của từng thành phần vào
phát triển kinh tế. Thay vào đó, bài viết này chỉ cố gắng nêu lên một số
nhận định về vị trí, vai trò của từng thành phần kinh tế trong mối
tương quan so sánh với vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế khác.
1- Chủ trương và chính sách phát triển các thành phần kinh tế
Quan niệm về các thành phần kinh tế ở nước ta có sự
thay đổi cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Trước năm 1986 chỉ có
hai thành phần kinh tế được công nhận chính thức, đó là kinh tế nhà nước
và kinh tế tập thể. Đến Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), khi bắt đầu
bước vào xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, Nhà nước chính thức xác
nhận các thành phần kinh tế (bao gồm kinh tế xã hội chủ nghĩa gồm khu
vực quốc doanh và khu vực tập thể cùng với bộ phận kinh tế gia đình gắn
liền với thành phần đó và các thành phần kinh tế khác gồm: kinh tế tiểu
sản xuất hàng hoá, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh
tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong một bộ phận đồng bào dân tộc tiểu số ở
Tây Nguyên và các vùng núi cao khác). Cũng những thành phần kinh tế đó,
Đại hội Đảng VII (1991) và VIII (1996) đã phân định thành 5 thành phần
(bao gồm: kinh tế quốc doanh/kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể/HTX, kinh
tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư
nhân). Đại hội Đảng IX (2001) đã bổ sung thành phần kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài. Văn kiện của Đại hội IX đã khẳng định rõ "Thực hiện nhất
quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần
kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng
của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; trong đó kinh tế
nhà nước giữ vai trò chủ đạo cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở
thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân"[2].
Bài viết này sử dụng cách phân loại của Đại hội
IX. Theo đó, Nhà nước đã xác định, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập
thể phải từng bước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc
dân, trong đó, kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Thành phần kinh tế nhà nước
bao gồm các tổ chức kinh tế thuộc các ngành kinh tế quốc dân do Nhà
nước đầu tư vốn và quản lý và phần vốn nhà nước trong các liên doanh
hoặc công ty cổ phần. Cụ thể là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, doanh
nghiệp nhà nước đã khoán, cho thuê (sở hữu vẫn thuộc nhà nước); liên
doanh mà các bên tham gia đều là doanh nghiệp nhà nước; quỹ dự trữ quốc
gia, quỹ bảo hiểm nhà nước, tài sản thuộc sở hữu nhà nước có thể đưa vào
vòng chu chuyển kinh tế; ngân hàng nhà nước; liên doanh mà nhà nước
chiếm cổ phần lớn và người đầu tư nước ngoài chiếm phần rất nhỏ[3].
Trong quá trình phát triển kinh tế ở nước ta, kinh tế
nhà nước từ chỗ là khu vực kinh tế gần như độc nhất trong nền kinh tế
(bên cạnh còn có kinh tế tập thể) đã dần chuyển sang giữ vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế nhiều thành phần. Trong bối cảnh chuyển sang nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước đã tiến hành nhiều
biện pháp cải cách khu vực kinh tế nhà nước để khu vực kinh tế này có
thể bảo đảm được vai trò chủ đạo như: sắp xếp, sát nhập các công ty,
công ty hoá, cổ phần hoá, giao, bán, khoán, cho thuê, phát triển các tập
đoàn kinh tế và giải thể các doanh nghiệp thua lỗ trầm trọng.
Thành phần kinh tế tập thể bao gồm các tổ chức
kinh tế được thành lập theo Luật Hợp tác xã (HTX) trên cơ sở tự nguyện
góp vốn của những người sản xuất kinh doanh, tiêu dùng, quyền sở hữu vốn
thuộc về tập thể các thành viên tham gia góp vốn. Khác với khu vực kinh
tế nhà nước, kinh tế tập thể có những thay đổi cơ bản trong thời gian
qua. Giai đoạn trước những năm đổi mới, quan niệm đơn giản về kinh tế
tập thể và nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đã dẫn đến hiện tượng tập thể
hoá tràn lan, nhất là trong ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, sự không hiệu
quả của mô hình này đã ngày càng bộc lộ rõ. Chính vì vậy, trong thời kỳ
đổi mới, nhiều đơn vị kinh tế tập thể đã được giải thể hoặc chuyển đổi.
Tuy vậy, do xác định kinh tế tập thể phải cùng với kinh tế nhà nước trở
thành nền tảng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nên Việt Nam
đã có nhiều biện pháp chính sách hỗ trợ để phát triển khu vực này, đặc
biệt là những năm gần đây. Năm 1996, Quốc hội đã ban hành Luật hợp tác
xã, trong đó quy định việc thành lập, tổ chức quản lý, hoạt động của HTX
kiểu mới và nhiều chính sách ưu đãi dành riêng cho thành phần kinh tế
này. Năm 2003, sau 7 năm thực hiện, Quốc hội sửa đổi Luật lần thứ nhất
nhằm chuyển đổi HTX theo hướng hoạt động hiệu quả hơn, tạo điều kiện
thuận lợi hơn và đưa ra nhiều ưu đãi dành riêng cho các HTX về đất đai,
về thuế, về tín dụng, hỗ trợ thông tin tiếp thị và nghiên cứu thị
trường. Hội nghị Trung ương 5 khoá IX cũng đã ban hành Nghị quyết số 13
năm 2002 đưa ra các biện pháp hỗ trợ khác về vốn, đào tạo nhân lực, quản
lý nhà nước đối với kinh tế tập thể.
Thành phần kinh tế cá thể thực chất là kinh tế
tư nhân có qui mô nhỏ, bao gồm hộ sản xuất kinh doanh cá thể, tiểu chủ
trực tiếp sản xuất kinh doanh, có thuê mướn lao động nhưng chưa thành
lập doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp (ví dụ như các trang trại, chủ
thầu xây dựng loại nhỏ, chủ cửa hàng, xưởng sản xuất), các liên doanh
trong đó cá thể, tiểu chủ chiếm tỷ trọng vốn lớn. Đây là khu vực kinh tế
tồn tại như một tất yếu và mang tính đặc thù của nền kinh tế nhỏ lẻ,
đang phát triển ở trình độ thấp bắt nguồn từ nông nghiệp như nước ta.
Kinh tế tư bản tư nhân bao gồm những doanh
nghiệp do các nhà đầu tư trong nước bỏ vốn thành lập, thuê mướn lao động
và hưởng lợi nhuận. Đó là những doanh nghiệp đăng ký theo Luật Doanh
nghiệp (doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần không có vốn
nhà nước), liên doanh với thành phần kinh tế tập thể và tiểu chủ trong
đó thành phần kinh tế tư bản tư nhân chiếm nguồn vốn lớn nhất.
Về chủ trương chính sách, kinh tế tư bản tư nhân
được chính thức công nhận từ năm 1986. Những năm gần đây, khu vực tư
bản tư nhân được huy động phát triển. Nghị quyết trung ương 4 khoá VIII
nêu lên chủ trương phát huy tối đa và sử dụng có hiệu quả nguồn lực
trong nước; tháo gỡ khó khăn tạo thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát
triển. Năm 2002, Hội nghị Trung ương 5 đã ban hành Nghị quyết số 14 về
phát triển kinh tế tư nhân bằng cách tạo điều kiện thuận lợi hơn về
khung thể chế, tiếp cận nguồn vốn và các nhân tố sản xuất khác để khuyến
khích phát triển kinh tế tư nhân. Tương ứng với các chủ trương đó, hành
lang pháp lý cho phát triển kinh tế tư bản tư nhân cũng dần được mở
rộng. Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty (1990) đặt cơ sở pháp lý
đầu tiên cho việc hình thành và phát triển các doanh nghiệp tư nhân với
các loại hình pháp lý bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ
phần và doanh nghiệp tư nhân. Đặc biệt, sự ra đời của Luật Doanh nghiệp
năm 2000 đã thể chế hoá quyền tự do kinh doanh của tư nhân, tạo điều
kiện thuận lợi cho kinh tế tư bản tư nhân phát triển.
Kinh tế tư bản nhà nước là thành phần kinh tế
bao gồm các liên doanh giữa kinh tế nhà nước và tư bản tư nhân trong
nước, trong đó tư nhân trong nước chiếm tỷ trọng vốn lớn nhất và liên
doanh với tư bản tư nhân nước ngoài trong đó kinh tế nhà nước chiếm tỷ
trọng lớn nhất. Sự ra đời của thành phần kinh tế này là kết quả của quá
trình cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước và mở cửa nền kinh tế Việt
Nam ra thế giới. Chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài thông qua
thành lập các liên doanh giữa doanh nghiệp nhà nước với nhà đầu tư nước
ngoài, chính sách cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và phát triển các
thành phần kinh tế khác đã làm cho qui mô của kinh tế tư bản nhà nước
được nâng lên đáng kể.
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài bao
gồm doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và các liên doanh với các doanh
nghiệp trong nước mà nước ngoài chiếm tỷ trọng vốn lớn nhất[4].
Thành phần kinh tế này đã tồn tại ngay từ cuối những năm 80 thế kỷ 20
và ngày càng phát triển lớn mạnh hơn. Tuy nhiên, chỉ mới gần đây, tại
Đại hội IX, Việt Nam mới chính thức coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
là một thành phần kinh tế, bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong những năm qua, Nhà nước
đã có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích sự phát triển của kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tháng 12 năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam đã được Quốc hội thông qua, và sau đó đã qua 4 lần sửa đổi
(1990, 1992, 1996 và 2000). Những qui định luật pháp đó đã tạo hành lang
pháp lý, cam kết bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư nước ngoài.
Gần đây, Nhà nước ta đã tiếp tục bổ sung nhiều chính sách, tạo điều
kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài như: mở rộng phạm vi
đầu tư về quy mô, về lĩnh vực hoạt động, về hình thức đầu tư.
2- Đánh giá vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế
Các thành phần kinh tế ở Việt Nam trong thời gian qua
đều có những đóng góp nhất định vào kết quả tăng trưởng của nền kinh tế
(xem Bảng 1).
Bảng 1: Cơ cấu GDP (giá thực tế) phân theo thành phần kinh tế, %
| |
2000
|
2001
|
2002
|
2003
|
|
Tổng
|
100
|
100
|
100
|
|
|
Kinh tế Nhà nước
|
38,53
|
38,4
|
38,31
|
38,22
|
|
Kinh tế tập thể
|
8,58
|
8,06
|
7,98
|
7,90
|
|
Kinh tế tư nhân
|
3,38
|
3,73
|
3,93
|
39,81**
|
|
Kinh tế cá thể
|
32,31
|
31,84
|
31,42
|
|
|
Kinh tế hỗn hợp*
|
3,92
|
4,22
|
4,45
|
|
|
Kinh tế có vốn ĐTNN
|
13,28
|
13,75
|
13,91
|
14,07
|
Chú thích: (*) Tương đương với khái niệm về kinh tế tư bản nhà nước; **: tổng của 3 khu vực kinh tế: tư nhân, cá thể, hỗn hợp.
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Bảng 1 cho thấy kinh tế nhà nước chiếm vị trí quan
trọng và có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nền kinh tế. Khu vực
kinh tế nhà nước chiếm giữ phần lớn các nguồn lực từ tài sản, đất đai
đến nguồn vốn tài chính, vốn con người đồng thời có những đóng góp nhiều
nhất cho tăng trưởng kinh tế. Trong năm 2003, khu vực kinh tế nhà nước
hiện có khoảng 5175 doanh nghiệp chiếm giữ 56,5% tổng vốn đầu tư phát
triển và đóng góp hơn 38% GDP (xem bảng 2). Doanh nghiệp nhà nước đóng
vai trò chủ đạo, thậm chí độc quyền trong nhiều ngành kinh tế, nhất là
những ngành có vị trí then chốt như bưu chính viễn thông, hàng không,
v.v. Doanh nghiệp nhà nước góp phần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá
đất nước theo hướng xuất khẩu. Khu vực này đã sản xuất ra 39,5% giá trị
sản lượng công nghiệp, trên 50% kim ngạch xuất khẩu và 23,7% tổng thu
ngân sách nhà nước. Hầu hết các hoạt động sản xuất và dịch vụ công ích
đều do doanh nghiệp nhà nước đảm nhiệm (Phương Ngọc Thạch, 2003).
Bảng 2: Vai trò của khu vực kinh tế nhà nước trong nền kinh tế
|
Một số tiêu chí
|
2001
|
2002
|
2003 ư
|
|
Đóng góp cho GDP (giá thực tế, %)
|
38,4
|
38,31
|
38,22
|
|
Đóng góp cho tổng vốn đầu tư phát triển (giá thực tế, %)
|
58,1
|
56,2
|
56,5
|
|
Đóng góp cho tổng thu ngân sách (DNNN, %)
|
22,28
|
23,37
|
23,71
|
|
Tỷ trọng trong tổng lực lượng lao động (%)
|
-
|
4,8
|
-
|
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2003
Tuy vậy, thực chất, vai trò quan trọng của khu vực
kinh tế nhà nước nói chung và của doanh nghiệp nhà nước nói riêng có
được chủ yếu là do lịch sử để lại và là kết quả của ý muốn chủ quan và
sự tác động bằng các cơ chế, chính sách của Nhà nước trong việc cố gắng
duy trì vai trò của khu vực này như đã xác định. Hay nói một cách khác,
vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước hiện nay chưa thực sự xuất phát từ
thực lực vượt trội của khu vực này so với các thành phần kinh tế khác và
so với các doanh nghiệp trên thế giới. Đặc điểm này thể hiện rõ trong
một số điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, năng lực cạnh tranh của khu vực
doanh nghiệp nhà nước thấp kém, nhiều doanh nghiệp hoạt động không hiệu
quả. Nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước quá lớn, nợ quá hạn, nợ khó
đòi ngày càng tăng (chiếm tới 74,8% trong số nợ quá hạn của ngân hàng
thương mại quốc doanh). So với các doanh nghiệp trên thế giới, doanh
nghiệp nhà nước Việt Nam có quy mô nhỏ bé; công nghệ lạc hậu, tạo ra giá
trị gia tăng thấp, sản xuất ra những hàng hoá và dịch vụ ít có khả năng
cạnh tranh trên thị trường thế giới,
Thứ hai, so với các thành phần kinh tế khác,
doanh nghiệp nhà nước được nhận nhiều sự hỗ trợ và hưởng những đặc quyền
mà các doanh nghiệp khác không thể có được. Doanh nghiệp nhà nước được
vay vốn không cần thế chấp (khi kinh doanh thua lỗ, vẫn được khoanh nợ,
giảm nợ, dãn nợ); được giao đất mà không phải thuế đất, được giao thực
hiện các dự án lớn của Nhà nước mà nắm chắc là thu lãi lớn, v.v… Trong 4
năm 1997-2000, ngân sách nhà nước đã đầu tư gần 8.200 tỉ đồng cho doanh
nghiệp nhà nước (trong đó 2.216 tỉ đồng cấp bổ sung vốn lưu động, 1.464
tỉ đồng bù lỗ, giúp donh nghiệp giảm bớt khó khăn về tài chính), miễn
giảm thuế 1.351 tỉ đồng, xoá nợ 1.088 tỉ đồng, khoanh nợ 3.392 tỉ đồng,
giãn nợ 540 tỉ đồng, giảm trích khấu hao 200 tỉ đồng. Hiện Nhà nước vẫn
đang tiếp tục cấp thêm nhiều tỉ đồng bổ sung vốn cho các doanh nghiệp
nhà nước, để trong 5 năm 2001-2005, cơ bản tạo đủ vốn cho doanh nghiệp
(Đinh Văn Ân, 2003),
Thứ ba, bên cạnh sự yếu kém của doanh nghiệp
nhà nước, hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng nhà nước và các dịch
vụ công khác, kể cả các dịch vụ công ích, cũng thấp. Hệ thống ngân hàng
chưa bảo đảm cung cấp nguồn vốn đầy đủ và thuận lợi cho doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần. Các dịch vụ công, nhất là những dịch vụ phục vụ
khu vực doanh nghiệp còn yếu kém, chi phí cao, chất lượng thấp.
Khác với khu vực kinh tế nhà nước, vai trò của khu
vực kinh tế tập thể đã giảm đi rất nhiều so với thời kỳ trước đổi mới.
Trong 3 năm gần đây, khu vực kinh tế này trung bình chỉ tạo ra khoảng
7,8% GDP, đóng góp không đáng kể cho ngân sách nhà nước. Hiện nay, cả
nước có khoảng 17.500 HTX, chỉ bằng 20% số doanh nghiệp thuộc khu vực tư
bản tư nhân, với qui mô nhỏ, lượng vốn ít. Các HTX thu hút hơn 7 triệu
xã viên và tạo việc làm cho khoảng 10 triệu lao động (Trương Tấn Sang,
2003). Trong quá trình công nghiệp hoá hiện nay, khu vực kinh tế tập thể
đã có những dấu hiệu chuyển dịch theo hướng gia tăng dần tỉ trọng các
HTX phi nông nghiệp. Hiện nay, HTX nông nghiệp chiếm khoảng 31%, công
nghiệp chiếm 23,6%, thuỷ sản 12,7%, giao thông vận tải 11%, xây dựng 9%,
thương mại chưa đầy 3%.
Về mô hình hoạt động, sau nhiều nỗ lực cải cách của
Nhà nước, so với trước đây, khu vực kinh tế tập thể đã xuất hiện nhiều
mô hình HTX kiểu mới có cơ chế hoạt động và quản lý năng động hơn, loại
hình đa dạng hơn (kể cả hình thức và lĩnh vực hoạt động). Các hình thức
liên doanh giữa HTX với doanh nghiệp nhà nước và các thành phần kinh tế
khác cũng có xu hướng phát triển.
Ngoài hai khu vực kinh tế nói trên, các khu vực kinh
tế khác đều có những vị trí nhất định trong nền kinh tế. Khu vực kinh tế
cá thể có qui mô lớn và đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh
tế. Hàng năm, khu vực kinh tế này đã tạo ra khoảng 31% GDP, không kém
đóng góp của khu vực kinh tế nhà nước. Thành phần kinh tế này có mặt ở
mọi địa bàn, cả nông thôn và thành thị. ở khu vực nông thôn, kinh tế hộ
phát triển rộng khắp, phát triển mạnh từ chủ trương xoá bỏ mô hình HTX
gượng ép của cơ chế cũ. Năm 2000, cả nước có khoảng 10 triệu hộ kinh
doanh cá thể đăng ký theo Nghị định 66. Số lượng các trang trại đang có
xu hướng ngày càng gia tăng. Trong các thành phố lớn, kinh tế cá thể vẫn
chiếm vị trí nhất định, khoảng 23,9% GDP trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh (Nguyễn Thanh Tuyền, 2002, tr.214). Trong những năm gần đây, với
chính sách khuyến khích sản xuất kinh doanh của nhà nước nhiều cá nhân
đã năng động tự đầu tư kinh doanh với qui mô nhỏ, tự tạo việc làm cho
mình và tạo thu nhập. Vai trò quan trọng nhất của khu vực kinh tế cá thể
là tự tạo việc làm cho người lao động với lượng vốn rất ít. Nếu như
doanh nghiệp nhà nước chiếm phần lớn các nguồn lực trong xã hội nhưng
chỉ thu hút được 4,8% lực lượng lao động trong cả nước, khu vực kinh tế
cá thể với nguồn lực ít nhưng đã tạo việc làm cho hơn 50% số lao động
hiện có.
Trong khi hệ thống ngân hàng Việt Nam chưa làm tốt
nhiệm vụ huy động tiền nhàn rỗi trong dân, khu vực kinh tế cá thể đã làm
nhiệm vụ đưa nguồn vốn nhàn rỗi đó lưu thông trong nền kinh tế thông
qua quan hệ họ hàng quen biết. Sự phát triển của kinh tế cá thể và tiểu
chủ tạo ra sự năng động cho nền kinh tế đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã
hội. Tuy nhiên, sự lớn mạnh của khu vực kinh tế này cũng thể hiện sự
manh mún và trình độ phát triển thấp của nền kinh tế Việt Nam.
Cùng với các chủ trương chính sách ngày càng cởi mở
hơn của Nhà nước, khu vực kinh tế tư bản tư nhân ở Việt Nam đã dần dần
xuất hiện và ngày càng khẳng định vai trò của nó trong quá trình phát
triển kinh tế. Hiện nay, Khu vực này cung cấp tổng vốn khoảng 57,3 nghìn
tỉ đồng, chiếm khoảng 26,3% tổng vốn đầu tư toàn xã hội (2003). Trong
những năm gần đây, khi nguồn vốn đầu tư nước ngoài bị giảm sút, sự lớn
mạnh của khu vực tư nhân đã bổ sung kịp thời nguồn vốn bị thiếu hụt và
giữ vững đà phát triển kinh tế của đất nước. Mặc dù mới được khuyến
khích phát triển, khu vực kinh tế tư bản tư nhân đóng góp khoảng 4% GDP
năm 2003, tạo ra khoảng 1,8 triệu lao động, gần bằng số lao động làm
việc trong khu vực doanh nghiệp nhà nước.
Kinh tế tư bản tư nhân góp phần đẩy nhanh quá trình
công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước thông qua việc nâng cao tỷ lệ
tích luỹ và đầu tư, phân phối và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực kinh
tế, tăng sức cạnh canh trong nền kinh tế, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy
tiến bộ khoa học công nghệ để hội nhập kinh tế quốc tế (Nguyễn Thanh
Tuyền, 2002, tr.214). Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực tư bản
tư nhân luôn tăng cao hơn so với tốc độ tăng của ngành công nghiệp trên
cả nước. Kinh tế tư bản tư nhân đóng góp khoảng 20-30% tổng kim ngạch
xuất khẩu của cả nước. Trong nhiều lĩnh vực, kinh tế tư bản tư nhân có
khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Bên cạnh đó, khu vực tư
bản tư nhân đã tạo được sức ép cải cách đối với khu vực doanh nghiệp nhà
nước. Sự xuất hiện của tư bản tư nhân ở nhiều ngành, lĩnh vực tạo ra
môi trường cạnh tranh buộc doanh nghiệp nhà nước phải nâng cao hiệu quả
để có thể tồn tại và phát triển.
Thành phần kinh tế tư bản nhà nước đóng vai trò nhất
định trong nền kinh tế. Khu vực kinh tế tư bản nhà nước góp khoảng 4%
cho GDP hàng năm. Đây chưa phải là con số không lớn so với sự đóng góp
của các khu vực kinh tế khác nhưng sự ra đời của khu vực kinh tế này có
nhiều ý nghĩa gián tiếp, thúc đẩy quá trình cải cách kinh tế của Việt
nam. Trong thời kỳ đầu thu hút đầu tư nước ngoài, khu vực này là đường
dẫn cho đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đồng thời là kênh truyền dẫn
những kiến thức quản lý và công nghệ, tạo lên tác động tích cực đối
doanh nghiệp nhà nước đối tác trong liên doanh.
Một trong những thành phần kinh tế không thể thiếu
trong quá trình mở cửa và hội nhập của Việt Nam là khu vực kinh tế có
vốn ĐTNN. Từ năm 1987 đến nay, vị trí của khu vực này trong nền kinh tế
ngày càng được cải thiện và đóng vai trò ngày càng quan trọng. Đến năm
2003, cả nước có trên 4.500 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp
giấy phép với tổng số vốn đăng ký là 42 tỉ USD, trong đó vốn thực hiện
25 tỉ USD, chiếm khoảng 18% trong tổng vốn đầu tư phát triển của nền
kinh tế. Khu vực này đã đóng góp khoảng 14% GDP (2002). Khu vực kinh tế
này thường đầu tư vào các ngành kinh tế có công nghệ cao, hiện đại, theo
định hướng xuất khẩu. Năm 2003, nếu tính cả dầu thô, xuất khẩu của khu
vực ĐTNN đạt khoảng 7,5 tỉ USD, chiếm trên 50% tổng kim ngạch xuất khẩu
của cả nước. ĐTNN hiện đang thu hút trên 45 vạn lao động làm việc trực
tiếp trong các doanh nghiệp và hàng chục vạn lao động làm việc trong các
khu vực xây dựng, cung ứng dịch vụ với gần 10.000 cán bộ quản lý và 5
vạn cán bộ kỹ thuật (xem bảng 3).
Bảng 3 : Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong phát triển kinh tế Việt Nam
|
Một số tiêu chí
|
1992
|
1996
|
2000
|
2001
|
2002
|
|
Tổng vốn FDI (triệu USD)
|
492
|
2518
|
2043
|
2300
|
1333
|
|
Tỷ trọng trong tổng đầu tư (%)
|
21,0
|
28,6
|
18,6
|
18,3
|
18,8
|
|
Đóng góp cho GDP (%)
|
2,0
|
7,4
|
13,2
|
13,7
|
13,9
|
|
Tỷ trọng xuất khẩu trong tổng giá trị xuất khẩu (không kể dầu khí, %)
|
5,3
|
23,4
|
22,2
|
24,0
|
30,0
|
|
Tỷ trọng trong tổng lao động (%)
|
0,4
|
0,7
|
0,95
|
1,17
|
1,22
|
|
Đóng góp vào tổng thu ngân sách nhà nước( Không kể dầu khí, %)
|
-
|
4,8
|
5,2
|
6,0
|
6,0
|
Nguồn: Dinh Van An, Vo Tri Thanh, Dang Thi Thu Hoai, 2003
Kinh tế có vốn ĐTNN còn góp phần rất lớn vào ổn định
kinh tế vĩ mô, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá và
hiện đại hoá và thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt
Nam. Khu vực này hướng vào sản xuất, kinh doanh hàng hoá và dịch vụ xuất
khẩu, hàng hoá và dịch vụ có công nghệ cao. Phần lớn các ngành có công
nghệ cao, hiện đại đều do doanh nghiệp có vốn ĐTNN chiếm giữ như khai
thác dầu khí, lắp ráp ô tô, xe máy, công nghiệp điện tử, thiết bị văn
phòng. Năm 2002, khu vực có vốn ĐTNN chiếm 100% sản xuất dầu thô, hơn
90% sản xuất và lắp ráp ô tô, máy giặt, điều hoà nhiệt độ, hơn 80% trong
sản xuất và lắp ráp xe máy và ti vi, 60% sản lượng thép cán, v.v.
Theo Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010,
trong 5 năm 2001-2005, Việt Nam sẽ phải thu hút khoảng 9 – 10 tỉ USD.
Tuy nhiên, từ đầu năm 2001 đến tháng 8 năm 2003, cả nước mới thu hút
được khoảng 4,58 tỉ USD vốn ĐTNN. Nguyên nhân chính là do mức độ cạnh
tranh trong thu hút nguồn vốn ĐTNN ngày càng gia tăng trong khi môi
trường đầu tư của Việt Nam hiện nay vẫn chưa đủ hấp dẫn và thuận lợi.
Chính sách và cả thể chế ở Việt nam hiện chưa thật rõ ràng, minh bạch,
khó có thể dự đoán được do hay thay đổi. Chính vì vậy đã gây cho nhà đầu
tư nước ngoài tâm lý lo ngại vì môi trường đầu tư không ổn định, còn
nhiều rủi ro. Nhiều lĩnh vực còn hạn chế sự tham gia của ĐTNN như dịch
vụ vận tải nội địa, tài chính – ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, quảng
cáo.
3- Xu hướng và định hướng phát triển
Theo phân tích trên, các thành phần kinh tế vẫn đang
trên đà phát triển. Tiềm năng của mỗi thành phần kinh tế cũng như định
hướng cải cách và chính sách của Nhà nước sẽ có ảnh hưởng nhất định đến
việc định vị các thành phần kinh tế trong tương lai.
Trước hết, đối với kinh tế nhà nước, Nhà nước đã có
những chủ trương cải cách khu vực kinh tế nhà nước theo hướng nâng cao
hiệu quả của khu vực này. Chính phủ đã có chương trình cải cách hành
chính đối với các cơ quan Chính phủ và cải cách hệ thống ngân hàng. Theo
kế hoạch đặt ra, đến năm 2005, số doanh nghiệp nhà nước sẽ giảm xuống
còn 2934 doanh nghiệp. Như vậy, tương lai của khu vực này sẽ phụ thuộc
vào sự thành công của các biện pháp cải cách đồng thời nó cũng sẽ quyết
định phần lớn tốc độ phát triển của nền kinh tế. Kịch bản sáng sủa nhất
là Chính phủ thành công trong việc tạo lập được một khu vực kinh tế nhà
nước, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo dựa vào thực
lực của mình. Khi đó, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước gắn liền với
tính hiệu quả của khu vực này và của cả nền kinh tế. Để có được kịch
bản này đòi hỏi nỗ lực và sự quyết tâm rất lớn của Nhà nước cùng với
những chính sách cải cách hợp lý và không khéo. Trong quá trình này, hai
vấn đề cần phải lưu ý là vừa nâng dần sức ép cạnh tranh đối với khu vực
kinh tế nhà nước đồng thời tạo một khoảng thời gian nhất định để khu
vực này làm quen với môi trường cạnh tranh và tự đứng trên đôi chân của
mình. Đối với những lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác có thể tham
gia thì trong dài hạn việc mở rộng dần sự tham gia của nhiều thành phần
kinh tế là hết sức cần thiết. Đối với các lĩnh vực mà các thành phần
kinh tế khác không muốn tham gia hoặc không được tham gia cũng cần phải
có cơ chế, tạo môi trường cạnh tranh hoặc ít nhất là có cơ chế giám sát
quá trình cải thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Trong trường hợp không đạt được kịch bản nêu trên,
nếu kinh tế nhà nước vẫn tiếp tục đóng vai trò chủ đạo trong sự bao bọc
của Nhà nước thì chủ trương hội nhập thành công kinh tế quốc tế và đuổi
kịp các nước trong khu vực sẽ gặp nhiều khó khăn. Một mặt, nền kinh tế
sẽ khó có thể phát triển nhanh và bền vững do nguồn lực của Nhà nước
tiếp tục tập trung vào những lĩnh vực hoạt động kém hiệu quả. Mặt khác,
hiệu quả thấp của các dịch vụ cơ sở hạ tầng, thuộc kinh tế nhà nước, sẽ
làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ Việt
Nam nói chung. Bản thân doanh nghiệp nhà nước nếu không hoạt động hiệu
quả hơn và nâng cao sức cạnh tranh của mình thì sẽ có nguy cơ bị loại bỏ
trong quá trình cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thương trường toàn
cầu.
Đối với thành phần kinh tế tập thể, khu vực kinh tế
này vẫn chưa tìm được một mô hình hoạt động hiệu quả và hấp dẫn sự tham
gia của các thành viên trong xã hội. Số lượng các HTX mới thành lập hiện
nay không nhiều. Vì vậy, để có thể đạt được mục tiêu đặt ra (cùng với
kinh tế nhà nước giữ vai trò nền tảng trong nền kinh tế) khu vực HTX còn
phải tiếp tục có những bước tìm tòi và chuyển đổi mạnh mẽ. Tương lai
của khu vực kinh tế tập thể phụ thuộc vào sự thay đổi mô hình tổ chức và
quản lý HTX.
Khu vực kinh tế cá thể mặc dù hiện nay rất phổ biến
trong nền kinh tế, nhưng trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt,
nhất là trên qui mô toàn cầu thì khu vực này khó có thể cạnh tranh được
với các công ty lớn và sẽ phải có những bước phát triển mới. Về bản
chất, đây là khu vực kinh tế sở hữu tư nhân có qui mô nhỏ. Như vậy,
trong tương lai, khi Việt Nam trở thành một nước công nghiệp hiện đại
cạnh tranh toàn cầu, một bộ phận của khu vực kinh tế cá thể đầy tiềm
năng này sẽ là nguồn lực dồi dào, mở rộng qui mô khu vực kinh tế tư bản
tư nhân. Nền kinh tế có môi trường kinh doanh lành mạnh là tạo điều kiện
cho khu vực kinh tế này phát triển chuyển đổi từ khu vực kinh tế cá thể
tiểu chủ thành kinh tế tư bản tư nhân.
Bản thân khu vực kinh tế tư bản tư nhân hiện cũng
đang còn nhiều tiềm năng và trên đà phát triển. Bằng chứng rõ nhất là
chỉ trong gần 4 năm thực hiện Luật Doanh nghiệp (2000-7/2003), số vốn tư
bản tư nhân đã tăng lên 145.000 tỉ đồng, cao hơn vốn đầu tư nước ngoài
cùng kỳ và tăng gấp 4 lần số vốn đăng ký của khu vực tư bản tư nhân giai
đoạn 1991-1999 và tăng gần gấp đôi về số doanh nghiệp đăng ký (Bộ Kế
hoạch và Đầu tư, 2003). Tiềm năng này còn lớn hơn khi nhìn vào khu vực
kinh tế cá thể khá đồ sộ mà rất có khả năng sẽ chuyển thành kinh tế tư
bản tư nhân nếu có môi trường kinh doanh thuận lợi. Tuy nhiên, sự phát
triển của kinh tế tư bản tư nhân hiện nay còn bị cản trở và hạn chế bởi
những nhận thức chưa rõ ràng về vai trò của kinh tế tư bản tư nhân nói
riêng và khu vực tư nhân nói chung trong phát triển kinh tế thị trường
định hướng XHCN. Những vấn đề lý luận chưa được sáng tỏ về kinh tế thị
trường định hướng XHCN dẫn đến tâm lý chưa yên tâm để tư bản tư nhân
phát triển hết tiềm năng.
Có nghiên cứu cho rằng, trong tương lai thành phần
kinh tế TBNN sẽ phát triển mạnh hơn do: (i) các thành phần kinh tế khác
muốn liên doanh với kinh tế nhà nước để tìm chỗ dựa cho phát triển để
yên tâm phát triển lâu dài; (ii) Nhà nước có thể định hướng phát triển
khu vực tư nhân thông qua liên doanh và liên kết với khu vực này (Nguyễn
Thanh Tuyền, 2002, tr.264). Trường hợp này rất có thể xảy ra nhất là
trong bối cảnh khu vực kinh tế nhà nước được hưởng nhiều ưu đãi và là
thành phần được Nhà nước chăm sóc và nuôi dưỡng nhiều nhất. Hơn thế nữa,
hiện nay chúng ta đang có chính sách thúc đẩy cổ phần hoá doanh nghiệp
nhà nước.
Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN sẽ tiếp tục chiếm giữ vị
trí quan trọng trong nền kinh tế. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội
nhập kinh tế quốc tế, khu vực này sẽ hoà quyện dần với các khu vực kinh
tế khác trong nước khi Nhà nước đang có chủ trương xây dựng mặt bằng
pháp luật chung cho cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài.
4- Kết luận
Phân tích và đánh giá ở trên cho thấy, trong bối cảnh
hội nhập kinh tế quốc tế và sự thiếu hụt nguồn vốn cho phát triển ở
Việt Nam, việc huy động mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế là
chiến lược phát triển phù hợp. Các thành phần kinh tế mới như kinh tế tư
bản tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng khẳng định vị
trí của mình trong nền kinh tế. Đảng và Nhà nước có chủ trương phát
triển kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế và kinh tế
nhà nước cùng với kinh tế tập thể trở thành nền tảng của nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này hiện nay vẫn là mong muốn.
Trong thời gian tới, các thành phần kinh tế có thể
cạnh tranh và hợp tác cùng phát triển, bổ sung lẫn nhau, tạo thành mạng
liên kết sản xuất, tận dụng kinh tế theo qui mô và tăng hiệu quả của cả
nền kinh tế. Nếu kinh tế nhà nước đảm nhận những ngành chủ chốt, cạnh
tranh với các tập đoàn lớn trên thế giới, thì kinh tế tiểu chủ cá thể
đảm nhiệm những hoạt động kinh tế phụ vụ cho các nhu cầu tiêu dùng trong
nước và những thị trường ngách. Nếu kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
tập trung vào những ngành hiện đại, giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
nhất là những khu vực thành thị và nơi có cơ sở hạ tầng tốt và thuận lợi
thì khu vực kinh tế tư nhân và tập thể có thể phát huy khả năng trong
những khu vực nông nghiệp nông thôn và những vùng miền núi khó khăn.
Trong nền kinh tế hội nhập toàn cầu, doanh nghiệp nhà nước, tư bản tư
nhân, tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là những trụ
cột giúp nền kinh tế cạnh tranh trên thị trường thế giới và giúp nước ta
trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Các thành phần kinh tế khác
vẫn tồn tại như một thực tế khách quan, xuất phát từ đặc trưng của nền
kinh tế Việt Nam cũng như văn hoá Việt nam, đáp ứng nhu cầu đa dạng của
xã hội, bổ sung và phối kết hợp với các trụ cột trên tạo thành một nền
kinh tế phát triển lành mạnh và đa dạng.
Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là
chủ trương đúng đắn và phù hợp với qui luật và xu hướng phát triển hiện
nay. Các thành phần kinh tế đều có những vai trò nhất định với những ưu
thế riêng, tạo dựng nên một nền kinh tế có sức mạnh. Tuy nhiên, phân
tích trên chỉ ra rõ ràng rằng để kinh tế Việt Nam có thể phát triển cao
và bền vững, việc xây dựng các chính sách không nên phân chia theo các
thành phần kinh tế. Hơn thế nữa, tới đây, chúng ta đang có chủ trương
xây dựng Luật Doanh nghiệp chung cho các loại hình doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế và Luật Đầu tư chung cho cả đầu tư trong nước và
đầu tư nước ngoài thì giới hạn về sở hữu sẽ không còn là cơ sở trong
hoạch định chính sách kinh tế. Việc tạo lập một nền kinh tế mà mọi thành
phần đều khẳng định vai trò của chúng thông qua kinh doanh và cạnh
tranh lành mạnh với nhau sẽ mang lại chất lượng tăng trưởng và hiệu quả
cao hơn cho toàn bộ nền kinh tế./.
Phụ lục:
Một số số liệu thống kê về vai trò của các thành phần kinh tế
Bảng 1: Cơ cấu vốn đầu tư phát triển theo thành phần kinh tế, %
(Giá thực tế)
|
1996-2000
|
2001
|
2002
|
2003
|
|
Kinh tế Nhà nước
|
54,6
|
58,1
|
56,2
|
56,5
|
|
Kinh tế ngoài quốc doanh
|
23,8
|
23,5
|
25,3
|
26,7
|
|
Kinh tế có vốn ĐTNN
|
21,6
|
18,4
|
18,5
|
16,8
|
|
Tổng
|
100
|
100
|
100
|
100
|
|
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2003
|
|
Bảng 2 : Đóng góp cho tổng thu nhập ngân sách của các thành phần kinh tế
|
|
2000
|
2001
|
2002
|
2003
|
|
Tổng thu ngân sách, tỉ đồng
|
90749
|
103888
|
105200
|
123700
|
|
Thu từ DNNN
|
19692
|
23149
|
24600
|
29335
|
|
Thu từ DN ĐTNN, không kể dầu thô
|
4735
|
5702
|
6400
|
8600
|
|
Thu từ công thương nghiệp dịch vụ ngoài quốc doanh
|
5802
|
6723
|
7400
|
9000
|
|
Tỷ trọng trong tổng thu ngân sách, %
|
|
|
|
Thu từ DNNN
|
21,70
|
22,28
|
23,38
|
23,71
|
|
Thu từ DN ĐTNN, không kể dầu thô
|
5,22
|
5,49
|
6,08
|
6,95
|
|
Thu từ công thương nghiệp dịch vụ ngoài quốc doanh
|
6,39
|
6,47
|
7,03
|
7,28
|
|
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2002
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Đồ thị: Tỷ trọng doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế theo một số chỉ tiêu chủ yếu năm 2002
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2003
[1] Ví dụ xem Nguyễn Đình Nam, 2001; Phạm Quang Phan, 2002; Nguyễn Kế Tuấn, 2002; v.v.
[2] Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX. Nxb CTQG-HN 2001, tr.87.
[3] Theo định nghĩa sử dụng trong tài khoản quốc
gia Việt Nam thì cổ phần của Nhà nước trên 50% và người đầu tư nước
ngoài nhỏ hơn 10%, Vũ Quang Việt, 2001
[4]Theo định nghĩa sử dụng trong tài khoản quốc
gia Việt nam là doanh nghiệp có ít nhất 10% vốn nước ngoài hợp doanh với
nhà nước hoặc tư nhân trong nước, Vũ Quang Việt, 2001.
SOURCE: Tham luận tại Hội thảo “Phát triển kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay: thực trạng và giải pháp” – CIEM - TS. LÊ XUÂN BÁ – VIỆN QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG
Trích dẫn từ: http://ciem.org.vn/home/vn/home/InfoDetail.jsp?area=1&cat=19&ID=928